Chương 1. TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU vi điện tử truyền qua (Transmission Electron Microscope -TEM), và nhiều thiết bị điện tử khác. Chùm electron được tạo ra từ các ống carbon nano khi va chạm với một bề mặt phủ phosphor sẽ phát ra ánh sáng, được ứng dụng trong các thiết bị quang học. Cường độ sáng của nguồn sáng CNTs gấp hai lần so với các nguồn sáng truyền thống.7 Phát xạ trường [50] 1.2 Vật liệu composit Tính chất cơ học của polymer có thể được tăng cường bằng cách thêm vào vật liệu ống carbon nano.
Rantell và đồng nghệp ghi nhận rằng chỉ cần thêm 1% ống carbon nano thì độ cứng đàn hồi của CNT/polystyrene tăng 25% so với polystyrene thông thường. Còn ống nano đơn vách khi phân tán tốt trong màng composite PVA (polyvinyl acetate) có phủ PVP (polyvinyl pyrrolidone) sẽ giúp tăng cường sức căng cơ học và ứng suất đàn hồi. TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU Hình 1.8 Composite CNTs/polymer 1.3 Transistor Một số nhóm nghiên cứu trên thế giới đã thành công trong việc chế tạo transistor dựa trên một CNTs đơn lẻ. Đây là một trong những đột phá công nghệ trong lĩnh vực điện tử nano.
Transistor có thể được sử dụng trong cảm biến khí có độ nhạy cao hoặc bộ đo biến dạng, cũng như trong sự sắp xếp bộ cộng hưởng như một cán cân nano. Transistor CNTs rất hữu dụng trong việc lọc các tần số thích hợp trong điện thoại di động, vì chúng nhỏ hơn và sử dụng năng lượng ít hơn các bộ lọc tần số thông thường. TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU Hình 0.9 Ống nano cácbon làm transistor 1.4 Đầu dò AFM Bằng cách kết hợp giữa chế tạo vật liệu nano và linh kiện nano với công nghệ dùng chosilicon truyền thống người ta đã phát triển chế tạo quy mô lớn các đầu dò ống nanocarbon (CNTs). Các đầu dò CNTs rất bền, khả năng chịu mài mòn cao, và có khả năng ghi ảnh với độ phân giải cao và kích thước rõ nét.
Đầu dò AFM ống nanocarbon (CNTs) là loại đầu dò mới kích thước nano hiệu suất cao.10 Ống nano cácbon làm ống đầu dò AFM 1.5 Pin giấy Lưu trữ năng lượng là một trong những thách thức lớn trong khoa học và công nghệ để đáp ứng đòi hỏi của nhu cầu cuộc sống. Gần đây, người ta đã bước đầu chế tạo được pin có chứa các ống nano cácbon có thể chứa hàng triệu điện cực trên 1cm bề dày. Các ống nano được gắn trong một tờ giấy ngâm trong chất điện phân lỏng chứa ion có thể dẫn điện. TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU Hình 0.11 Pin giấy dựa trên CNTs 1.2 Các phương pháp tổng hợp ống nano [13, 29] 1.1 Phương pháp Arc-discharge (phóng điện hồ quang)[13, 30, 31] Hồ quang điện là phương pháp đầu tiên được sử dụng để tổng hợp CNTs.
Ban đầu, Sumio Iijima đã dùng phương pháp này để tạo ra MWNT. Phương pháp dựa trên sự bốc hơi của các nguyên tử carbon trong môi trường plasma tạo bởi dòng điện cường độ cao giữa hai cực graphite. Kỹ thuật này cung cấp một nhiệt độ rất cao, cần thiết để làm bốc hơi nguyên tử carbon (> 3000oC). Phương pháp hồ quang điện sử dụng điện thế khoảng từ 20V đến 25V và dòng điện có cường độ lớn từ 50A đến 120A.
Luồng khí trơ như Ar hay He được đưa vào như là một môi trường phản ứng. Áp suất tối ưu để sản xuất CNT vào khoảng 500 đến 1000 torr (fullerene được tạo thành ở áp suất dưới 100 torr). Những thành phần chính bên trong buồng phản ứng gồm 2 cực graphite bố trí cách nhau khoảng xấp xỉ 1 mm. Dòng điện làm bốc hơi graphite tại một cực và tạo sản phẩm tại cực còn lại.
Với phương pháp hồ quang điện có thể tổng hợp được cả MWNT và SWNT. Trong quá trình phản ứng này có thể sinh ra những sản phẩm phụ như carbon whisker, fullerene và muội than. Loại sản phẩm tạo thành được quyết định bởi áp suất và chủng loại khí sử dụng. Hiệu suất tạo CNT phụ thuộc vào sự ổn định của môi trường plasma hình thành giữa hai điện cực, dòng điện, áp suất khí và quá trình làm mát các điện cực.
TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU SWNT có thể được tạo ra với phương pháp này bằng cách thêm vào xúc tác kim loại trên điện cực anode. Để thu được sản phẩm là SWNT riêng rẽ thì những xúc tác thường hay sử dụng là Co, Fe và Ni. Hỗn hợp các xúc tác như Fe/Ni, Co/Ni, Co/Pt được dùng để tạo ra SWNT dạng bó sợi (bundle). Để thu được MWNT, quá trình phản ứng không đòi hỏi có xúc tác.
CNTs được tạo ra trên bề mặt và bên trong cực cathode. Chúng được bao bọc bên ngoài bởi một lớp cứng gồm fullerene và carbon vô định hình. Với phương pháp hồ quang điện, CNT có thể được tổng hợp với hiệu suất cao và chất lượng tốt. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi điện cực graphite phải tinh khiết, xúc tác kim loại (nếu tạo SWNT), và nguồn khí trơ đưa vào cũng phải tinh khiết, do đó giá thành của sản phẩm rất cao.12 Sơ đồ quy trình arc-discharge [13] 1.2 Phương pháp laser ablation (Phân hủy laser)[13, 31, 32] Phương pháp phân huỷ laser cũng dựa trên sự bốc hơi của graphite rắn.
Phương pháp phân huỷ laser đòi hỏi phải cung cấp một nguồn laser dạng xung (pulsed laser) để làm bốc hơi đối tượng (target) graphite. TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU Trong phương pháp này, tia laser làm bốc hơi graphite sẽ được đặt trong một buồng phản ứng được gia nhiệt từ 900oC đến 1200oC. Một dòng khí trơ (có áp suất 500 torr) đưa vào để đẩy sản phẩm CNTs từ vùng nhiệt độ cao đến vùng nhiệt độ thấp (được giải nhiệt bằng đồng) và sau đó được thu gom bên ngoài buồng phản ứng. Nếu sản xuất MWNT thì đối tượng (target) của tia laser là graphite tinh khiết.
Còn nếu sản xuất SWNT thì đối tượng sẽ là hỗn hợp graphite và xúc tác kim loại chuyển tiếp (ví dụ Co/Ni, Ni/Y). Sản phẩm thu được gồm SWNT có dạng những cuộn dây (rope) có đường kính 10 nm đến 20 nm và chiều dài có thể lên đến 100 µm hoặc hơn. Đường kính trung bình của CNT và mật độ phân bố đường kính có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi điều kiện phản ứng hoặc hỗn hợp xúc tác [13].13 Hệ tạo CNTs bằng phương pháp phân ly Laser [29].3 Phương pháp lắng đọng hơi hóa học (CVD) [29] Phương pháp laser và hồ quang điện chủ yếu dựa vào sự bay bốc của các nguyên tử carbon ở nhiệt độ cao. Nhiệt độ cao lại không thích hợp cho việc phát triển CNTs trên bề 22 Chương 1.
TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU mặt. CNTs được tạo ra như những thành phần đứng riêng lẻ. Phương pháp lắng đọng hơi hóa học được chú ý như là một phương pháp sử dụng nhiệt độ trung bình. Vùng nhiệt độ phản ứng không bao giờ vượt trên 12000C.
Phương pháp này được sử dụng đầu tiên vào năm 1993. Năm 1996, Dai trong nhóm Smalley thuộc trường đại học Rice là người thu được SWNT bằng phương pháp CVD [13]. Trong phương pháp CVD, những nguồn hydrocarbon khác nhau bị phân hủy trên những xúc tác khác nhau trong khoảng nhiệt độ từ 5000C tới cao nhất 12000C. Quá trình tổng hợp ống carbon nano bằng phương pháp CVD trải qua những bước khác nhau: • Đầu tiên là quá trình chuẩn bị xúc tác.
• Bề mặt chứa xúc tác được đặt trong lò nung và những hạt xúc tác nano trên bề mặt sẽ thực hiện các phản ứng hóa học. • Cuối cùng, nguồn carbon được đẩy vào lò nung và xuất hiện sự lắng đọng carbon bằng sự phân hủy xúc tác của những phân tử hydrocarbon trên hạt nano kim loại ở nhiệt độ trong khoảng 5000C đến 12000C. Quá trình tổng hợp sẽ tạo nên các nguyên tử carbon tự do nhờ vào quá trình phân hủy nguồn nguyên liệu hydrocarbon được đưa vào dựa trên nhiệt độ và hạt xúc tác. Các nguyên tử carbon tự do sẽ lắng đọng trên bề mặt của xúc tác và hình thành nên các ống nano.
Tùy vào điều kiện phản ứng mà ta thu được ống carbon trên bề mặt các hạt xúc tác kim loại. Xúc tác ở đây thường là các kim loại Fe, Ni, Co,… và các hợp kim của nó được phân tán trên đế Si, Si/SiO2. Quá trình tổng hợp ống carbon nano phụ thuộc vào: nguồn carbon, tốc độ dòng khí, tỷ lệ giữa các khí, chất xúc tác, vật liệu hỗ trợ và nhiệt độ tổng hợp [13]. TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU Hình 1.14 Sơ đồ quy trình CVD Do nhiệt độ cần để tổng hợp thấp và chất lượng ống CNTs dựa vào những kết quả thực tế tốt cũng như độ tinh khiết cao nên phương pháp CVD đem lại nhiều hiệu quả về kinh tế cũng như kỹ thuật.
Do vậy phương pháp CVD ưu việt hơn các phương pháp laser và hồ quang điện. Có nhiều dạng CVDs dùng để tổng hợp CNTs, chúng ta đi vào chi tiết sau: 1.1 Phương pháp Vapour phase growth Phương pháp Vapour phase growth là một phương pháp tổng hợp ống carbon nano, sử dụng trực tiếp khí và hạt xúc tác kim loại trong buồng phản ứng mà không cần đến substrate. Phương pháp này có thể sản xuất CNTs bằng cách nhiệt phân khí hydrocarbon hoặc carbon monoxide khi có xúc tác kim loại dưới dạng nanoparticle. Có hai buồng trong lò phản ứng.
Ở buồng đầu tiên, nguồn khí carbon được duy trì ở nhiệt độ tương đối thấp, xúc tác kim loại được hình thành dưới dạng nanoparticle. Và khi đến buồng thứ hai, nguồn khí carbon được hấp thu và trộn lẫn với xúc tác Tại đây, ống carbon nano được tổng hợp. TỔNG QUAN BÁO CÁO NGHIỆM THU Hình 1.15 Sơ đồ thiết bị Vapour phase growth.2 Plasma enhanced CVD (PECVD) Phương pháp PECVD là một phương pháp khác để tổng hợp nên ống CNTs nhưng khác với các phương pháp khác là có thể lựa chọn vị trí cũng như định hướng sự phát triển của CNTs. PECVD sử dụng năng lượng điện để tạo ra một dòng plasma, vì vậy năng lượng được truyền vào hỗn hợp khí, quá trình này làm hỗn hợp khí biến đổi thành những gốc hoạt động, ion, nguyên tử và phân tử trung hòa.
Những tác nhân mới tạo thành này tiếp xúc với vật chất nền và xảy ra quá trình lắng đọng tại bề mặt chất nền. Bởi vì sự hình thành những gốc hoạt động xảy ra trước đó tại pha khí, nên vật chất nền vẫn có thể được duy trì ở nhiệt độ thấp. Phương pháp này được sử dụng để sản xuất SWNT và MWNT. Những nguồn khí hydrocarbon thường được sử dụng để tổng hợp CNT là C2H2, CH4, C2H6, CO.
Phương pháp này có thể tổng hợp SWNTs và MWNTs.