CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỢI QUANG TINH THỂ 1. Lịch sử phát triển Sợi tinh thể quang tử (PCF) là sợi có cấu trúc tuần hoàn được làm bằng các ống nhỏ (như ống mao dẫn). Những lỗ trống được chứa đầy không khí và nó có hình dạng giống mạng lục giác. Ánh sáng có thể truyền dọc theo sợi bên trong những lỗ khuyết của cấu trúc tinh thể, một lỗ khuyết được tạo ra là do có sự dịch chuyển của một hay nhiều tâm của ống nhỏ.
Ý tưởng về sợi tinh thể quang tử đầu tiên được đưa ra bởi Yeh và các cộng sự [1] năm 1978. Họ đã bọc lõi của sợi bằng lưới Bragg (Bragg grating), nó tương tự như tinh thể quang tử một chiều. Sợi tinh thể quang tử được chế tạo bằng tinh thể quang tử với lõi không khí được phát minh bởi P. Russell năm 1992 và sợi tinh thể quang tử đầu tiên được báo cáo trong hội nghị về sợi quang (OFC) năm 1996.
Bảng dưới trình bày tóm tắt quá trình phát triển của sợi tinh thể quang tử. Bảng tóm tắt quá trình phát triển của sợi tinh thể quang tử 1978 Ý tưởng về sợi Bragg. 1992 Ý tưởng về sợi tinh thể quang tử với lõi không khí. 1996 Chế tạo sợi đơn mode bọc bằng quang tử (photonic).
1997 Ra đời sợi tinh thể đơn mode liên tục. 1999 Sợi tinh thể quang tử với quang tử có dải vùng cấm và lõi không khí. 2000 Sợi tinh thể quang tử khúc xạ kép ở mức độ cao. 2000 Thế hệ sợi tinh thể siêu liên tục.
2001 Chế tạo thành công sợi Bragg. 2001 Sợi tinh thể lasẻ với hai lớp sơn phủ. 2002 Sợi tinh thể với sự tán sắc siêu phẳng. 2003 Sợi Bragg với silica và lõi không khí.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Mặt cắt của mẫu PCF lõi đặc Hình 1.2 Mặt cắt sợi PCF lõi rỗng đầu tiên có đường kính lỗ khí là 300 nm với Λ = 4,9 μm và đường kình lõi d và khoảng cách giữa 2 lỗ liền kề là 2,3 = 14,8μm [2] μm [2]. Cấu tạo sợi quang 1. Sợi quang thông thường Sợi quang thông thường là một ống dẫn sóng điện môi, hoạt động tại tần số quang. Cấu tạo cơ bản của một sợi quang thông thường có dạng hình trụ tròn, bao gồm hai lớp chính là lớp lõi sợi có chiết suất n1 và lớp vỏ sợi bao bọc quanh lõi có chiết suất n2 (hình 1.
Ánh sáng truyền trong sợi quang dựa trên nguyên lý phản xạ toàn phần. Chiết suất lớp vỏ ngoài cùng phải nhỏ hơn chiết suất lớp lõi (n2 < n1). Theo nguyên lý, lớp vỏ không có vai trò trong việc truyền ánh sáng trong sợi, nhưng nó được sử dụng cho một số mục đích như giảm suy hao tán xạ, cũng như hấp thụ tại bề mặt lõi, cải thiện đặc tính dẫn sóng trong sợi quang Hình 1.3 Cấu tạo sợi quang thông thường Ngoài hai lớp cơ bản lõi và vỏ sợi, sợi quang sử dụng trong thực tế còn được bọc thêm một hoặc một vài lớp bọc đệm bằng vật liệu polyme có tính đàn hồi cao nhằm mục đích gia tăng độ bền cho sợi quang và giảm các khuyết tật trên bề mặt sợi quang, đảm bảo khả năng sử dụng trong môi trường thực tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Sợi tinh thể quang tử (PCF) Sợi tinh thể quang tử (PCF - Photonic Crystal Fiber) là sợi quang được chế tạo dựa trên tính chất của các tinh thể quang tử (Hình 1. Tính chất đặc biệt của sợi là có khả năng giam ánh sáng bên trong vùng lõi (điều này là không thể đối với sợi quang thông thường) [2, 6].4 (a) Sợi PCF cấu trúc lõi rỗng; (b) Sợi PCF lõi đặc, (c) Tham số mạng PCF cơ bản là sợi được chế tạo từ hợp chất silica đóng vai trò vật liệu nền. Trong vật liệu nền đó có các lõi rỗng hay các lỗ khí (air hole) chạy song song với trục của sợi như là ống mao dẫn. PCF khác với các sợi quang thông thường ở đặc điểm là lõi vỏ của sợi đều được làm từ cùng một vật liệu.
Các tính chất đặc biệt của sợi quang tử được bắt nguồn từ sự có mặt của các lỗ khí, chúng đóng vai trò như một lớp vỏ có cấu trúc tinh thể hai chiều. Một số tính chất sợi quang 1. Tán sắc trong sợi quang Khi một xung sáng ngắn truyền qua một sợi quang sẽ xuất hiện hiện tượng dãn rộng hay mở rộng xung sáng ở đầu thu. Các xung lân cận sẽ mở rộng và chồng lên nhau không phân biệt được các xung với nhau nữa.
Nó sẽ dẫn đến hiện tượng méo tín hiệu trong sợi dẫn quang. Hiện tượng mở rộng xung sáng này chính là do sự tán sắc. Sự tán sắc trong sợi quang sẽ hạn chế cự ly truyền dẫn cũng như tốc độ truyền dẫn của sợi. Ta nhớ lại rằng tán sắc là hiện tượng chiết suất n của môi trường phụ thuộc vào bước sóng hay tần số của ánh sáng tới.
Điều đó cũng có nghĩa các bước sóng hay tần số khác nhau sẽ có tốc độ khác nhau trong sợi quang. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Có năm loại tán sắc trong sợi quang đó là: - Tán sắc mode (mode dispersion) - Tán sắc vật liệu (material dispersion) - Tán sắc dẫn sóng (wave-guide dispersion) - Tán sắc phi tuyến (Higher - order - Dispersion) - Tán sắc mode phân cực (Polarization - mode dispersion) 1. Tán sắc mode: Tán sắc mode xảy ra trong sợi quang đa mode do sự khác nhau về tốc độ nhóm của những mode. Nó không có trong sợi đơn mode, chỉ có ở sợi đa mode.
Tán sắc mode chỉ phụ thuộc vào kích thước sợi, đặc biệt là vào đường kính lõi sợi. Nguyên nhân gây tán sắc mode trong sợi đa mode là do các thành phần sóng sáng trong xung sáng lan truyền theo các đường đi khác nhau nên có sự chênh lệch về thời gian truyền và gây ra sự mở rộng xung sáng, làm méo xung sáng. Thời gian lệch giữa các tia sáng truyền nhanh nhất và chậm nhất là: L(n1 n2 ) t (1.1) C Các sợi đa mode với chiết suất giảm dần (MM-GI) thì các tia sáng chạy ở vùng ngoài sát mép lõi sẽ có tốc độ nhanh hơn ở tâm của lõi nhưng vì đường đi của nó dài hơn nên cuối cùng các mode đi tới máy thu ở gần cuối sợi quang với thời gian gần như nhau. Tán sắc mode của sợi (MM-GI) đa mode chiết suất giảm dần là rất nhỏ so với sợi SI (chiết suất bậc) Trường hợp tham số mặt cắt có g = 2 thì thời gian chênh lệch giữa tia nhanh nhất và chậm nhất là: L 1 t .2) c 2 Tán sắc mode rất nhạy cảm với sự thay đổi của chiết suất.
Sự thay đổi chiết suất phụ thuốc vào tham số mặt cắt g. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Với sợi có chiết suất biến đổi dạng gần parabol (ứng với g = 2) thì sẽ có sự tán sắc mode bé nhất. Do đó độ rộng bằng truyền dẫn sẽ lớn nhất. Khi g thì sợi GI chuyển thành sợi SI và như vậy tán sắc của sợi SI lớn hơn tán sắc của sợi GI (chiết suất biến đổi).
* Tán sắc tốc độ nhóm: Ta khảo sát một sợi quang học đơn mode có chiều dài L. Một thành phần L phổ tần số ω đạt tới đầu ra của sợi với thời gian trễ T vg ở đây vg là tốc độ nhóm, được xác định nghĩa là: d vg (1.3) d với là hằng số truyền được xác định bởi: = nhd k0 = nhd c Sự phụ thuộc bước sóng của tốc độ nhóm đã dẫn tới sự mở rộng xung, một cách đơn giản là do những thành phần phổ khác nhau của xung đã tán sắc trong thời gian truyền và đã không tới được đầu ra của sợi quang một cách đồng thời. Nếu là độ rộng phổ của xung sáng, độ mở rộng của xung được cho bởi: dT d L 2 d 2 T L L 2 (1.4) d d vg d 2 d 2 ở đây 2 là thông số tán sắc tốc độ nhóm GVD. d 2 xác định xung sáng sẽ mở rộng như thế nào trên đường truyền trong sợi quang.
Thông số tán sắc bậc cao hơn được xác định cũng bằng cách tương tự: d 3 d 3 3 (1.5) d d 3 3 là thông số bậc ba. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong hệ thông tin quang, sự mở rộng tần số thường được xác định bởi khoảng cách được phát bởi nguồn quang học. 2 c 2 Do vậy, khi sử dụng: và 2 Ta sẽ có: 2 c T ( ) 2 L DL (1.7) 2 Gọi là thông số tán sắc toàn phần. Đơn vị đo của D là ps/km.nm Tán sắc D có thể được viết như tổng của hai số hạng D = DM + Dw Với DM là tán sắc vật liệu DW là tán sắc dẫn sóng 1.
Tán sắc vật liệu (Material dispersion) Do chiết suất của vật liệu thuỷ tinh dùng làm sợi quang phụ thuộc vào bước sóng của ánh sáng n() chính là nguyên nhân gây nên tán sắc vật liệu. Các nguồn phát quang dùng trong thông tin quang như LED hay LD Laser Diode) đến bức xạ ra một vạch phổ có độ rộng với 0 là bước sóng trung tâm. Như vậy, bức xạ của LED là phổ bức xạ gồm vô số vạch phổ và phổ của LD cũng bao gồm nhiều vạch phổ nằm giữa hai bước sóng.8) 2 2 Giá trị độ rộng phổ tương đối là: 0, 05 và 0, 01 0 0 LED 0 LD Đối với thuỷ tinh dùng làm sợi quang, tán sắc vật liệu gần như bằng không tại bước sóng 1300 nm. Khi truyền qua sợi quang độ dài L thì hai sóng sáng 1 và 2 có tốc độ truyền nhóm vn (1) và vn (2) sẽ có thời gian truyền nhóm lệch nhau là: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 1 1 tn L vn (1 ) vn (2 ) Người ta dựa vào định nghĩa về hệ số tán sắc vật liệu đặc điểm như sau: d 2 n(0 ) DM DM ( ) [Ps/km.