ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những quốc gia có sự đa dạng lớn về hệ chim. Hệ chim của Việt Nam gồm 887 loài thuộc 20 bộ, 88 họ (Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân, 2011). Chim là nhóm động vật dễ quan sát và nhận biết vì phần lớn các loài đều xuất hiện vào ban ngày, các tiếng hót và tiếng kêu đặc trƣng cho từng loài là các đặc điểm quan trọng trong việc phát hiện và nhận biết chúng. Do đó các công trình nghiên cứu về đặc điểm tiếng kêu của các loài cũng góp phần quan trọng trong việc quản lý và bảo tồn đối với mỗi loài.
Gà lôi hông tía và Gà rừng đều có đặc điểm dị hình lƣỡng tính mạnh mẽ, cá thể trống có màu sắc sáng. Gà lôi hông tía đã đƣợc đƣa vào mục IB trong Nghị định 32/NĐ-CP/2006 và thuộc vào phân hạng LR trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007. Do đó nếu không có những biện pháp kịp thời nhằm bảo tồn và phát triển thì loài Gà lôi hông tía thì chúng sẽ có nguy cơ tuyệt chủng trong tƣơng lai. Gà rừng thì hiện nay ở nƣớc ta còn tƣơng đối nhiều và có thể khai thác để cung cấp thêm cho con ngƣời.
Tuy nhiên nếu không có sự quan tâm và bảo vệ thì loài Gà rừng cũng có nguy cơ tuyệt chủng trong tƣơng lai. Để bảo tồn tốt loài Gà lôi hông tía và Gà rừng, bên cạnh việc ngăn chặn các hiện tƣợng săn, bắt, bẫy trái phép và các hoạt động trái pháp luật khác thì cần nghiên cứu xây dựng các giải pháp bảo tồn số lƣợng các cá thể của chúng. Hiện nay có một giải pháp đƣợc nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên và Vƣờn quốc gia thực hiện đó là nuôi nhốt để bảo vệ nguồn gen và số lƣợng cá thể Gà lôi hông tía, Gà rừng. VQG Cúc Phƣơng là một trong những VQG đầu tiên ở Việt Nam có Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật đang nhân nuôi loài Gà lôi hông tía (Lophura diardi) và Gà rừng (Gallus gallus).
Hiện nay đã có một vài nghiên cứu về đặc điểm tiếng kêu của các loài động vật nhƣng chƣa có một nghiên cứu cụ thể về đặc điểm tiếng kêu của loài Gà lôi hông tía (Lophura diardi) và loài Gà rừng (Gallus gallus). Xuất phát từ 1 những vấn đề trên, tôi nhận thấy việc nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu của của Gà lôi hông tía và Gà rừng là cần thiết và cấp bách. Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu của loài Gà lôi hông tía (Lophura diardi) và loài Gà rừng (Gallus gallus) đƣợc nuôi nhốt tại Vƣờn Quốc Gia Cúc Phƣơng”. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thông tin về đặc điểm tiếng kêu của loài trong điều kiện nuôi nhốt và làm cơ sở cung cấp dữ liệu cho các nghiên cứu về loài ở ngoài tự nhiên.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Gà lôi hông tía và Gà rừng thuộc nhóm chim họ Trĩ, nằm trong hệ thống phân loại nhƣ sau: Giới (Kingdom): Động vật (Animal) Ngành (Phylum): Có dây sống (Vetabrata) Lớp (Class): Chim (Aves) Bộ (Order): Gà (Galliformes) Họ (Family): Trĩ (Phasianidea) Giống (Genus): Gà (Gallus) Loài (Species): Gà lôi hông tía (Lophura diardi) và Gà rừng (Gallus gallus). Nguồn gốc và vùng phân bố: Theo Delacour 1997, Gà lôi hông tía và Gà rừng đã đƣợc những bộ lạc nguyên thủy ở Châu Phi, Nam Mỹ và vùng đảo Pacific nuôi dƣỡng và thuần hóa thành Gà nhà và nuôi để làm cảnh. Các loài chim trong họ Trĩ đƣợc liệt vào nhóm chim lông đẹp, chúng sống thành bầy đàn theo kiểu đa thê, chim trống thƣờng đẹp hơn chim mái. Vào mùa sinh sản, chim trống thƣờng khoe mẽ bằng tiếng gáy, dựng mào, xòe đuôi biểu diễn vũ điệu để thu hút chim mái (Tổ chức Biodiversity Philately Vietnam).
Cá thể Gà lôi hông tía đực trƣởng thành có đầu, cằm và họng màu đen. Phần dƣới lƣng có màu vàng kim loại. Trên đỉnh đầu có mào dài (70 - 90mm) thƣờng dựng hơi chếch về phía sau gáy, màu lam ánh thép. Hông và trên đuôi màu đỏ tía ánh thép, lông đuôi, lông bao đuôi dài và cong xuống hình lƣỡi liềm.
Phần còn lại của bộ lông có màu lam ánh thép. Cá thể mái lông màu nâu, mặt bụng có hình vẩy trắng nhạt, đuôi thẳng và tròn. Da trần ở mặt và chân màu đỏ, mắt nâu đỏ. Chim non trƣởng thành bắt đầu sinh sản vào năm thứ ba.
Mỗi lứa đẻ 5 - 6 trứng hình bầu dục một đầu to một đầu nhỏ, vỏ trứng màu hung nhạt hay hơi vàng nhạt. Kích thƣớc trứng: 38 x 48mm. Gà lôi hông tía sống thành đôi hay đàn 3 - 5 cá thể có thể hơn trong các rừng thứ, nguyên sinh, cây bụi, hay ra kiếm 3 ăn ở dọc các đƣờng mòn trong rừng. Thức ăn của Gà lôi hông tía là các loại hạt, quả cây trong rừng; ngoài ra ăn thêm côn trùng, giun đất.
Giống nhƣ các loài Trĩ khác ban ngày kiếm ăn ở mặt đất, ban đêm bay lên cây đậu ngủ. Trong cùng sinh cảnh cũng hay gặp gà lôi hông tía kiếm ăn cùng với Gà tiền mặt đỏ, Gà tiền mặt vàng, Gà so ngực gụ, Gà rừng. Gà rừng có cánh dài 200-250mm, nặng 1 - 1,5kg. Chim đực có lông đầu, cổ màu đỏ da cam, lƣng và cánh đỏ thẫm, ngực bụng và đuôi đen.
Chim mái nhỏ hơn chim đực và toàn thân màu nâu xỉn. Mắt nâu hoặc vàng cam, mỏ nâu sừng hoặc xám chì, chân xám nhạt. Gà rừng thƣờng sống định cƣ và ở trong nhiều kiểu rừng, đặc biệt rất thích ngủ trong các bụi giang, nứa, có nhiều cây đổ ngang. Chúng sống theo đàn và hoạt động vào 2 thời điểm trong ngày là sáng sớm và xế chiều.
Buổi tối Gà rừng tìm đến những cây cao dƣới 5m có tán lớn để ngủ. Gà rừng ăn các loại quả mềm (đa, si.), hạt cỏ dại, cây lƣơng thực, thóc ngô, các loại côn trùng, động vật nhỏ nhƣ kiến, giun, mối, cào cào, châu chấu. Mùa sinh sản của Gà rừng bắt đầu vào tháng 3. Vào thời kỳ này Gà trống gáy nhiều lúc sáng sớm và hoàng hôn.
Một cá thể đực đi với nhiều cá thể mái. Ổ của chúng làm đơn giản ở trong lùm cây bụi, mỗi lứa đẻ 5 -10 trứng, ấp 21 ngày. Trên thế giới Loài Gà lôi hông tía thích sống ở những khu rừng cực kì ẩm ƣớt trên núi đá vôi thấp và trung bình (Delacour 1997) cho nên Gà lôi hông tía có ở Châu Á, Châu Âu, Ceylon, Ấn Độ, Burma, Siam, vùng Đông Dƣơng (trong đó có Việt Nam), cực Nam của Trung Quốc, Malaixia. Chúng thƣờng sống thành từng nhóm nhỏ hay gia đình, gồm một trống và nhiều cá thể mái, nhất là trong mùa sinh sản chúng có thể thích nghi với nhiều môi trƣờng sống từ rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, bụi tre, rừng cây gỗ nhỏ gần chỗ trồng.
Loài Gà rừng thích hợp với sinh cảnh là rừng thứ sinh gần nƣơng rẫy hay rừng gỗ hỗn giao giang, nứa. cho nên chúng đƣơc phân bố nhiều ở Nam Trung Quốc, Bắc Mianma, Lào, Campuchia, Việt Nam. 4 Tạo hóa sinh ra con ngƣời có tiếng nói còn các loài động vật thì đều có những tiếng kêu đặc trƣng, nhờ những tiếng kêu đó mà chúng có thể giao tiếp nói chuyện với nhau. Nhƣng mỗi loài động vật đều có những đặc trƣng tiếng kêu khác nhau, luôn chứa đựng những sắc thái riêng riêng vốn có của nó mà không có loài nào giống loài nào cả.
Chính vì thế mà tiếng kêu của động vật từ trƣớc đến nay luôn là những bí ẩn mà con ngƣời đang muốn đƣợc khám phá và nắm bắt nó. Ở trên thế giới chúng ta đã ghi nhận khá nhiều đề tài nghiên cứu về tiếng kêu của các loài động vật nhƣ: Nhóm nghiên cứu về sự giao tiếp bằng âm thanh của CNPS (Centre de neurosciences de Paris-Sud-trƣởng nhóm là Thierry Aubin) đã tiến hành nghiên cứu về loài chim piha ở Brazil. Bởi vì mỗi cá thể có ký hiệu âm thanh riêng, nên hệ thống đã dựa vào đó để xác định loài chim. Seppo Fagerlund, 1968 đã đề cập đến cấu trúc cơ bản âm thanh của chim cũng nhƣ nguyên tắc âm thanh tạo ra trong cơ chế của chim.
Ngoài ra còn giới thiệu các điệu hót phổ biến và âm thanh phƣơng pháp tạo mẫu có thể đƣợc dùng để phối hợp tạo ra vững chắc trong chim. Busnel, 1963 đã nghiên cứu về đặc tính âm thanh của động vật và xuất bản cuốn Acoustic Behavior of Animals. Cuốn sách đã đề cập đến phƣơng pháp trên ngôn ngữ âm sinh học và kĩ thuật sử dụng cho nghiên cứu vật lí âm sinh học. Feng và các cộng sự, 2006 đã tiến hành thí nghiệm phát lại âm thanh trong môi trƣờng sinh sống tự nhiên của ếch, nhận thức sóng siêu âm từ động vật lƣỡng cƣ và xây dựng mô hình trung bình thính giác - gợi lên tiềm năng (AEP) dữ liệu.
Miguel Martinez Rach và cộng sự, 2013 đã tiến hành nghiên cứu dựa trên sự theo dõi âm thanh của các ấu trùng bên trong loài cây Cọ để phát hiện ra loài mọt Red falm. Kết quả nghiên cứu sẽ đƣợc báo cáo đến trạm kiểm soát để cho các nhà quản lí vƣờn có thể phát hiện ra cây Cọ bị loài mọt tấn công. 5 Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về tiếng kêu của động vật, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn chƣa có một nghiên cứu cụ thể nào. Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh các công trình nghiên cứu khoa học, các dự án, chƣơng trình có liên quan đến tiếng kêu của các loài động vật.
Ở Việt Nam Ở nƣớc ta, Gà lôi hông tía phân bố chủ yếu ở các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Gia Lai, Kontum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Khánh Hoà, Đồng Nai, Tây Ninh của nƣớc ta (Sinh vật rừng Việt Nam). Gà rừng phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi trung du nƣớc ta. Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trƣớc đến nay, một số khu bảo vệ đã đƣợc thành lập trong vùng phân bố của loài gà lôi với mục tiêu bảo vệ các loài này và các loài khác sống trong cùng sinh cảnh đất thấp, nhƣ các khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, Phong Điền, Đa K'Rông, Bắc Hƣớng Hóa. Các khu bảo tồn này đã có những thống nhất trong việc giảm tốc độ mất rừng, nhƣng các mối nguy cơ đối với đa dạng sinh học vẫn hiện hữu, đặc biệt là suy thoái rừng vẫn tiếp diễn và săn bẫy vẫn tràn lan gây nên hiện tƣợng “rừng rỗng” ở một số dịa phƣơng.