CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐÈ ~ Tai sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, nhờ có tái sinh thế hệ cây già cỗi được thay thế bởi cây gỗ non diễn ra ở rừng, nó đảm bảo cho nguồn tái sinh rừng có khả năng tắt sản xuất mở rộng. Những nghiên cứu về Lâm Học đã chứng tỏ các giải pháp phục hồi chỉ có thể được giải quyết thoả đáng khi có sự hiểu biết đầy đủ về b: các quy luật phát triển của rừng, trong đó là quá trình tái sinh và động thái của rừng trong những môi trường khác nhau tự nhiên khác nhau là đặc biệt quan trọng. Những nghiên cứu đặc điểm tái sinh là cơ sở quan trọng để phục hồi và làm giàu rừng. Vì thế tái sinh rừng có ý nghĩa At lớn đối với sự bền vững của hệ sinh thái, cũng như giúp cho việc sử dụng rừng ;lâu dài liên tục.
Vườn Quốc Gia Cúc Phương nằm trên địa giới hành chính của ba tỉnh là Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh`Hóa trong đó diện tích thuộc tỉnh Ninh Bình là 11. Vườn Quốc Gia Cúc Phương được công nhận là khu bảo tồn “hiên nhiên và được thành lập theo Quyết định 72/TTg ngày 7 tháng? năm 1 962: Vườn có tổng diện tích 22.200 ha, chiều dài khoảng 30km, chiều rộng nơi rộng nhất khoảng 10km. Theo thống kê sơ bộ có 2.103 loài thuộc 917 chí, 231 họ của 7 ngành thực vật bậc cao. Trong đó có rất nhi Moai e6 iá trị: 430 loài cây thuốc, 229 loài cây ăn được, 240 loài cây có thuốc chữa bệnh nhuộm, 137 loài cho tanin., 118 loài được ghi Việt Nam va IUCN.
Mặc dù hiện tuorie’ tái sinh lỗ trống trong rừng tự nhiên ở đây đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì các quần thẻ cây rừng, cấu trúc quần xã và tính đa dạng thực vật ctia cdc quan xd trong rừng tự nhiên cho khu vực, tuy nhiên còn quá ít tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu về chúng. Bên cạnh đó, những hoạt động của người dân địa phương: Như phá rừng làm nương rẫy, khai 1 thác gỗ và săn bắt động vật hoang dã, khai thác vàng làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm về số lượng và chất lượng, đe doạ đến tính đa dạng thực vật các quần xã của khu vực. Chính vì lý do trên tôi thực hiện đẻ tài: “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh lỗ trống trong rừng tự nhiên tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉ cung cấp những thông tỉn cơ bản về đặc điểm tái sỉ trống trong rừng tự nhiên, phục vụ cho công tác quản lý, tạo rừng tại “`” CHƯƠNG II TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 2. Trên thế giới Vấn đề tái sinh sớm được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu cả về tái sinh tự nhiên và tái sinh nhân tạo, tái sinh ôn đới và tái sinh hàn đới.
Song do giới hạn của đề tài ở đây xin để cập đến một số công trình nghiên cứu tái sinh ở vùng nhiệt đới có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của khoá luận tốt nghiệp. Trên thế giới việc nghiên-cứu tái sỉnh rừng đã trải qua hàng trăm năm trước đây, những nghiên cứu tái Sinh rừng nhiệt đới chỉ mới bắt đầu từ năm 1930 trở lại đây. A ˆ a Do sự phát triển của công nghiệp ở thế kỷ thứXIX. Khoa học lâm sinh và kỹ thuật sản xuất đã ghi rõ: sự giữ gìn lớp cây con có sức sống cao để khôi phục rừng tự nhiên sẽ giảm bớt chỉ phí cả về nhân lực, tiền vốn và thời gian so với rừng trồng.
Nhưng sau thất bại về tái šĩnh nhân tạo ở Đức và một số nước ở vùng nhiệt đới nhiều nhà khoa học đã đưa ra khẩu hiệu “Hãy trở về với tự nhiên”. j ae A Obrévin (1938) khi nghiên cửu rừng châu phi nhận thấy: cây con của những loài ưu thế trong rừng có thể cực hiếm hoặc vắng hẳn. Đây là hiện tượng không sinh con đẻ cái của cây mẹ trong rừng mưa. Mặt khác trong rừng mưa thì tổ thành rừng thường thay đổi thẽo không gian và thời gian.
Tổ hợp các loài sẽ được thay thé ba ài cây khác hẳn. Nếu xét một diện tích nhỏ tổ hợp loài cây tái sinh TC tnh ất kế thừa. Nhưng nếu xét trong một phạm vi lớn thì tổ hợp các loài câ). s K ,nhau theo phương thức tuần hoàn.
Thành công của A Ôbrêvin đã khẩi quátấtrợc hiện tượng bức khảm tái sinh nhưng phần lý giải của ông còn hạn chế. Ông: coi đó là “Hiện tượng thuần tuý ngẫu nhiên” và không lý giải được nguyên nhân nào hình thành tổ hợp loài tái sinh khác nhau, vì vậy nghiên cứu của ông còn thiếu tính thuyết phục. 'Van Stennit (1956) khi nghiên cứu về rừng mưa đã nhận xét đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến đặc điểm tái sinh phân tán liên tục. Ngược lại tái sinh phân tán liên tục ở rừng mưa lại là tiền đề để tạo thành rừng mưa hỗn loài khác tuổi.
Tổ thành những loài cây tái sinh mọc ở lỗ trống là những loài cây ưa sáng mọc nhanh, đời sống ngắn, không có mặt trong công thức tổ thành rừng, mà nguồn gốc có thể do “chim; những động vat tir xa mang tới, tỷ lệ thuận với kích thước lỗ trống, tức là kích thước lỗ trống càng lớn thì tỷ lệ cây ưa sáng càng nhiều. Đây là loài cây tiên phong làm nhiệm vụ hàn gắn các lỗ trống ở trong rừng. Sau khi các loài cây ưa sáng tạo ra bằng cây tái sinh của những loài cây Nhung có trong thành phần của rừng nguyên sinh xuất hiện, vươn lên thay thế các loài cây ưa sáng. Khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Châu Á đã riễu lên hai đặc điểm tái sinh phổ biến, đó là tái sinh vệt của loài cây ưa sáng và tái sinh phân tán liên tục của loài cây chịu bóng (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978; Phùng Ngọc Lan, 1986).
Bazzaz and Picket (1980) đã chia sức loài cây vùng nhiệt đới thành 2 loại bao gồm: Các loài cây thuộc rừng nguyên sinh và các loài cây thuộc rừng thứ sinh. Các loài cây trong Tng nguyện sinh nảy mầm dưới tán rừng rậm rạp và vẫn bị ngăn chặn sựphát triển cho đến khi một lỗ trồng tự nhiên được tạo ra thì chúng sẽ bắt đầu sinh trưởng đẩy mạnh sự sinh trưởng hơn nữa.Mặt khác những loài cây thuộế rừng thứ sinh chỉ được tìm thấy trong các lỗ trống rộng lớn (Baur ; Whitmore 1984). Ngoai ra, các loài cây trong rừng nguyên sinh 92 trưởng, quang hợp, tốc độ bù và bổ sung cây thấp hơn so với các li 1 nh trong lỗ trống rừng thứ sinh (Lugo 1970, Ashton 1978). Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh rừng: Ánh sáng, độ ẩm đất thảm mục, độ dày của thảm tươi, khả năng phát tán hạt, trong đó ánh sáng là nhân tố chủ đạo có vai trò điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên (dẫn theo P.Richards, 1952 đưa ra nhận xét rằng ở vùng nhiệt đới, sự phân bố số lượng cá thể của các loài cây trong các lớp kích thước là rất khác nhau.
Phần lớn các loài cây ưu thế ở tầng trên trong rừng nguyên sinh thường có rất ít thậm chí vắng mặt ở những tầm thấp hay cấp thể tích nhỏ. Ngược lại ở những rừng đơn ưu lại có đầy đủ đại diện ở các lớp kích thước. Theo tác giả thì sự phân bố này là do đặc tính di truyền của các löäi Gs. được thể hiện ở khả năng sinh sản và tập tính của chúng trong các giai đoạn phát triển.
Ở Châu Phi theo Taylon (1954), Bemard (1955), cho rằng: Tái sinh trong rừng mưa nếu thiếu hụt có thể bổ sung thêm bằng biện pháp nhân tạo. Ngược lại các tác giả khác: Bava (1954), Budowski (1956) lại nhận định rằng nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh mục đích có gà trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh đẻ bảo vệ éây tái sinh là rất cần thiết. Nhờ những nghiên cứu này nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyển, 1995).Lamprecht (1989) căn cứ vào như‹cÂu sử dụng ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống, phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán ch ‘bong va nhóm cây chịu bóng. Do tính chất tái sinh tự nhiên của rừng mưa nhiệt đới phức tạp nên phần lớn các nghiên cứu thường tập trung ở một số loài cây-mục đích có giá trị kinh tế.
Những nghiên cứu VỀ tái sinh đã được phát hiện có ý nghĩa định hướng có nhiều giải pháp.kỹ thuật lâm sinh, làm cơ sở xây dựng các phương thức tái sinh phù hợp ha she bi Tuy nhién Šì rừn ry nhiệt đới vốn tồn tại nhiều quy luật hết sức phức tạp, phần lông ân: ¢ những nước đang phát triển, nên kết quả nghiên cứu về vấn đề tái sinh oo nhiều hạn chế. Ở Việt Nam Viét Nam được xếp vào một trong những nước có nền lâm nghiệp con non trẻ. Rừng nhiệt đới mang những đặc điểm của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động phức tạp của con người nên 5 những quy luật tái sinh bị xáo trộn nhiều. Đặc điểm tái sinh vệt cũng diễn ra như ở những rừng nguyên sinh nước ta khi có cây bị gió đổ.
Tái sinh ở những rừng nguyên sinh nước ta có tô thành loài cây phong phú, do nguồn giống phong phú, do nguồn giống trong đất tích luỹ nhiều và do khả năng phân tán hạt giống có hiệu quả của các loài cây rừng thứ sinh. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng mà hầu hết các công trình này đều đề cập đến vấn đề tái sinh trong rừng tự nhiên. Những vấn đề tái sintyfonđ vùng tự nhiên ngày càng được quan tâm nhiều hơn, những vấn đề tái sinh; nghiên cứu tái sinh ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu vào những HỆM 1960. Trong thời gian từ 1962 đến 1969, viện điều tra quy hoạch rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các loài thực vật ưu thế rừng nguyên sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1966), Lạng Sơn (1969).