Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài voọc bạc đông dương trachypithecus germaini milne edwards 1876 tại khu vực núi đá vôi chùa hang huyện kiên lương tỉnh kiên giang

Luận án tiến sĩ sinh học khám phá đặc điểm sinh thái loài voọc bạc Đông Dương tại khu vực núi đá vôi Chùa Hang, Kiên Lương, Kiên Giang.

Chuyên ngành

Sinh thái học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sỹ

2019

199
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Nội dung nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa của đề tài

1.4. Những đóng góp mới của luận án

1.5. Cấu trúc của luận án

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tổng quan về phân họ Voọc (Colobinae) và giống Trachypithecus

2.2. Một số đặc điểm sinh thái

2.3. Ý nghĩa về hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn của các loài khỉ ăn lá

2.4. Các hướng nghiên cứu chính về Colobinae

2.5. Giới thiệu về loài Voọc bạc Đông Dương

2.5.1. Phân loại là đặc điểm sinh học

2.5.2. Sinh thái và tập tính

2.5.3. Hiện trạng bảo tồn

2.6. Các nghiên cứu về Voọc bạc Đông Dương

2.7. Đặc điểm thảm thực vật núi đá vôi

2.8. Đặc điểm tự nhiên khu vực núi Chùa Hang, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

2.8.1. Vị trí địa lý

2.8.2. Điều kiện kinh tế xã hội

2.8.3. Hiện trạng khai thác núi đá vôi trong khu vực

3. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Địa điểm nghiên cứu

3.2. Thời gian nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp

3.3.2. Phương pháp điều tra thảm thực vật

3.3.3. Phương pháp nghiên cứu vật hậu học

3.3.4. Quan sát tập tính của Voọc bạc Đông Dương

3.3.5. Xác định thành phần thức ăn của Voọc bạc Đông Dương

3.3.6. Xác định vùng sống của các đàn Voọc

3.3.7. Xác định kích thước bầy

3.3.8. Xác định giới tính và độ tuổi

3.3.9. Phân tích hóa dinh dưỡng thức ăn

3.3.10. Phân tích hóa dinh dưỡng đất

3.3.11. Phương pháp định danh thực vật

3.3.12. Phương pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân

3.3.13. Xử lý số liệu nghiên cứu

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Quần thể Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang

4.1.1. Kích thước quần thể. Kích thước và cấu trúc bầy. Tổ chức bầy

4.2. Vùng sống của Voọc bạc Đông Dương tại núi Chùa Hang

4.3. Đặc điểm thảm thực vật núi Chùa Hang

4.3.1. Sinh cảnh vách núi

4.3.2. Sinh cảnh sườn núi

4.3.3. Sinh cảnh đỉnh núi

4.3.4. Sinh cảnh rừng ngập mặn

4.3.5. So sánh mức độ đa dạng loài của các sinh cảnh khu vực núi Chùa Hang

4.4. Đặc điểm khí hậu và vật hậu tại núi đá vôi Chùa Hang

4.5. Quỹ thời gian ăn và các hoạt động khác của Voọc bạc Đông Dương

4.5.1. Quỹ thời gian hoạt động trong năm

4.5.2. Quỹ thời gian hoạt động trong ngày

4.5.3. Quỹ thời gian hoạt động theo tháng

4.5.4. Quỹ thời gian hoạt động theo mùa

4.5.5. Quỹ thời gian hoạt động theo giới tính và độ tuổi

4.6. Đặc điểm sinh thái dinh dưỡng của Voọc bạc Đông Dương

4.6.1. Thành phần thức ăn

4.6.2. Sự lựa chọn thành phần thức ăn

4.6.3. Hoá dinh dưỡng

4.6.4. Ảnh hưởng của hàm lượng dinh dưỡng trong lá đến sự lựa chọn thức ăn của Voọc bạc Đông Dương

4.6.5. Ảnh hưởng của hàm lượng dinh dưỡng trong mẫu hoa đến sự lựa chọn ăn của Voọc bạc Đông Dương

4.6.6. Ảnh hưởng của hàm lượng dinh dưỡng trong mẫu quả là thức ăn của Voọc bạc Đông Dương

4.6.7. Hàm lượng dinh dưỡng trong đất và mối quan hệ với hàm lượng dinh dưỡng trong thành phần thức ăn của Voọc bạc Đông Dương

4.6.8. Sự lựa chọn dinh dưỡng trong mẫu thức ăn theo độ tuổi, giới tính

4.6.9. Nguồn nước Voọc bạc Đông Dương sử dụng trong các hoạt động sống

4.7. Chiến lược lựa chọn thức ăn của Voọc bạc Đông Dương tại núi Chùa Hang

4.7.1. Khả năng cung cấp thức ăn của thảm thực vật núi Chùa Hang

4.7.2. Chiến lược lựa chọn ăn của Voọc bạc Đông Dương

4.8. Một số vấn đề về bảo tồn Voọc bạc Đông Dương ở núi đá vôi Chùa Hang

4.8.1. Các nguyên nhân gây đe dọa đến quần thể Voọc bạc Đông Dương

4.8.2. Nhận thức và các hoạt động bảo tồn Voọc bạc Đông Dương

4.8.3. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn Voọc bạc Đông Dương

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Tổng hợp dữ liệu quan sát Voọc bạc Đông Dương ngoài thực địa xác định kích thước quần thể và vùng sống

Phụ lục 2: Bản đồ tuyến và phân vùng sinh cảnh thực trên núi Chùa Hang

Phụ lục 3: Danh mục loài thực vật ghi nhận tại núi Chùa Hang – Kiên Lương

Phụ lục 4: Danh mục loài trên các sinh cảnh tại núi Chùa Hang – Kiên Lương

Phụ lục 5: Phân tích thống kê

Phụ lục 6: Hình ảnh

Phụ lục 7: Mẫu câu hỏi phỏng vấn cộng đồng

Phụ lục 8: Kết quả phân tích hóa dinh dưỡng đất và mẫu thức ăn

Phụ lục 9: Bảng theo dõi tập tích của Voọc bạc Đông Dương

Tóm tắt

I. Giới thiệu về voọc bạc Đông Dương và môi trường sống tại núi đá vôi Chùa Hang Kiên Lương Kiên Giang

Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini) là loài linh trưởng ăn lá, phân bố chủ yếu ở khu vực phía tây sông Mê Kông. Nghiên cứu tập trung vào quần thể voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang, thuộc huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Khu vực này có hệ sinh thái đa dạng, bao gồm các sinh cảnh như vách núi, sườn núi, đỉnh núi và rừng ngập mặn. Tuy nhiên, quần thể voọc bạc Đông Dương đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động khai thác đá vôi và săn bắt trái phép.

1.1. Đặc điểm sinh thái của voọc bạc Đông Dương

Voọc bạc Đông Dương có tập tính sống theo bầy, với cấu trúc xã hội phức tạp. Nghiên cứu xác định 134 cá thể voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang, chia thành 6 bầy với 5 kiểu tổ chức khác nhau. Vùng sống của quần thể này khoảng 36,8 ha, chiếm 74% diện tích khu vực. Đặc điểm sinh thái của loài này liên quan chặt chẽ đến thảm thực vật và điều kiện khí hậu tại núi đá vôi Chùa Hang.

1.2. Môi trường sống và hệ sinh thái tại núi đá vôi Chùa Hang

Núi đá vôi Chùa Hang có hệ thực vật phong phú, với 185 loài thuộc 61 họ. Trong đó, 62 loài được voọc bạc Đông Dương sử dụng làm thức ăn. Các sinh cảnh chính bao gồm vách núi, sườn núi, đỉnh núi và rừng ngập mặn. Sinh cảnh vách núi có số loài thực vật được voọc bạc Đông Dương sử dụng nhiều nhất, chiếm 67%. Sự đa dạng thực vật này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì quần thể voọc bạc Đông Dương.

II. Nghiên cứu sinh thái và đặc điểm sinh học của voọc bạc Đông Dương

Nghiên cứu sử dụng phương pháp scan-samplingfocal-animal sampling để quan sát tập tính và thu thập dữ liệu về đặc điểm sinh thái của voọc bạc Đông Dương. Kết quả cho thấy, hoạt động ăn chiếm 45% quỹ thời gian hoạt động của loài này. Voọc bạc Đông Dương sử dụng đa dạng các bộ phận thực vật làm thức ăn, bao gồm lá non, lá trưởng thành, quả, hoa và chồi.

2.1. Thành phần thức ăn và chiến lược lựa chọn thức ăn

Voọc bạc Đông Dương lựa chọn thức ăn dựa trên hàm lượng dinh dưỡng và tính sẵn có trong môi trường. Nghiên cứu xác định 8 loài thực vật được sử dụng làm thức ăn trong suốt 12 tháng, bao gồm Phèn đen, Da lâm vồ, Sung bầu, và Gừa. Sự lựa chọn thức ăn thay đổi theo mùa, tháng, ngày, độ tuổi và giới tính. Con trưởng thành có xu hướng ăn đa dạng hơn con chưa trưởng thành.

2.2. Hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn của voọc bạc Đông Dương

Phân tích hóa học cho thấy, thức ăn của voọc bạc Đông Dương chứa 73,68% nước, 5,58% protein, 1,24% lipid và 5,43% khoáng. Loài này ưu tiên chọn lá có hàm lượng lignin thấp, hoa có đường cao và quả có ít canxi. Hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn có mối tương quan với thời gian lựa chọn thức ăn, nhưng không ảnh hưởng đến việc lựa chọn ăn hay không ăn.

III. Bảo tồn thiên nhiên và đề xuất giải pháp cho voọc bạc Đông Dương

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn thiên nhiên đối với quần thể voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang. Các hoạt động khai thác đá vôi và săn bắt trái phép đang đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại của loài này. Đề xuất các giải pháp bảo tồn bao gồm tăng cường giám sát, hạn chế khai thác đá vôi và nâng cao nhận thức cộng đồng.

3.1. Nguyên nhân đe dọa đến quần thể voọc bạc Đông Dương

Các nguyên nhân chính gây đe dọa đến quần thể voọc bạc Đông Dương bao gồm khai thác đá vôi làm mất môi trường sống, săn bắt trái phép và buôn bán động vật hoang dã. Những hoạt động này đã làm giảm đáng kể số lượng cá thể và thu hẹp vùng sống của loài này.

3.2. Giải pháp bảo tồn và quản lý bền vững

Để bảo tồn voọc bạc Đông Dương, cần thực hiện các biện pháp như thiết lập khu bảo tồn, hạn chế khai thác đá vôi và tăng cường giáo dục cộng đồng. Ngoài ra, cần tiếp tục nghiên cứu về đặc điểm sinh tháithành phần thức ăn của loài này tại các khu vực khác để đưa ra chiến lược bảo tồn hiệu quả.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài voọc bạc đông dương trachypithecus germaini milne edwards 1876 tại khu vực núi đá vôi chùa hang huyện kiên lương tỉnh kiên giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tài liệu (22 trang), Chương 2. Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu (17 trang), Chương 3. Kết quả và thảo luận (84 trang), Kết luận và kiến nghị (4 trang), Danh mục các bài báo (1 trang), Tài liệu tham khảo (14 trang), phụ lục 34 trang.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về phân họ Voọc (Colobinae) và giống Trachypithecus 1.1 Phân loại Theo Davies và cs (1994) [31] các loài voọc thuộc phân họ Voọc (Colobinae), thuộc họ Khỉ Cựu thế giới (Cercopithecidae), Bộ Linh trưởng (Primates). Họ khỉ Cựu thế giới (Cercopithecidae) gồm hai phân họ: Phân họ Khỉ chính thức (Cercopithecinae) và phân họ Voọc (Colobinae). Phân họ khỉ chính thức gồm các loài khỉ có túi má lớn, dạ dày đơn giản, đi bốn chân, ăn tạp, hoạt động cả trên cây và trên mặt đất, sống theo đàn nhiều con đực [151].

Ở Việt Nam, phân họ Khỉ chính thức gồm một giống Macaca với 6 loài và phân loài, trong đó có phân loài khỉ Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis) là phân loài đặc hữu Việt Nam [181]. Phân họ Voọc không có túi má giống các loài thuộc phân họ Khỉ chính thức nhưng lại có cấu tạo hệ tiêu hóa phức tạp giúp thích nghi với chế độ dinh dưỡng nhiều chất xơ [7, 99]. Khỉ ăn lá Colobinae, có 10 giống bao gồm 81 loài [228], đây là phân họ có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau về phân loại học. Colobinae được chia ra thành hai nhánh tiến hóa chính bao gồm nhánh Châu Phi và nhánh Châu Á dựa vào phân bố địa lý và các đặc điểm hình thái.

Nhánh Voọc Châu Á cho đến nay đã ghi nhận được 53 loài thuộc 7 giống (Nasalis, Presbytis, Pygathrix, Rhinopithecus, Semnopithecus, Simias và Trachypithecus) [181]. Trong đó, khu vực Đông Nam Á đã có đến 32 loài thuộc 6 giống trừ giống Semnopithecus. Ở Việt Nam, phân họ Voọc có 3 giống với 12 loài: giống Trachypithecus (8 loài và phân loài), giống Pygathrix (3 loài: Chà vá chân đỏ P. nemaeus, Chà vá chân xám P.

cinerea và Chà vá chân đen P. nigripes); giống Rhinopithecus chỉ có 1 loài Voọc mũi hếch (R. Về giống Trachypithecus có sự thay đổi khác nhau về phân loại, trước năm 2004 gồm 5 nhóm (pileatus, vetulus, francoisi, cristatus và obscurus) chủ yếu dựa vào sự khác nhau về màu lông, tập tính, đặc điểm sinh thái và vùng phân bố [56]. Gần đây, các nghiên cứu về di truyền đã chứng minh nhóm vetulus và pileatus có mối quan hệ di truyền gần với giống Semnopithecus hơn là giống Trachypithecus [49].

Vì vậy, giống Trachypithecus chỉ còn lại 3 nhóm (francoisi, cristatus và obscurus) [171]. Mỗi nhóm bao gồm những loài có quan hệ về di truyền và có tương đồng nhau về 6 màu lông, tập tính và đặc điểm sinh thái. Ở Việt Nam giống Trachypithecus bao gồm 3 nhóm với 8 loài và phân loài như sau: Nhóm francoisi (Voọc đen) gồm Voọc đen má trắng (T. francoisi), Voọc Cát Bà (T.

poliocephalus), Voọc mông trắng (T. delacouri), Voọc Hà Tĩnh (T. hatinhensis) và Voọc đen tuyền (T. ebenus): loài này về phân loại và phân bố vẫn còn đang tranh cãi; Nhóm cristatus (Voọc bạc) gồm Voọc bạc Đông Dương (T.

germaini), Voọc bạc Trường Sơn (T. margarita) và Nhóm obscurus (Voọc xám) gồm Voọc xám (T.2 Một số đặc điểm sinh thái Hình thái: Các loài thuộc phân họ Colobinae, giống Trachypithecus hầu hết có đuôi dài, màu lông có màu sắc ưu thế là đen, xám, nâu thẫm hoặc màu bạc. Phần lớn các loài có mào (chóp) trên đỉnh đầu đặc biệt ở nhóm francoisi. Trán của các loài không nhô cao.

Con non mới sinh có màu cam rực rỡ và chuyển đen khi lớn lên [143]. Đặc điểm hình thái của các loài thuộc giống Trachypithecus ở Việt Nam Loài Đặc điểm W (kg) HB (mm) T (mm) Màu lông cơ thể T. francoisi (2) 6,5-7,2 (1) 470-630 (1) 740-960 Đen tuyền, hai má trắng, đám lông trắng rộng vượt quá chỏm vành tai. Đầu có mào lông đen.

poliocephalus (2) 6,7-7,6 (1) 490-590 (1) 800-900 Đen, đầu và vai màu trắng vàng, mông màu xám nhạt, đầu có mào lông với gốc lông màu vàng nhạt, mút lông phớt xám. delacouri (2) 7,5 (1) 570- 730 (1) 730-970 Đen, đầu có mào lông đen, đám lông trắng trên má rộng, vượt lên trên vành tai, lông vùng mông và đùi trắng. 7 Loài Đặc điểm W (kg) HB (mm) T (mm) Màu lông cơ thể T. hatinhensis (2) 6,5- (1) 500-660 (1) 810-870 Đen, bụng đen xám, 8,8 háng và bẹn xám trắng, đỉnh đầu có mào lông đen, có hai vạch trắng nhỏ đi từ góc mép qua má chạy phía trên vành tai ra hai gáy.

ebenus (5) 10,3 (5) 620 (5) 940 Bộ lông đen, gốc lông nâu. Đầu có mào đen như voọc hà tĩnh, có ít lông trắng từ dưới mũi chạy qua mép trên tai nhưng không kéo dài ra sau gáy. margarita - (1) 500-600 (1)700-800 Thân màu xám tới màu đen với những chóp lông màu xám hay vàng nhẹ như ánh bạc, mặt trắng nhạt, phía bụng màu xám nhạt. crepusculus 6-9 (1) 170-180 (1) 600-850 Xám đến nâu đen, trên đầu cò mào lông, Chân tay có màu đen, phần trên cánh tay, chân và đuôi có màu xám bạc.

Ghi chú: W: trọng lượng cơ thể; HB: Chiều dài thân-đầu; T: chiều dài đuôi; (1) Francis (2008) [43]; (2) Phạm Nhật (2002) [174]; (3) Groves và cs (2013) [57]; (4) Nadler và Brockman (2014) [141]; (5) Nadler (2013) [140] Tình trạng bảo tồn: Đa số các loài thuộc phân học Voọc được xếp vào nhóm nguy cấp (EN) cần được bảo bồn. Ở Việt Nam Voọc là nhóm linh trưởng bị đe dọa 8 nhiều nhất bởi nạn săn bắt và bẫy bất hợp pháp, mất sinh cảnh sống và sinh cảnh sống bị tác động bởi các hoạt động của con người như khai thác gỗ, khai thác khoáng sản, canh tác nông nghiệp, mở rộng khu dân cư, phát triển cơ sở hạ tầng [19, 132, 195]. Tập tính: Khỉ ăn lá Colobinae hoạt động vào ban ngày, hầu hết các loài có tập tính thích nghi với đời sống trên cây, di chuyển bằng 4 chân, bộ não lớn, có thể cầm nắm rất khéo léo [81, 133]. Chúng sinh sống theo bầy, ăn nhiều loại thức ăn như lá cây, quả, hoa, địa y, nấm, mật hoa, vỏ cây, nhựa cây, động vật không xương sống.

Chúng có nhiều kiểu tổ chức xã hội từ bầy một đực-một cái đến bầy nhiều đực và nhiều cái. Các bầy có khả năng tách, nhập theo sự thay đổi giữa các mùa, nguồn thức ăn và khả năng sinh sản của con cái [132, 195]. Hầu hết các nghiên cứu về nhóm khỉ ăn lá, ghi nhận có sự khác biệt về quỹ thời gian dành cho các hoạt động ăn, nghỉ ngơi, hoạt động xã hội, di chuyển và hoạt động khác. Các nghiên cứu cũng chỉ rõ sự khác biệt về quỹ thời gian của hoạt động ăn so với những hoạt động khác như di chuyển, nghỉ ngơi, xã hội, quan sát, hoạt động khác (xem bảng 1.

So sánh quỹ thời gian hoạt động của một số loài khỉ ăn lá tại Việt Nam Hoạt động (%) Loài Nguồn Ăn Nghỉ XH DC Khác Pygathrix cinerea 11,3 41,6 27,5 19,5 0,1 Nguyễn Thị Tịnh và Chà vá chân xám cs (2012) [156] Pygathrix nigripes 35,0 42,9 5,9 14,7 1 Hoàng Minh Đức Chà vá chân đen (2007) [68] Pygathrix nemaeus 13,7 35,3 21,7 28,6 0,7 Ulibarri (2013) Chà vá chân đỏ [207] Trachypithecus delacouri 29 61 6 4 - Workman (2010) Voọc quần đùi trắng [221] Trachypithecus margarita 37,7 26,5 8,6 7,5 0,11 Trần Văn Bằng Voọc Bạc Trường Sơn (2013) [204] Trachypithecus crepusculus 48,8 21,8 15,0 6,2 0,61 Nguyễn Đình Hải Voọc xám (2018) [151] Rhinnothecus avunculus 14,8 31,9 23,5 19,8 9,9 Đồng Thanh Hải Voọc Mũi hếch (2011) [34] Ghi chú: XH: hoạt động xã hội; DC: di chuyển 9 Cấu trúc bầy: Việc hình thành bầy và các kiểu phân tán trong bầy có sự thay đổi giữa các loài và trong cùng một loài, đối với các loài Voọc bao gồm các kiểu bầy như sau: bầy có 1 cá thể đực- nhiều cá thể cái là phổ biến nhất [147]; bầy lớn với nhiều cá thể đực và cái hay từ nhiều bầy cá thể đực hình thành; bầy nhỏ bao gồm 1 cặp trưởng thành và các các thể chưa trưởng thành [193]. Ở đa số các loài, các cá thể cái có xu hướng ở lại nhóm sinh ra chúng, trong khi các cá thể đực khi trưởng thành thường di chuyển sang đàn khác [81]. Các cá thể trong cùng một bầy thường nghỉ ngơi cùng nhau trên các cành cây to, ở các loài voọc còn ghi nhận các cá thể cái trong cùng một bầy thay nhau chăm sóc con non, thực hiện các hoạt động ăn, di chuyển cùng với nhau [147] Sinh sản: Độ tuổi sinh sản của con cái dao động từ 2,9 – 3,6 tuổi đến 5-7 tuổi. Con cái thường sinh 1 con non trong 1 lần sinh và khoảng cách giữa các lần sinh là khoảng 2 năm [193].

Độ tuổi sinh sản và khoảng cách giữa các lần sinh sản càng lớn khi cơ thể càng già. Ngoài ra, khả năng sinh sản còn chịu ảnh hưởng của đặc điểm nguồn thức ăn [7]. Thành phần thức ăn: Nhiều nghiên cứu cho thấy, thành phần thức ăn của các loài trong phân họ Voọc, phổ biết nhất là giống Trachypithecus thường lựa chọn ăn các bộ phân lá, hoa, quả của một số loài thực vật trong tự nhiên để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, trong đó đa số kết quả cho thấy lá chiếm hơn 50% trong khẩu phần (xem bảng 1. Lá là bộ phận thường có hầu hết các tháng trong năm [127] mặc dù có biến động về thành phần và sinh khối theo thời gian và không gian trong khi quả, hoa, hạt là thức ăn chỉ có theo mùa.

Sự lựa chọn lá để ăn cũng được xác định nhằm mục đích tối đa hóa năng lượng [123, 186, 196] và giải quyết những hạn chế trong quá trình tiêu hóa thức ăn bằng cách chọn lá giàu protein và ít chất xơ [29, 90] hay chọn thức ăn có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng thiết yếu như protein, hidrocacbon hòa tan, vitamins và khoáng chất [127, 224]. Kiểm soát hàm lượng chất xơ khi lựa chọn thức ăn, nhiều loài linh trưởng tránh ăn các loại thức ăn có hàm lượng chất xơ cao đặc biệt là lignin, cellulose, hemicellulose vì khó khăn cho việc tiêu hóa [124, 179, 226]. Trong tự nhiên, các thành phần thức ăn của Colobinae có sự thay đổi và thường chịu ảnh hưởng của yếu tố thời tiết. Vì vậy các loài Colobinae phải thích ứng với nguồn thức ăn khác sẵn có.

Thành phần loài và bộ phận thức ăn của Colobinae có sự thay đổi theo mùa [12]. Thành phần thức ăn của Colobinae liên 10 quan đến sự thích nghi trong quỹ thời gian hoạt động. Do năng lượng nhận được thấp khi sử dụng lá, nên nhóm linh trưởng ăn lá sử dụng một số lượng lớn thức ăn cũng như sử dụng nhiều thời gian để tiêu hóa thức ăn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm sinh thái voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang, Kiên Lương, Kiên Giang" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh thái và hành vi của loài voọc bạc Đông Dương, một trong những loài động vật quý hiếm đang bị đe dọa. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về sự đa dạng sinh học tại khu vực núi đá vôi Chùa Hang mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo tồn môi trường sống tự nhiên cho loài này. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng của voọc bạc, từ đó có thể áp dụng vào các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến bảo tồn và sinh thái, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn tốt nghiệp đánh giá sinh trưởng rừng trồng keo tai tượng, nơi nghiên cứu về sự phát triển của rừng trồng và ảnh hưởng của các yếu tố môi trường. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án nghiên cứu một số đặc trưng cơ bản và đề xuất biện pháp bảo tồn phát triển bền vững thảm thực vật trên núi đá vôi sẽ cung cấp thêm thông tin về các biện pháp bảo tồn thực vật tại các khu vực núi đá vôi. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp nghiên cứu khả năng giữ nước của đất dưới một số trạng thái thảm thực vật, giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của rừng trong việc duy trì nguồn nước và bảo vệ môi trường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sinh thái và bảo tồn hiện nay.