CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu trên thế giới 1. Những nghiên cứu về rừng khộp - Cấu trúc quần thụ Ogawa và cộng sự (1961) thực hiện nghiên cứu bước đầu về thảm thực vật của Thái Lan đã chia rừng khộp thành ba kiểu quần thụ chính [28]: (1) Quần thụ Cà chit-Cẩm liên thường phân bố ở sườn đồi dốc, những nơi có nhiều đá sỏi, granít-gneiss hoặc bazan. Đất nói chung lẫn sỏi, cát và laterit.
Đặc trưng bằng ưu thế hai loài Shorea obtusa và Shorea siamnensis với thảm cỏ dày, rải rác có các loài Cycas siamnensis, Zizyphus và Cratoxylum. Hai loài cuối là những loài cây bụi có gai đặc trưng cho khô hạn. (2) Quần thụ Dầu đồng-Dầu trà beng phân bố trên những diện tích lượn sóng nhẹ ở độ cao thấp hơn quần thụ Cà chí-Cẩm liên. (3) Quần thụ hỗn hợp rừng khộp với thành phần các loài Dầu đồng, Dầu trà beng, Cà chít và Cẩm liên.
Bốn loài này hỗn giao đều với nhau và không có loài ưu thế rõ rệt Kutintara (1975) nghiên cứu các kiều quần thụ và mối quan hệ với môi trường của rừng khộp ở huyện Hot, tỉnh Chiangmai phía bắc Thái Lan đã phân rừng khộp ở vùng này thành 6 kiểu ưu hợp dựa vào tầm quan trọng của loài ưu thế [27]: (1) Ưu hợp Cẩm liên-Cà chít: kiểu ưu hợp này chiếm ưu thế ở đất có tầng mỏng lẫn đá trên sườn dốc ở vùng có độ cao thấp, Cẩm liên là cây chiếm ưu thế quan trọng nhất. (2) Ưu hợp Dầu đồng-Cà chít: phân bố ở vùng đất thấp, có hàm lượng kali cao với có hoặc không có tầng lateric hóa. c 4 (3) Ưu hợp Dầu đồng-Dầu trà beng. (4) Ưu hợp Dầu đồng-Thông nhựa.
(5) Ưu hợp Dầu trà beng-Cà chít thấy ở độ cao lớn trên đất có hàm lượng kali thấp. (6) Ưu hợp Dầu trà beng-Thông nhựa xuất hiện ở độ cao lớn. Bunyavejchevin (1983) nghiên cứu cấu trúc quần thụ của rừng khộp ở miền Bắc, Tây bắc và miền Tây Thái Lan đã chia thành 5 kiểu ưu hợp dựa vào các loài ưu thế chính [24]: (1) Ưu hợp Cẩm liên, được chia thành hai kiểu phụ: kiểu phụ dạng cây bụi và kiểu phụ dạng cây vừa. (2) Ưu hợp Cà chít chiếm ưu thế trên các lập địa dốc nhẹ đến dốc vừa ở nơi cao hơn ưu hợp Cẩm liên.
Đất dưới kiểu ưu hợp này biến động từ đất sét cát đến đất thịt cát, hàm lượng chất hữu cơ và nitơ thấp. Ưu hợp này cũng chia thành hai kiểu phụ: kiểu cây bụi và kiểu cây vừa. (3) Ưu hợp Dầu trà beng-Cà chít chiếm lĩnh các sườn dốc ở cùng một độ cao với ưu hợp Cà chít, một vài lâm phần có thể ở độ cao cao hơn. Kiểu ưu hợp này có thành phần loài phong phú hơn và thường ở trên đất sét với hàm lượng chất hữu cơ và nitơ cao và tỷ trọng hạt thấp.
(4) Ưu hợp Dầu đồng-Cà chít phân bố ở độ cao thấp hơn trên các lập địa chứa hydro cũng là môi trường thích hợp cho kiểu ưu hợp này. Cây trong kiểu ưu hợp này lớn hơn các kiểu ưu hợp khác. Đất thường là sét, có hàm lượng calcium cao nhưng chất hữu cơ và nitơ thấp. (5) Ưu hợp Thông-Cây họ dầu cấu tạo bằng các cây vừa đến lớn phân bố từ độ cao vừa đến cao.
Đất cát với hàm lượng calcium cao ở tầng mặt. Kiểu ưu hợp này có thể chia thành 4 kiểu phụ, trong đó có kiểu ưu hợp phụ Dầu đồng-Cà chít-Thông nhựa ở độ cao vừa, dốc mạnh. c 5 Nghiên cứu về cấu trúc, tốc độ hình thành khoảng trống và chu kỳ tầng tán, tác giả Siripa Nilroungo (1986) đã tiến hành nghiên cứu tại Trạm nghiên cứu môi trường Sakaerat, Pak Thong Chai, Nakhon Ratchasima từ tháng 212/1985 trên 4 ô tiêu chuẩn (1ha/ô) tại 4 ưu hợp cho kết quả như sau [30]: Cấu trúc theo chiều thẳng đứng được chia làm hai tầng cho cả 4 ưu hợp. Chiều cao của tầng thứ nhất lần lượt lớn hơn 10,5 m, 13 m, 10,5 m và 14 m ở ưu hợp 1, 2, 3 và 4.
Những loài ưu thế ở tầng thứ nhất tương ứng cho ưu hợp 1, 2, 3 và 4 là Shorea floribunda, Shorea obtusa, Shorea obtusa và Shorea siamensis. Ở tầng thứ hai là Shorea floribunda, Shorea obtusa, Shorea obtusa and Shorea floribunda lần lượt cho ưu hợp 1, 2, 3 và 4. Năm loài cây quan trọng là Shorea floribunda, Quercus kerrii, Pterocarpus macrocarpus, Shorea obtusa and Xylia xylocarpa đối với ưu hợp thứ nhất (Shorea floribunda-Quercus kerrii) trong khi Shorea obtusa, Shorea siamensis, Pterocarpus macrocarpus, Xylia xylocarpa, Mangifera caloneura đối với ưu hợp 2 (Shorea obtusa-Shorea siamensis); Shorea obtusa, Pterocarpus macrocarpus, Sindora maritima, Dipterocarpus intricatus, Morinda coreia đối với ưu hợp 3 ( Shorea obtusa-Pterocarpus macrocarpus); và Shorea siamensis, Shorea floribunda, Quercus kerrii, Pterocarpus macrocarpus, Sindora maritima với ưu hợp 4 (Shorea siamensis- Shorea floribunda). Trữ lượng tính cho mỗi ha tại ưu hợp 1, 2, 3 và 4 lần lượt là 98, 82, 110 và 105 m2.
Tỷ lệ cây chết trung bình là 0,38%, 0,88%, 0,58% và 0,77% tương ứng tại ưu hợp 1, 2, 3 và 4, lỗ trống do cây chết tạo ra là 0,360,73%, 0,500,10%, 0,511,02% và 0,420,84% cho mỗi ha ở ưu hợp 1, 2, 3 và 4. Chu kỳ của tầng tán trong rừng được tính từ tỷ lệ hình thành khoảng trống là 122244 năm, 81162 năm, 79158 năn và 100199 năm đối với ưu hợp 1, 2, 3 và 4. - Tái sinh c 6 Nghiên cứu về tái sinh rừng khộp tại Sakaerat -Pak Thong Chai-Nakhom Ratchasina trên 4 ưu hợp (subcommunity type): (1) Shorea floribunda - Quercus Kerrii; (2) Shorea obtusa - Shorea siamesis; (3) Shorea obtusa - Pterocarpus macrocarpus; (4) shorea floribunda - Shorea siamensis. Tác giả Duangdao Faidang (1988) đã tiến hành điều tra những cây có đường kính ≤ 4,5 cm và xác định các chỉ tiêu là tên loài, mạng hình phân bố, đường kính sát gốc tại 3 thời điểm [25], lần đầu tiên đo vào cuối mùa mưa (10/1986), lần 2 đo vào đầu mùa mưa năm sau (4/1987), lần 3 đo vào cuối mùa mưa năm sau (9/1987) và đưa ra kết luận như sau: Các chỉ số về sinh trưởng cũng như số lượng cây tái sinh tăng nhanh vào cuối mùa mưa và giảm dần vào mùa khô.
Sinh trưởng của những loài cây ưu thế tái sinh tại hai ưu hợp của Cà chít (Shorea obtusa) cũng như hai ưu hợp còn lại là tương tự nhau. Tại lần đo đếm thứ nhất và 3 có tổ thành cây tái sinh giống nhau và khác với lần đo đếm thứ 2. Loài cây tái sinh ưu thế có sự sai khác với tầng cây cao. Như tại ưu hợp Shorea obtusa- Shorea siamesis thì cây tái sinh ưu thế tại lần 1 và 3 là Shorea obtusa, Cratoxylum formosum và lần 2 là Shorea obtusa, xylia xylocarpa; tại ưu hợp Shorea obtusa- Pterocarpus macrocarpus thì cây tái sinh ưu thế tại lần 1 và 3 là Shorea obtusa, Pterocarpus macrocarpus và lần 2 Shorea obtusa, Albizia odoratissima.
Những nghiên cứu về cây họ Dầu Tác giả Cronquist (1981) phân chia họ Dầu (Dipterocarpaceae Blume) thành 3 phân họ sau [12]: c 7 * Dipterocarpoideae: bao gồm các loài gặp ở vùng nhiệt đới châu Á và Malesia, đặc trưng bởi bao phấn đính gốc, lá đài cùng phát triển thành cánh, bầu 2 hoặc 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 2 noãn. * Monotoideae: có các loài của nhiệt đới châu Phi và Mađagaxca, có các bao phấn lắc lư, lá đài ít phát triển cùng và chỉ đôi khi thành cánh, bầu có 2 ngăn và ít khi 4 ngăn với 12 noãn mỗi ngăn. * Pakaraimoideae: đặc hữu của vùng cao Guayana, nhiệt đới Nam Mỹ, gần gũi với họ phụ Monotoideae nhưng có cánh hoa ngắn hơn lá đài và không có cuống hoa lưỡng tính, bầu có 4 tới 5 ngăn, mỗi ngăn có 2 hoặc 4 noãn. Lá đơn, mọc cách, lá kèm phát triển để bảo vệ chồi và cành lá non có lông bao phủ.
Hoa tự chuỳ, cánh hoa dài hơn lá đài và có lông tơ ở các mức độ khác nhau, có 3 hoặc 5 cánh đài phát triển thành cánh trên quả. Bao phấn thường có hai túi phấn, bầu 3 ngăn, mỗi ngăn mang 2 noãn. Đặc trưng của cây họ Dầu châu Á là sự có mặt của ống nhựa trong gỗ. Kostermans (1985) mô tả cây họ Dầu châu Á thường có 15 nhị và chúng sắp xếp thành 2 vòng [26], 5 nhị vòng trong và 10 nhị vòng ngoài.
Vòi nhị ngắn, thường phẳng. Bao phấn thường có 4 ngăn và nhẵn. Những nghiên cứu về Dầu đồng và Cà chít - Phân loại, hình thái Theo Roxb, Dầu đồng có tên khoa học là Dipterocarpus tuberculatus thuộc chi Dipterocarpus Gaertn, họ Dipterocarpaceae Blume [4]. Theo kết quả nghiên cứu về hình thái hoa của Dầu đồng, tác giả Presert Sornsathapornkul và Jintana Bupabanpot (2002) thì Dầu đồng thuộc hoa đầy đủ c 8 [29].
Chùm hoa có tới 4 nhành, 5 cánh đài và 5 cánh tràng, nhị từ 28 tới 68 và mọc vòng quanh nhuỵ. Bầu nhuỵ chia thành 3 thuỳ, mỗi thuỳ mang 2 noãn. -Tái sinh Sự phát triển của hoa Dầu đồng được tác giả Presert Sornsathapornkul và Jintana Bupabanpot (2002) nghiên cứu tại rừng khộp [29], trạm bảo tồn gene Inthakil, huyện Maetaeng, tỉnh Chiangmai trên 10 cây có hoa nhiều và khả năng đậu quả cao và cho kết quả: mùa ra hoa từ giữa tháng 2 tới cuối tháng 3, hoa phát triển trong khoảng từ 15 tới 20 ngày, hoa bắt đầu nở từ 8 tới 9 giờ đêm và quá trình thụ phấn diễn ra tới sáng hôm sau, khả năng thụ phấn thành công thấp và chỉ đạt 5,6%. Những nghiên cứu ở Việt Nam 1.
Những nghiên cứu về rừng khộp - Thảm thực vật Thành phần rừng khộp xét về loài đơn giản hơn nhiều so với rừng thường xanh. Cho đến nay đã ghi nhận được 68 họ, 204 chi và 309 loài thực vật, Vũ Biệt Linh và cộng sự (1988) [10]. Trong đó có 98 loài cây gỗ, 46 loài cây bụi, gỗ dạng bụi và dây leo thân gỗ, 168 loài cỏ và cây nửa bụi nhỏ. Có 54 loài cho gỗ to và trung bình, quan trong nhất có 4 loài đặc trưng chỉ mọc trong rừng khộp đó là: Dầu trà beng, Dầu đồng, Cẩm liên và Cà chít.
Một số loài cây gỗ họ Dầu và không họ Dầu có số lượng cá thể ít hơn, đang chú ý là: Gõ đỏ (Sindora chochichinenensis), Căm xe (Xylia dolabriformis), Trắc (Dalbergia bariensis), Chiêu liêu (Terminalia sp). Theo tác giả Ngô Tiến Dũng (2004) [7], thảm thực vật Vườn Quốc gia Yok Đôn được phân loại như sau: kiểu rừng kín thường xanh; kiểu rưng thưa nửa rụng lá; kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá (rừng khộp).