Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY VẢI 1. Những nghiên cứu về nguồn gốc, phân bố Cây vải có nguồn gốc ở vùng giữa miền Nam Trung Quốc, bắc Việt Nam và bán đảo Malaysia và đã được trồng cách đây trên 3. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, người đầu tiên trồng cây vải là người Malay cổ đại sau đó du nhập vào Trung Quốc [26].
Có học giả vẫn ngờ rằng cây vải không bắt nguồn từ Trung Quốc với lý do “chưa thấy có cây vải hoang dại” (A. De Candalle: origin of cultivated plants, 1904, Đôn Thuần Bản pp 314-315) (trích theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần [14]). Nhưng thực tế, nhiều tài liệu Trung Quốc [18], [15], [19] cho biết có nhiều nơi cây vải mọc dại như ở núi Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng Đông; Thạch Phương Sơn, huyện Bác Bạch, tỉnh Vân Nam. Từ Tường Hạo và Cộng sự căn cứ điều tra thực địa và từ góc độ lịch sử, hình thái và đặc trưng quần lạc sinh thái đã kết luận: Đảo Hải Nam có cây vải dại.
Ngoài ra ở Dương Xuân, Hoá Châu, Liêm Giang và trên sáu vạn núi lớn ở vùng giáp gianh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của Quảng Tây. đều có cây vải dại chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [14]. Theo FAO (1989) [26], tài liệu đầu tiên viết về cây vải đã ghi lại thời gian vào năm 100 trước công nguyên, Hoàng Đế Hán Vũ đã đem vải vào miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Indonexia. Cuối thế kỷ thứ 17, cây vải từ Trung Quốc đầu tiên được đưa vào Mianma, cuối thế kỷ 18 đưa sang Ấn Độ (Singh và singh, 1954), năm 1775 đưa sang quần đảo Tây Ấn, năm 1854 đưa sang Ôxtralia (Queens và Anon, 1962), năm 1870 đưa sang Nam Phi (Meulen, 1957), năm 1873 đưa sang Hawai của Mỹ (Grove, 1952), năm 1886 đưa vào Florida của Mỹ (Barley, 1916).
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, công nhân Hoa Kiều gốc Quảng Đông đưa giống vải vượt qua xích đạo vào Công Gô (Cao Lệ Hoa, 1985) [14]. n 4 Ở Việt Nam, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân bố từ 18 - 190 vĩ Bắc trở ra nhưng chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ [21]. Sử sách đã chép lại rằng cách đây 10 thế kỷ, dưới thời Bắc thuộc, vải (tiếng Hán là Lệ chi) là một trong những cống vật hàng năm Việt Nam phải đem nộp cho Trung Quốc [10], [22]. Cây vải dại đã được tìm thấy ở sườn núi Ba Vì - Hà Tây.
Từ đó, miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nơi nguồn gốc của cây vải [10]. Hiện nay, vải được trồng ở trên 20 nước trên thế giới nhưng chủ yếu phân bố ở Đông Nam Á, châu Đại Dương, các đảo ở Thái Bình Dương, miền Nam châu Phi. Ở châu Á có các nước trồng vải như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Bănglades, Campuchia, Lào, Malaixia, Philippin, Srilanca, Indonexia và Nhật Bản. Ở châu Phi có Nam Phi, Madagasca, Công Gô, GaBông, Mauriti và Rêuyniong.
Châu Đại Dương có Australia và Newzeland. Châu Mỹ có Hundurat, Panama, Cu Ba, Tơrinidat, Puecto, Ricô và Braxin [14, 11-12], [22, 6-14]. Phân loại Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978) [4], Menzel (2002) [32, 8-13] và Hoàng Thị Sản, 2003 [16, 150-151], cây vải có tên khoa học là Litchi chinensis Sonn, là thành viên quan trọng trong họ bồ hòn (Sapindaceae) thuộc bộ bồ hòn (Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae). Họ bồ hòn có 150 chi với trên 2000 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là ở châu Á và châu Mỹ.
ở nước ta, họ bồ hòn được biết đến với 25 chi và trên 70 loài, phân bố trên khắp lãnh thổ. Nhiều loài điển hình cho rừng thứ sinh ẩm nhiệt đới, một số cây trồng cho quả ăn ngon như nhãn, vải, chôm chôm. Về đặc điểm phân loại, cây vải là cây gỗ nhỡ, thường xanh, lá kép lông chim, hoa nhỏ, không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn, vỏ quả mỏng, màu đỏ hồng hay đỏ nâu, mặt ngoài sần sùi, áo hạt ăn hơi chua hay ngọt. Cây vải có 3 phân loài: chinensis ở phía Nam Trung Quốc, Philippennensis ở Philippin và Papua New Guinea; và Javenensis ở Malaya Peninsula và Indonesia.
Phân loài chinensis và Phillipenensis, quả có hình elip nhọn. Khi quả chín, vỏ quả n 5 tách ra, chỉ còn 1 màng mỏng bao phủ lấy hạt vải. Phân loài javenensis, quả của nó cũng tương tự như quả của loài lychee, nhưng vỏ mỏng hơn [25]. Theo Menzel (1998)[31], Cây vải là cây lâu năm.
Cây có thể cao tới 30m. Ở một số giống, các cành bị uốn cong hoặc để thẳng vươn rộng tán cây, trong khi nhưng giống khác các cành thường thẳng và vuông góc. Lá của nó thường nắm đối xứng nhau và có khoảng tử 2 - 5 lá nhỏ. Mỗi lá nhỏ thường dài từ 5 - 15cm.
Cụm hoa có nhiều nụ hoa, mỗi cụm hoa có 1 hoặc nhiều hơn và có thể có tới 3. Các hoa này nhỏ, có màu trắng vàng và có thể là hoa đực, hoa cái hoặc lưỡng tính. Các hoa đực thường có từ 6 - 10 nhị hoa. Trong hoa đực có 2 nhị hoa nằm chồng lên vòng hoa cái, đó là chức năng chính của hoa đực, ngoài ra hoa đực còn có nhiệm vụ mở cánh hoa trong suôt thời gian hoa nở.
Còn 1 loại hoa đực thứ 2 là hoa sơ khai, nó chỉ xuất hiện trong giai đoạn đầu tiên của hoa. Hoa cái có từ 6 - 10 nhụy hoa. Số lượng quả thì biến động, phù thuộc vào mùa vụ. Chúng có hình cầu, hình elip hoăc hình tim có đường kính khoảng 3 - 3.
vỏ quả có thể sần sùi hoặc trơn nhẵn, có thể mỏng hoặc dày, có màu biến động từ màu đỏ hồng, đỏ sang hay đỏ thẫm. Phần thịt qủa nằm ở phía ngoài vỏ bao hạt. Đối với những giống tốt thì phần này có thể chiếm từ 70 - 80% trọng lượng quả. Phần thịt quả có màu trắng, mềm hoăc rắn, có vị ngọt và thơm nếu đó là giống vải tốt.
Rất nhiều giống có thể phân biệt được thông qua mùi và vị của thịt quả. Mỗi quả chứa 1 hạt duy nhất có màu nâu đậm và rộng từ 6 - 12mm, dài từ 10 - 23 mm. Các giống vải chủ yếu trên thế giới và trong nước Hiện tại, Trung Quốc là quốc gia có số lượng giống vải nhiều nhất so với các nước trồng vải khác trên thế giới. Tuy nhiên, trong số hơn 100 giống vải được trồng ở Trung Quốc, chỉ có khoảng 15 giống quan trọng có khả năng sản xuất thương mại.
Mỗi một vùng sinh thái có một giống chủ lực. Ví dụ như giống Wai chee chiếm đa số ở tỉnh Quảng Đông trong khi giống Souey Tung và Haak Yip lại là chủ lực của tỉnh Fujian. Các giống quan trọng khác là Tai So, Chen Zi, Sum Yee Hong, Kwai May và No Mai Chee (Menzel và Simpson, 1986 [30]. Ấn Độ có khoảng 50 giống vải được trồng ở các Bang khác nhau.
Ở Bihar, nơi có diện tích vải lớn của n 6 Ấn Độ, những giống quan trọng là Shahi, Kasba, China, Deshi, Purbi và Muzaffarpur. Giống được trồng phổ biến ở Uttar Pradesh là Dehra Dun. Các giống thường trồng ở Punjap và Haryana là Saharanpur, Dehra Dun, Muzaffapur, Rose Scented, Callcutta và Seedless Late. Những giống cho năng suất và chất lượng tốt của Ấn Độ là West Bengal, Bombai, Elaichi, China và Bedana [24, 559-560].
Ở Australia, những vùng trồng vải tập trung nằm theo dải bờ biển phía Đông từ Cairns, Atherton Tablelands, Ingham, Mackay, Bundaberg đến Coffs Harbour. Các giống trồng chính là Bengal, Tai So, Wai Chee, Kwai may Pink, Salathiel Gee Kee (S. Các giống vải chủ yếu được trồng ở một số nước trên thế giới được trình bày ở bảng 1. Các giống vải chủ lực của một số nước trên thế giới TT Tên nước Giống chủ lực 1 Trung Quốc Fay Zee Siu, Bah Lup, Wai chee, Haak Yip, Sum Yee Hong, Kwai May và No Mai Chee, Souey Tung, Tai So và Brewster 2 Đài Loan Haak Yip, Sah Keng 3 Thái Lan Tai So, Wai chee, Baidum, Chacapat và Kom 4 Ấn Độ Shahi, Rose Scented, Calcuttia, Bedana, Longia và China 5 Madagascar Tai So 6 Nam Phi Tai So, Bengal, 8 Mauritius Tai So 9 Australia Fay Zee Siu, Tai So, Bengal, Wai Chee, Kwai May Pink, và Salathiel 10 Mỹ Tai So và Kaimana Nguồn: Menzel ( 2002)[32] Ở Việt Nam, sự phân chia các giống còn mang tính chất tương đối, xét theo phẩm chất quả, có các nhóm: vải chua, vải nhỡ, vải thiều; xét theo thời gian thu hoạch, có các nhóm vải chín sớm, chính vụ, chín muộn.
Một giống có thể được biết đến với vài tên khác nhau tuỳ theo cách gọi của từng địa phương (Menzel, 1991) (dẫn theo Bose T. Tuy nhiên, hiện nay theo Vũ Mạnh Hải và Nguyễn Văn Dũng (2002), Viện Nghiên cứu Rau quả đã thu n 7 thập và mô tả 33 giống vải được trồng ở các vùng khác nhau, trong đó có 8 giống có triển vọng, đã và đang được phát triển ngoài sản xuất như giống vải thiều Thanh Hà, Hùng Long, Yên Hưng, Bình Khê… 1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ VẢI 1. Những nghiên cứu ngoài nước về tình hình sản xuất và tiêu thụ vải Trên thế giới, diện tích trồng vải năm 1990 là 183.700 ha, sản lượng 251.000 ha với tổng sản lượng đạt tới 1,95 triệu tấn.
Trong đó các nước Đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng 1,75 triệu tấn [23] (chiếm 77% diện tích và 90% sản lượng vải của thế giới). Riêng Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về diện tích và sản lượng vải. Năm 2001, diện tích trồng vải của Trung Quốc là 584.000 ha với sản lượng thu được 958. Trong đó tỉnh Quảng Đông là tỉnh đứng đầu cả về diện tích và sản lượng: 303.200 tấn với các giống chủ lực như: Fay zee siu, Bah Lup, Baitang ying, Haak yip, Kwai May, No Mai Chee và Wai Chee [35], [32, 2].
Ấn Độ là nước đứng thứ 2 về diện tích và sản lượng vải. Theo Ghosh (2000) [27, 5-6], Đến năm 2000 diện tích này đã là 56.200 ha, với sản lượng đạt 428. Vùng sản xuất vải chủ yếu của ấn Độ là Bihar (310.000 tấn), West Bengal (36.000 tấn) và Uttar Pradesh (14. Ngoài ra nó còn được sản xuất ở một số nơi khác như Assam (17.000 tấn), Orissa, Himachal Pradesh, và Nilgiri.
Các giống trồng chủ yếu là Shahi, China, Cancuttia, Bendana, Late bendana và Longia. Theo Minas (2002) [34, 6-7], năm 1999, diện tích vải ở Thái Lan là 22.200 ha, sản lượng 85.