Chương Il: Khảo sát việc trích tuyển và giảng day văn bản văn học Sách giáo khoa văn học 12 ~ tập | (Phần văn học Việt Nam) Chương III: Khảo sát việc trích tuyển và giảng dạy văn bản văn học Sách giáo khoa văn học 12 - tập 2 (Phần văn học nước ngoài và lý luận văn học) SVTH: Hẻ Nguyễn Bích Thủy Trang 5 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS TRINH SAM - NOI DUNG SVTH: Hồ Nguyễn Bich Thủy Trung 6 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS TRINH SAM CHUONG I | LY THUYET ĐẶC TRUNG VAN BAN VAN HOC SGK SVTH: Hồ Nguyễn Bích Thủy Trang 7 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS TRỊNH SÂM I.Đặc trưng ngôi ngữ sách giáo khoa Từ năm 2000, BGDĐT đã đưa sách giáo khoa văn học chỉnh lý hợp nhất vào giảng dạy ở trường phổ thông. Để xây dựng được nội dung dạy học, các nhà nghiên cứu và biên soạn đã dựa vào Hay nguyên tắc sau: - Nguyên tắc mục tiêu: dựavào + Định hướng xã hội chủ nghĩa + Định hướng nhân văn + Định hướng kinh tế xã hội + Định hướng phát triển - Nguyên tắc cân đối + Cân đối về khối lượng nội dung + Về trình độ và nội dung trương trình + Về cấu trúc và nội dung dạy học - Nguyên tắc khả thi ( tính vừa sức, có phù hợp với thực tế không, mối liên hệ giữa nội dung đạy học, cách trình bày nội dung trong sách giáo khoa với phương pháp dạy học của giáo viên ) Đảm bảo những nguyên tắc trên, ngôn ngữ sách giáo khoa có Bông đặc trưng sau: l. Tính khoa học Vì sách giáo khoa biên soạn cho học sinh trong cả nước học tập, tạo diéu kiện thuận lợi cho giáo viên giảng dạy được tốt nên ngôn ngữ sách giáo khoa đòi hỏi phải mang tính khoa học. học trong sáth giáo khoa xét về mặt xã hội thì đó là những tri thức khoa học.
Nó mang đến cho học sinh nhiếu kiến thức bổ ích, mới lạ nhưng gần gũi, góp phan mở rộng nhân sinh quan và thế giới quan cho học sinh, giúp học sinh nắm rõ đước sự phong phú, đa dạng của văn học nước nhà đồng thời góp phần phát triển nhân cách cho học sinh. Những điều ấy đòi hỏi văn bản văn học sách giáo khoa phải mang tỉnh khoa học. Tính khoa học trong ngôn ngữ sách giáo khoa được thể hiện ở những điểm sau: 1.1 Ngôn neữ sách giáo khoa mang tính khoa ho nh xác rõ ran - Ngôn ngữ mang tính khoa học có nghĩa là nó phải đảm bảo tính chính xác, minh bach, rõ ràng - Sử dụng chính xác các thuật ngữ khoa học. Có sử dụng chính xác thì học sinh mới nắm rõ được các khái niệm khoa học, nội dung của các thuật ngữ đó để có thể sử dụng nó thật chính xác.
Sai lầm trong dùng thuật ngữ khoa học không chỉ là sai lầm về từ ngữ mà còn sai lầm về - nội dung khoa học. SVTH; Hồ Nguyễn Bích Thủy Trang 8 Luận van tốt nghiệp " GVHD: PGS.TS TRỊNH SÂM - Từ ngữ thường sử dụng thường phải trung hoà về sắc thái biểu cảm vì đặc trưng của khoa học là nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan bằng tư duy logic, bằng khái quát hoá và trừu tượng hoá. Yêu cầu phản ánh hiện thực một cách khách quan, nghiêm ngặt trong khoa học, không cho phép sử dụng yếu tố đánh giá có tính chất tình cảm mang đấu ấn chủ quan. Riêng đối với văn bản văn hoc, để cho cách trình bày thêm sức hấp dẫn, thuyết phục, người ta vẫn dùng ngôn ngữ có sắc thái biểu cảm.
- Ngôn ngữ sách giáo khoa nếu mang tính chính xác, minh bạch, rõ ràng sẽ dễ tác động đến tư duy, nhận thức của học sinh 2 Ngô ` „tro Ngôn ngữ sách giáo khoa phải chuẩn mực. Nó đòi hỏi độ chính xác theo một khuôn khổ. quy tắc nhất định. Trước hết đó phải là ngôn ngữ toàn dân.
, - Ngôn ngữ sách giáo khoa phải trong sáng. “ Tiếng việt ta rất giàu và đẹp" ( PV Đồng ), đa dạng, phong phú, nhiều tầng nghĩa có thể vận dụng trong mọi tình huống. Song đối với sách. giáo khoa, đối tượng là học sinh đang ở độ tuổi tư duy nhạy bén, phát triển thì ngôn ngữ phải trong sáng, giản di, dé hoc, dễ hiểu, dễ tiếp thu.
Trong sáng tức là không bị lẫn bởi ngôn ngữ ngoại lai, phd hợp với lứa tuổi, phản ánh chính xác tri thức, gần gũi, dé hiểu đối với học sinh, Không những học sinh tiếp thu ngôn ngữ trong sáng ấy mà còn phải biết vận dụng vào những tình huống cụ thể trong sinh hoạt, hằng ngày, trong khi làm văn, biết gạn đục, khơi trong ngôn ngữ tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ. Tính su phạm Đối tượng của việc nghiên cứu, cảm thụ các văn bản văn học sách giáo khoa đó là giáo viên, học sinh. Hoạt động dạy và học này dién ra trong một môi trường sư phạm trong đó sự phát triển tư duy, nhận thức của chủ thể học sinh là hết sức quan trọng và là vấn để khoa học. Vì vậy ngôn ngữ sách giáo khoa đòi hỏi phải mang tính sư phạm cao.
Tính sư phạm được thể hiện ở những đặc điểm sau: 2.1 Ngôn ngữ mang tính mẫu muc, muc thước : - Ngôn ngữ trong văn bản sách giáo khoa phải mang tính khuôn mẫu, tuyệt đối. Điều này giúp học sinh tránh khỏi sự hoang mangkhi gặp các thuật ngữ, các nhận định. tư tưởng trong sách giáo khoa. Những nhận định ấy phải mẫu mực, chính xác có độ tin cậy cao thì mới gieo vào tâm hồn học sinh để học sinh có thể vận dụng được hết trong quá trình học tập.
SVTH: Hồ Nguyễn Bích Thủy a Trang 9 Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS TRINH SAM Ngôn ngữ trong văn bản văn học SGK phải mang tính giáo duc cao. Chính ngôn gữ ấy phản ánh một quá trình vận động, sáng tạo của văn học, Qua các văn bản SGK, học sinh rút tỉa ra được những tri thức cần và đủ cho mình, cảm nhận được cái hay, cái đẹp của cuộc sống muôn màu muôn vẻ trong tác phẩm, cảm nhận được thế giới chủ quan của nhà nghệ sĩ, đồng thời rút ra được những bài học bổ ích cho mình làm hành trang bước vào đời 2.2 Muôn ngữ phù hợp với lita tuổi s - Với lứa tuổi học sinh cấp II ( từ 16 — 18 ) - lứa tuổi đang phát triển, lớn dan về tư duy và nhận thức. Ở độ tuổi này, các em phan nào đã hình thành cho mình một nhận định về cuộc sống, chiếm lĩnh thế giới khách quan. Do đó để phù hợp với lứa tuổi học sinh, ngôn nhữ văn bản VHSGK cũng phải trong sáng, giản di, phù hợp.
- Việc đưa vào nhữngnhận định trong SGK phải như thế nào để đủ hiểu, đồng thời phải vừa sức không quá khó. Tuy nhiên cần có hướng để học sinh tự tư duy, đi tìm tri thức, phát huy tinh thần sáng tao tim tòi của học sinh. - Ngôn ngữ biểu cảm, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi. Diéu này cũng thể hiện trong việc đưa các bài văn, thơ, chương trình phân môn phù hợp với lứa tuổi và trình độ tư duy cho các em.
_„ VD: chương trình văn 12: do lứa tuổi các em lớn, trưởng thành người biên soạn có thể đưa vào chương trình những tác phẩm mang tính chất triết lý nhân sinh ( về cuộc sống, tình yêu, hôn nhân gia đình.) : hoặc những vấn để lý luận văn học cao hơn chương trình văn 10,11 2.3 Ngôn ngữ mang tính cấp bậc - Như đã trình bày ở trên, với mỗi cấp lớp, ngôn ngữ và việc trích tuyển văn bản VHSGK phải phù hợp với độ tuổi của học sinh. Như thế, ngôn ngữ SGK mang tính cấp bậc để dé dàng cho học sinh trong việc cảm thụ. - _ Việc trích tuyển văn bản văn học phải mang tính kế thừa. Giai đoạn phát triển của văn học như thế nào thì đưa vào giảng dạy cũng theo tuần tự như thế ấy.
Đảm bảo được tính kế thừa và cấp bậc như vậy sẽ làm cho tư duy học sinh phát triển theo tuần tự từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ khái quát hoá đến cụ thể hoá, trừu tượng. Đặc điểm phong cách Tén tại trong SGK, nổi bật có hai phong cách chính sau: 1. Phong cách khoa hoc - Thé hiện lời thuyết minh của người biên soạn sách. Đó là những ý kiến chủ quan ( có thể là tổng hợp từ các ý kiến khác nhau ) dựa trên SVTH: Hồ Nguyễn Bích Thủy Trang 10 Luận van tốt nghiệp GVHD: PGS.TS TRINH SÂM những tư liệu chuẩn sẵn có về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, lịch sử phát triển của văn học VN ( xã hội, văn học ).
Đó là phan tiểu dẫn. phần chú thích và câu hỏi hướng dẫn tiếp thu học bài. - Những phần này đòi hỏi người biên soạn phải dim bảo đúng với phong cách khoa học ( ré ràng, chính xác, mjnh bạch, vé cách thức, phương tiện diễn dat.) đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức, tiếp thu nhanh, dé hiểu, dé vận dụng. Phong cách nghệ thuật Đó là phan văn bản nim phía dưới phần tiểu dẫn và trên phan chú thích.
Đây là tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ. Có thể là tác phẩm nguyên vẹn nhưng có thể là trích một phần tác phẩm ( và nhan dé do người biên soạn đặt ). Nhưng dù ở dạng nào thì nó vẫn đảm bảo phong cách nghệ thuật ( tính thắm mĩ, tính hình tượng và tính riêng về phong cách cá nhân ). Vài nét về chương trình sách giáo khoal12.
- Đây là cấp lớp cuối cùng của PTTH, chuẩn bị tâm thế cho học sinh bước vào ngưỡng cửa đại học. Chương trình văn 12 góp phần đào tạo, bổi dưỡng học sinh thành những con người Việt Nam có đạo đức, tác phong và lối sống lành mạnh,vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vừa tiếp thu được những thành tựu, tỉnh hoa về văn hoá, khoa học trên thế giới. Đồng thời phải đặc biệt chú ý đến những giá trị nhân văn cho học sinh những kiến thức về lý luận khoa học. - _ Với tinh thần trên, chương trình văn 12 gồm những nội dung sau: s Sách giáo khoa 12/1 gồm: - Văn học Việt Nam từ đầu TK XX đến CMT8 1945 (tiếp theo ) - Van học Việt Nam từ CMT8 đến 1975 " Sách giáo khoa 12/2 gồm: - - Văn học nước ngoài ( từ TK XIX ) với các tác giả Nga, Trung Quốc, Pháp, Mĩ.