CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHA VÀ CHUYỂN PHA 1. Pha và đặc trưng pha 1. Định nghĩa pha Hệ vật lý với các trạng thái khác nhau là một phần thế giới của vật chất mà chúng ta xem xét. Hệ vật lý trong đó các phần của hệ có thể tương tác trao đổi năng lượng với nhau hoặc trao đổi với môi trường xung quanh dưới dạng công hoặc nhiệt lượng được gọi là hệ nhiệt động.
Một hệ nhiệt động được mô tả đầy đủ thông qua tập hợp các trạng thái nhiệt động. Trạng thái của hệ nhiệt động được đặc trưng bởi các hàm trạng thái được gọi là các hàm nhiệt động lực học. Đó là hàm của các biến là các thông số đặc trưng. Các hàm nhiệt động lực học thường được sử dụng là nội năng U, năng lượng tự do Hemholtz F, enthalpy HE, năng lượng Gibbs hay thế nhiệt động G …Chúng là hàm của các tham số áp suất P, thể tích V và nhiệt độ tuyệt đối T của hệ.
Các hàm nhiệt động được biểu diễn theo các thông số áp suất P, thể tích V và nhiệt độ tuyệt đối T của hệ như sau: Năng lượng tự do F = U − TSe .2) Năng lượng tự do Gibbs G = U − TSe + PV = F + PV .3) G Entropy của hệ Se = − .5) T P Đối với vật liệu có trật tự từ hoặc trật tự điện, các hàm nhiệt động còn phụ thuộc vào các tham số trật tự (độ phân cực từ, điện …) và trường ngoài (từ trường, điện trường …). Pha của hệ nhiệt động được đặc trưng bởi tính đồng nhất trong đó các tính chất vật lý và thành phần hóa học tại mọi điểm đều như nhau hoặc nếu có biến đổi thì chúng biến đổi liên tục từ điểm này sang điểm khác [1]. Tính đồng nhất của mỗi pha 6 liên quan đến tính đối xứng nội của hệ nhiệt động trong pha đó. Tính đối xứng được đặc trưng thông qua tham số trật tự.1: Ví dụ về một số pha của vật chất [45].
Các tham số trật tự đặc trưng cho các pha của hệ nhiệt động có thể là mật độ, chiết suất, độ từ hóa, độ phân cực điện … Một số ví dụ về các pha như: “pha rắn, pha lỏng của kim loại và hợp kim, pha sắt từ, thuận từ của các vật liệu từ, pha dẫn điện thường hoặc siêu dẫn của các chất siêu dẫn .1 biểu diễn một số pha khác nhau của vật chất. Chuyển pha và phân loại chuyển pha Hiện tượng chuyển pha xảy ra thường xuyên trong tự nhiên và được ứng dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Chuyển pha là quá trình biến đổi trạng thái của hệ nhiệt động từ mức độ đối xứng này sang mức độ đối xứng khác hình thành tính chất mới của hệ. Chuyển pha thường xảy ra dưới sự tác động của các tham số điều khiển như các đại lượng vật lý : nhiệt độ, áp suất, trường ngoài … Ví dụ một số loại chuyển pha như chuyển pha rắn – lỏng, lỏng – hơi [46] hay chuyển pha sắt từ - thuận từ [2] dưới tác động của nhiệt độ….
Tại điểm chuyển pha, trạng thái của hệ có thể thay đổi một cách liên tục hoặc thay đổi một cách đột ngột nhưng đối xứng tại điểm chuyển pha bao giờ cũng thay đổi dạng nhảy bậc. 7 Để nghiên cứu về quá trình chuyển pha, chúng ta thường bắt đầu bằng ứng dụng phương pháp nhiệt động lực học. Chúng ta sẽ mô phỏng hệ nhiệt động bằng một hệ lý tưởng tuân theo các nguyên lý nhiệt động lực học như nguyên lý bảo toàn năng lượng, nguyên lý tăng entropy của một hệ cô lập, nguyên lý thứ 3 của nhiệt động học (sự thay đổi entropy của một hệ ngưng tụ bất kỳ trong quá trình đẳng nhiệt thuận nghịch tiến tới 0 khi nhiệt độ tiến tới 0 Kenvin). Vào năm 1910, Kamerlingh Onnes ở trung tâm nghiên cứu vật chất nhiệt độ thấp của trường đại học Leiden, Hà Lan đã có khám phá thực nghiệm quan trọng cho thấy đạo hàm bậc hai năng lượng tự do cho hệ Helium lỏng bị gián đoạn [27], từ đó cung cấp dữ liệu trong việc phân loại đầu tiên về quá trình chuyển pha.
Tiếp sau đó là tập hợp nghiên cứu về Helium trong suốt những năm 1920 và đánh dấu là phát hiện về chuyển pha dị thường trong Helium lỏng của Keesom vào năm 1932 đã đặt ra câu hỏi có bao nhiêu loại chuyển pha và cách phân loại chuyển pha [35]. Năm 1933, Paul Ehrenfest đã đưa ra lý thuyết phân loại chuyển pha đầu tiên. Quá trình chuyển pha có thể chia thành hai loại là: chuyển pha loại I và chuyển pha loại II. ✓ Chuyển pha loại I: Trong chuyển pha loại I, trạng thái của hệ bị biến đổi đột ngột, đạo hàm bậc nhất của hàm thế nhiệt động bị gián đoạn tại điểm chuyển pha.
Chuyển pha loại I có sự sắp xếp lại mạng tinh thể ví dụ như thay đổi góc giữa các mặt tinh thể xảy ra trong khoảng nhiệt độ rất hẹp dẫn đến thay đổi đột ngột đối xứng của vật. Ở chuyển pha loại I, hai pha có thể cùng tồn tại ở nhiệt độ chuyển pha ví dụ nước đá và nước ở 00C hay nước và hơi nước ở 1000C. Trong chuyển pha loại I có gián đoạn về entropy tức là kèm theo ẩn nhiệt. Khi entropy của hệ tăng (thu ẩn nhiệt) thì tính trật tự của hệ giảm và ngược lại.
✓ Chuyển pha loại II: là quá trình chuyển pha mà trạng thái của hệ biến đổi liên tục nên tại điểm chuyển pha các pha không tồn tại đồng thời, hàm thế nhiệt động và đạo hàm bậc nhất của các thế nhiệt động cũng như các hàm trạng thái nhiệt động ví dụ như entropy liên tục nhưng đạo hàm bậc hai của thế nhiệt động thì bị gián đoạn Trong chuyển pha loại II không có ẩn nhiệt và luôn kèm theo sự biến đổi tính trật tự và tính đối xứng của hệ. Do trạng thái biến đổi liên tục nên tại điểm chuyển 8 pha loại II không phân biệt được các pha ở mức độ vĩ mô như chuyển pha loại I. Khi qua điểm chuyển pha loại II, hệ chỉ dịch chuyển qua điểm mà tính chất của các pha và sự phụ thuộc nhiệt độ của các tính chất đó trở nên khác nhau [2].2: Sự biến đổi của năng lượng tự do G, enthalpy HE, entropy Se, thể tích V và nhiệt dung Cp theo nhiệt độ trong trường hợp (a) không có chuyển pha, (b) chuyển pha loại I và (c) chuyển pha loại II [69]. Sự thay đổi của các tham số nhiệt động trong trường hợp không có chuyển pha, chuyển pha loại I và chuyển pha loại II được minh họa trên hình 1.
Cũng theo phân loại của Ehrenfest, tồn tại chuyển pha bậc cao gọi là chuyển pha đa tới hạn hay chuyển pha bậc n. Điểm chuyển pha tương ứng gọi là điểm đa tới hạn. Trong chuyển pha đa tới hạn, các hàm thế nhiệt động thay đổi liên tục khi qua điểm chuyển pha, một số đạo hàm bậc hai và bậc cao hơn của thế nhiệt động theo các thông số trạng thái bị triệt tiêu tại điểm chuyển pha. Tại điểm đa tới hạn có n pha giống nhau không phân biệt được.
Tham số trật tự Vào năm 1937, Landau đã đưa ra khái niệm thay đổi tính đối xứng tại điểm chuyển pha. Trong chuyển pha loại II các đại lượng vật lý vẫn biến đổi liên tục, không có ẩn nhiệt nhưng có sự thay đổi về tính trật tự và tính đối xứng, do đó để mô tả được sự chuyển pha, Landau đã đưa vào khái niệm tham số trật tự (order parameter). Tham số trật tự là đại lượng phản ánh trạng thái của các pha, ký hiệu là η. Ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ chuyển pha, pha có tính đối xứng thấp (pha trật tự) tham số trật tự có giá trị khác 0 (η ≠0).
Còn ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ chuyển pha, pha có tính đối xứng cao (pha mất trật tự) tham số trật tự bị triệt tiêu (η =0) [1][2]. Tham số trật tự có thể là đại lượng vô hướng, đại lượng vectơ hoặc thậm chí là một tenxơ. Ví dụ tham số trật tự trong các hệ thống từ tính là độ từ hóa (đại lượng véctơ) , trong chất lỏng là mật độ pha lỏng trừ mật độ pha khí (đại lượng vô hướng). Tham số trật tự η thay đổi từ giá trị η = 0 (trạng thái mất trật tự tuyệt đối) đến η = 1 (trạng thái trật tự tuyệt đối).
Khi giảm nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ chuyển pha, hệ thống bắt đầu thay đổi từ trạng thái hỗn độn sang trái thái trật tự một phần. Tiếp tục giảm nhiệt độ xuống thấp hơn nữa, chúng ta có thể đạt được trạng thái trật tự tuyệt đối. Trong chuyển pha loại I, tham số trật tự thay đổi nhảy bậc theo nhiệt độ và biến đổi từ từ trong chuyển pha loại II [2] (xem hình 1.3: Sự phụ thuộc của tham số trật tự vào nhiệt độ trong chuyển pha loại I và chuyển pha loại II [44]. 10 Tuy nhiên có một vài hệ thống, trật tự pha bị ẩn đi và không thể xác định được bản chất của tham số trật tự.
Khi đó chúng ta có thể định nghĩa hàm tương quan của tham số trật tự. Khác với quá trình chuyển pha, các hàm tương quan phân kì theo quy luật hàm số mũ đối với độ dài tương quan và thời gian đặc trưng 𝓉. Khi khảo sát các đại lượng nhiệt động, hàm thế nhiệt động là hàm của áp suất P, nhiệt độ tuyệt đối T, lực suy rộng ℱ và cả biến tham số trật tự η. Áp suất P và nhiệt độ T có giá trị cho trước tùy ý, còn giá trị thực tế của tham số trật tự η phải xác định từ điều kiện cân bằng nhiệt động hay điều kiện cực tiểu năng lượng [2].
Hiện tượng tới hạn Hiện tượng tới hạn là hiện tượng liên hệ với những biểu hiện đặc biệt của vật chất khi ở gần hoặc ở tại điểm chuyển pha liên tục (còn được gọi là điểm tới hạn). Trong nhiệt động lực học, điểm tới hạn là điểm cuối của đường cong cân bằng pha. Điểm tới hạn lần đầu tiên được khám phá vào khoảng hơn 100 năm trước nhưng việc nghiên cứu những biểu hiện ở gần điểm tới hạn chỉ mới xuất hiện gần đây. Trong mỗi trường hợp, tính chất của điểm tới hạn xuất hiện do hệ thống tồn tại những bậc tự do nhất định có những dao động lớn bất thường trên thang bước sóng dài.