CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ NHÂN VĂN VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT KHU VỰC 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên – Kinh tế nhân văn Khu vực nghiên cứu thuộc huyện Kbang tỉnh Gia Lai. Phía Tây và phía Nam giáp với các huyện Đắk Đoa, Mang Yang và thị xã An Khê, phía Bắc và phía Đông giáp với các tỉnh Kon Tum và Bình Định (hình 1. Khu vực nghiên cứu thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao và có lượng mưa lớn.
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình năm từ 1. Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 250C. Mạng lưới sông suối trong vùng khá dày, là nơi sông Ba chảy qua (một con sông lớn của khu vực Tây Nguyên).
Từ khi mực nước dâng cao do thủy điện sông Ba đi vào hoạt động, một số vết lộ tiêu biểu đã nằm dưới mực nước của lòng hồ, gây khó khăn trong công tác thực địa. Giao thông đi ạl i trong vùng còn gặp nhiều khó khăn. Có thể tiếp cận trung tâm khu vực nghiên cứu bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. Từ trung tâm Kan Nack đến xã KRoong đã có đường trải nhựa, từ trung tâm xã tới các bản trong khu vực khảo sát chỉ có thể đi bằng đường mòn dân sinh.
Khu vực nghiên cứu là khu vực vùng sâu, vùng xa của huyện Kbang, có điều kiện kinh tế chưa phát triển, tỉ lệ hộ nghèo còn khá cao. Dân cư chủ yếu là người Bana, người Kinh chiếm tỷ lệ nhỏ ,chủ yếu tập trung tại trung tâm xã. Điện lưới quốc gia mới chỉ tiếp cận được phần trung tâm xã. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Viết Tuân Hình 1.1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu [3] 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Viết Tuân 1.
Lịch sử nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu thuộc phức hệ Kan Nack nằm ở phần trung tâm của địa khối Kon Tum. Khu vực có các hoạt động magma - kiến tạo, các quá trình biến chất, khoáng hoá phong phú nên được nhiều nhà địa chất quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Lịch sử nghiên cứu phức hệ Kan Nack và ý nghĩa địa động lực của nó gắn liền với quá trình nghiên cứu địa chất khu vực và được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1975 và giai đoạn từ năm 1975 đến nay. Giai đoạn trước năm 1975 Từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp (1854), thực dân Pháp đã chú ý ngay đến việc tìm kiếm và khai thác các loại khoáng sảnnên việc n ghiên cứu địa chất ở địa khối Kon Tum đã được các nhà địa chất Pháp tiến hành từ rất sớm.
Khởi đầu là công trình thành lậ p “Bản đồ Địa chất Đông Dương” tỷ lệ 1:4. đã thành lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 (tờ Tourane và tờ Huế) trong công trình “Nghiên cứu địa chất vùng Trung kỳ giữa Tourane và sông Mê Kông”. Trong đó, tác giả đã xếp tất cả các hoạt động magma vào chung một phức hệ và phản ánh sơ lược về đặc điểm cấu trúc của vùng[10]. Cấu trúc địa chất khu vực được đi sâu nghiên cứu phục vụ cho công tác điều tra và khai thác khoáng sản từ những năm 20 của thế kỷ trước.
Các công trình về địa chất khu vực đáng quan tâm được xuất bản trong thời gian này có các bản đồ địa chất tỷ lệ khái quát và các chuyên khảo như: Nghiên cứu địa chất bắc Trung bộ và Bắc bộ; Đới Trường Sơn và cao nguyên Hạ Lào; Sơ bộ về địa tầng các hệ tầng Mesozoi và tuổi của các chuyển động chính ở Đông Dương [10]. Đến những năm 1930, các nhà địa chất Pháp thuộc sở Địa chất Đông Dương đã tiến hành thành lập các tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 và các kết quả này đã được tổng hợp đầy đủ trên tờ bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:2.000 cũng như trong chuyên khảo nổi tiếng “Kiến trúc địa chất Đông Dương” [1]. Trong chuyên khảo này, Fromaget J.đã nêu bật sự có mặt của khối nền Indosinia ở toàn khu vực Nam Đông Dương và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Viết Tuân uốn nếp chính ở Đông Dương có tuổi Mesozoi sớm.Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra chuyển động Indosini trên bán đảo Đông Dương kéo dài trên 100 triệu năm trong khoảng tuổi Permi muộn - Jura (240 - 136 triệu năm)[10]. Năm 1942, sở Địa chất Đông Dương cho xuất bản tờ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.
Đây là công trình chuyên về thạch học, trong đó các thành ạo t biến chất được phân chia thành gneis, granitogneis, amphibolit được định tuổi Arkei; các đá phiến mica, pyroxenit, amphibolit, quarzit gneis, pegmatit tuổi Proterozoi; quarzit mica, andezit tuổi Cambri – Silur[10]. Bên cạnh đó, trong giai đoạn này còn có các công trình tiêu biểu như: Bản đồ Địa chất Đông Dương tỷ lệ 1: 2.000;Sổ tay tra cứu địa tầng ba nước Đông Dương; Bản đồ kiến tạo Đông Dương [14]. Đặc biệt, trong những năm 1960, 1970 đã có sự đóng góp đầu tiên của các nhà địa chất Việt Nam như: Bản đồ địa chất miền Nam của Lê Thạc Xinh (1967); Bản đồ Địa chất miền Nam tỷ lệ 1:500.000 của Trần Kim Thạch (1974); các công trình nghiên cứu về thạch học của Tạ Trấn Tấn (1958), Trần Huỳnh Anh (1967, 1969, 1970)[10]. Giai đoạn sau năm 1975 đến nay Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu địa chấtđược tiến hành một cách có hệ thống và tốc độ nhanh để phù hợp với sự phát triểnkinh tế của đất nước.
Các đoàn địa chất được thành lập và tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các đối tượng địa chất trong khu vực. Đáng chú ý là công trình đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng tỷ lệ 1:500.000 do Nguyễn Xuân Bao và các nhà địa chất Đoàn 500 thực hiện trong những năm 1975 - 1978. Thành tựu nổi bật của công trình này là đã xác lập có cơ sở các phức hệ biến chất, trong đó có phức hệ granulit Kan Nack mới được mô tả lần đầu ở địa khối Kon Tum; phân chia và mô tả có hệ thống các thành tạo magma biểu hiện rất phong phú và đa dạng có tuổi từ Arkei đến Đệ Tứ; nêu bật pha kiến sinh đầu Cambri ở địa khối Kon Tum[1]. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Viết Tuân Trong những năm 1980, 1990, hàng loạt bản đồ địa chất các tỷ lệ được thành lập như: Bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1:500.000;Bản đồ địa chất Việt Nam - Lào - Campuchia tỷ lệ 1: 1.
Kết quả đã từng bước làm chính xác hoá thành phần vật chất, tuổi và diện phân bố của các thành tạo địa chất, tuy nhiên không làm đảo lộn khung cấu trúc cơ bản đã được xác lập trong các công trình thực hiện trong những năm cuối 1970. Mặc dù trong thời gian này vẫn còn một số nhà địa chất ủng hộ quan điểm của thuyết địa máng như Trần Văn Trị (1985, 1995) với các khái niệm “đai uốn nếp” hay “đai vỏ lục địa Paleozoi giữa Đà Nẵng - Sepon” và “đai vỏ lục địa Paleozoi muộn” viền quanh “khối lục địa Tiền Cambri”; Lê Duy Bách (1985, 1987, 1989) với quan niệm miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ là “hệ địa máng Kimeri muộn Đà Lạt - Campuchia”[14], nhưng phần lớn các nhà địa chất trong và ngoài nước đã có thiên hướng tiếp thu và vận dụng học thuyết kiến tạo mảng để lý giải các vấn đề về thành phần, cấu trúc và tiến hoá địa chất. Trong giai đoạn thuyết kiến tạo mảng phát triển, đồng thời có nhiều cứ liệu mới về tuổi và mức độ biến chất của các thành tạo trong khu vực như phức hệ Kan Nack, phức hệ Ngọc Linh. cũng như ý nghĩa của các thành tạo này trong luận giải bối cảnh địa động lực nên địa chất khu vực đã và đang được nhiều nhà địa chất quan tâm nghiên cứu.
Tiêu biểu có các công trình nghiên cứu sau: Địa chất Việt Nam, tập 1: Địa tầng[5];Nghiên cứu các đá siêu mafic kiềm, xác định tiền đề và dấu hiệu tìm kiếm kim cương ở Tây Nguyên [2]; Kiến tạo và sinh khoáng Nam Việt Nam theo quan điểm kiến tạo mảng nhằm thành lập các bản đồ tương ứng tỷ lệ 1:500. Đặc biệt, những công trình nghiên cứu chuyên sâu gần đây như:Bước đầu nghiên cứu thạch luận các đá biến chất nhiệt độ cao và siêu cao ở địa khối Kon Tum [10]; Hoạt động biến chất siêu cao Permi -Trias: Va chạm lục địa ở địa khối Kon Tum [6]; Một số đặc điểm thạch học và lịch sử biến chất của các granulit nhiệt độ siêu cao ở địa khối Kon Tum [7]; Hoạt động biến chất áp suất cao ở địa khối Kon Tum và ý nghĩa địa động lực [8]; Biotit nhiệt độ cao trong granulit thuộc phức hệ Kan Nack ở địa khối Kon Tum và ý nghĩa của chúng [28]; Charnockit nhiệt độ siêu 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Viết Tuân cao ở địa khối Kon Tum và ý nghĩa địa động lực trong quá trình tạo núi Indosini [16];Tiến hóa biến chất của granulit phức hệ Kan Nack và quá trình tạo núi Indosini [15]; Thạch luận các đá biến chất hệ tầng Khâm Đức và ý nghĩa địa động lực [14], đã làm rõ hơn về đặc điểm các đá biến chất cao ở địa khối Kon Tum trong quá trình tạo núi Indosini. Chính sự phức tạp về chế độ động lực của khu vực, cũng như chịu ảnh hưởng của rất nhiều các pha biến chất, biến dạng khác nhau trong lịch sử tiến hoá đã dẫn đến sự phức tạp về thành phần và diện phân bố của các đá biến chất ở địa khối Kon Tum nói chung và ở phức hệ Kan Nack nói riêng. Điều này gây rất nhiều khó khăn trong công tác khảo sát địa chất, tìm kiếm mẫu xác định chính xác các tổ hợp cộng sinh khoáng vật đặc trưng cũng như xác định tuổi đồng vị cho các đá của phức hệ.
Do vậy, việc nghiên cứu các thành tạo của phức hệ này nhằm xác định chính xác điều kiện biến chất và bối cảnh địa động lực khu vực hiện vẫn đang tiếp tục được tiến hành. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.