Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ sinh học với đề tài "Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini Milne-Edwards, 1876) tại khu vực núi đá vôi Chùa Hang, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Hồng Thía, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Herbert Hadley Covert (Đại học Colorado Boulder, Hoa Kỳ) và TS. Hoàng Minh Đức (Viện Sinh thái học Miền Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), bảo vệ tại Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2019, chuyên ngành Sinh thái học (mã số 9 42 01 20).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini) là một trong 12 loài thuộc phân họ Khỉ ăn lá (Colobinae) tại Việt Nam, được xếp vào bậc EN (Nguy cấp) theo Danh lục đỏ của IUCN, thuộc nhóm IB theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP và Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Đây là loài linh trưởng đặc trưng phân bố ở phía tây sông Mê Kông. Ghi nhận năm 2015 cho thấy toàn Việt Nam có khoảng 362–406 cá thể tại 6 địa điểm thuộc ba tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cà Mau; trong đó quần thể tại hệ thống núi đá vôi Kiên Lương chiếm số lượng lớn nhất với 286 cá thể phân bố trên 4 núi: Chùa Hang, Khoe Lá, Mo So và Lô Cốc.
Hệ sinh thái núi đá vôi Kiên Lương gồm khoảng 21 hòn núi nhỏ biệt lập trong vùng đồng bằng ngập nước Hà Tiên. Quần thể Voọc bạc Đông Dương tại đây đang đối mặt với nguy cơ suy giảm số lượng nghiêm trọng do hoạt động khai thác đá vôi sản xuất xi măng làm suy thoái và thu hẹp sinh cảnh sống, cùng áp lực săn bắt trái phép để làm thuốc, làm cảnh và buôn bán. Trước thực trạng các núi Khoe Lá và Mo So bị cấp phép khai thác dài hạn (lên tới 50 năm), chính quyền địa phương đã xem xét phương án di dời quần thể voọc sang khu vực sinh cảnh mới ít bị tác động hơn. Tuy nhiên, các dữ liệu nền tảng về đặc điểm sinh thái, tập tính hoạt động, nhu cầu dinh dưỡng, thành phần thức ăn, vùng sống và sức tải sinh cảnh của loài chưa được nghiên cứu hệ thống. Các nghiên cứu trước đây mới chỉ dừng lại ở mức khảo sát sơ bộ về hiện trạng phân bố hoặc danh mục loài thực vật làm thức ăn chưa đồng nhất, thiếu dữ liệu định lượng theo chu kỳ thời gian (ngày, tháng, mùa) và phân tích hóa dinh dưỡng. Do đó, việc thực hiện luận án là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý bảo tồn tại chỗ và xây dựng kế hoạch di dời cá thể voọc theo tiêu chuẩn của IUCN.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát (2.1): Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của Voọc bạc Đông Dương tại khu vực núi đá vôi Chùa Hang, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn loài tại hệ sinh thái núi đá vôi duy nhất ở phía Nam Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể (2.2):
- Mục tiêu 1: Xác định hiện trạng quần thể và phân bố của Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang.
- Mục tiêu 2: Xác định cấu trúc thảm thực vật là sinh cảnh sống của Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang.
- Mục tiêu 3: Nghiên cứu về sinh thái dinh dưỡng của Voọc bạc Đông Dương.
- Mục tiêu 4: Xác định các mối đe dọa và nhận thức bảo tồn, qua đó đề xuất giải pháp bảo tồn quần thể Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Loài Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini Milne-Edwards, 1876) và thảm thực vật sinh cảnh gắn liền với hoạt động sống của loài.
- Phạm vi không gian: Khu vực núi đá vôi Chùa Hang thuộc ấp Ba Trại, xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (tọa độ từ 10°08’11”N – 104°38’21”E đến 10°08’30”N – 104°38’55”E). Tổng diện tích khu vực nghiên cứu là 50 ha (gồm núi Chùa Hang 47,7 ha, các mỏm núi lân cận trước Chùa Hang 1,95 ha và diện tích rừng ngập mặn 0,79 ha), độ cao tuyệt đối 180,7 m, sườn dốc 20°–45°.
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa và thu thập số liệu ngoại nghiệp kéo dài từ tháng 9/2013 đến tháng 2/2017, định kỳ thu thập mẫu và dữ liệu từ ngày 23 đến ngày 28 hàng tháng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu chính đã được tổng quan
Tác giả đã phân tích và hệ thống hóa 228 tài liệu tham khảo (33 tài liệu tiếng Việt và 195 tài liệu tiếng Anh), chia thành 5 nhóm hướng nghiên cứu chính về phân họ Voọc (Colobinae) và giống Trachypithecus:
-
Phân loại học và di truyền phân tử:
- Phân họ Colobinae gồm 10 giống với 81 loài (Davies và cs., 1994), chia làm 2 nhánh tiến hóa: nhánh châu Phi và nhánh châu Á (53 loài thuộc 7 giống). Giống Trachypithecus trước năm 2004 chia làm 5 nhóm loài (Groves, 2001), sau đó các nghiên cứu di truyền tách nhóm vetulus và pileatus sang quan hệ gần với Semnopithecus, thu gọn giống Trachypithecus còn 3 nhóm: francoisi, cristatus và obscurus.
- Phân tích trình tự ADN ty thể xác định quần thể Voọc bạc Đông Dương ở phía tây sông Mê Kông là loài riêng biệt Trachypithecus germaini, phân biệt với Voọc bạc Trường Sơn Trachypithecus margarita ở phía đông sông Mê Kông (Roos và cs., 2008; Hoàng Minh Đức và cs., 2012). Các công trình phân loại và hình thái khác gồm Schempp và cs. (2008), Houck và cs. (2010), Francis (2008), Phạm Nhật (2002), Groves và cs. (2013), Nadler (2013), Nadler và Brockman (2014).
-
Hiện trạng quần thể và phân bố địa lý:
- Trên thế giới: Timmins và Duckworth (1999), Duckworth và cs. (2010) ghi nhận loài tại nam Lào (tỉnh Savanakhet); tại Campuchia ghi nhận tại vùng Cardamom, Tonle Sap, Mondulkiri.
- Tại Việt Nam: Các công bố của Hoàng Minh Đức (2003) ghi nhận 31 cá thể tại Chùa Hang và Mo So; Ngô Văn Trí (2003) ghi nhận 56 cá thể tại Kiên Lương và 45 cá thể tại Phú Quốc; Lê Khắc Quyết và Nguyễn Vũ Khôi (2010) xác định 31–44 cá thể tại Vườn quốc gia Phú Quốc; Trần Văn Bằng và cs. (2017) tổng hợp số lượng 362–406 cá thể trên cả nước, trong đó Kiên Lương có 286 cá thể (Chùa Hang 131, Khoe Lá 71, Mo So 21, Lô Cốc 12).
-
Tập tính và quỹ thời gian hoạt động:
- Các công trình nghiên cứu tập tính khỉ ăn lá gồm Hladik (1977), Newton và Dunbar (1999), Fashing (2001), Li (2009), Workman (2010), Đồng Thanh Hải (2011), Nguyễn Thị Tịnh và cs. (2012), Trần Văn Bằng (2013), Ulibarri (2013), Lê Khắc Quyết (2014), Nguyễn Đình Hải (2018).
- Nghiên cứu duy nhất về tập tính Voọc bạc Đông Dương trong điều kiện nuôi nhốt bán tự nhiên (diện tích 3.000 m²) tại Siem Reap, Campuchia của de Groot và Nekaris (2016) trên nhóm 5 cá thể trong 186 giờ ghi nhận: nghỉ ngơi chiếm 47,2%, ăn chiếm 43,6%, di chuyển 5,0%, hoạt động xã hội 4,2%.
-
Sinh thái dinh dưỡng và hóa học thức ăn:
- Thức ăn của Colobinae gồm lá non, lá già, quả, hoa, hạt; thích nghi tiêu hóa nhờ dạ dày 4 ngăn lên men kỵ khí (Caton, 1999; Lambert, 1998; Kay và Davies, 1994). Năm mô hình dinh dưỡng của Felton và cs. (2009) gồm: tối đa hóa năng lượng, tối đa hóa protein, hạn chế hợp chất thứ cấp, hạn chế chất xơ và cân bằng dinh dưỡng. Nhu cầu dinh dưỡng theo National Research Council (2003) khuyến cáo cho Colobinae: protein thô (15–22%), NDF (10–30%), ADF (5–15%), Ca (0,4–0,6%).
- Các nghiên cứu dinh dưỡng khác: McKey và cs. (1981), Harrison (1986), Milton (1993), Chapman và Chapman (2002), Solanki và cs. (2008), Zhou và cs. (2006), Li và Rogers (2004), Nguyễn Thị Lan Anh (2014).
- Tại khu vực nghiên cứu: Nguyễn Thị Tiên (2011) ghi nhận 24 loài thực vật làm thức ăn (12 loài thuộc chi Ficus); Lê Hồng Thía và cs. (2015) xác định thành phần ăn sơ bộ gồm 71,8% lá non, 5,3% lá già, 18,4% quả, 2,4% hoa; Nguyễn Văn Hùng (2013) ghi nhận 13 loài thực vật thức ăn trên núi đất Bình An.
-
Đặc điểm thảm thực vật núi đá vôi Kiên Giang:
- Lý Ngọc Sâm và cs. (2009) ghi nhận 322 loài thuộc 227 chi và 89 họ trên núi đá vôi Kiên Giang, chia thành 5 kiểu sinh cảnh (đỉnh, sườn, vách đá, cửa hang, lung ngập nước). Huỳnh Thu Hòa và cs. (2011) ghi nhận 619 loài thuộc 112 họ thực vật hạt kín tại vùng Hòn Chông.
Khoảng trống luận án giải quyết
Cho đến thời điểm thực hiện luận án, chưa có công trình nào công bố đầy đủ về đặc điểm sinh thái dinh dưỡng, quỹ thời gian hoạt động trong môi trường hoang dã, cấu trúc bầy, diện tích vùng sống và mối tương quan giữa hàm lượng dinh dưỡng trong đất, trong thực vật với tập tính chọn lựa thức ăn của loài Trachypithecus germaini. Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống dữ liệu thực địa này tại núi đá vôi Chùa Hang.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án vận dụng các lý thuyết và khung phân tích chuyên ngành linh trưởng học và sinh thái học thực vật:
- Lý thuyết sinh thái dinh dưỡng linh trưởng và mô hình lựa chọn thức ăn (Felton và cs., 2009; National Research Council, 2003; Milton, 1993; Waterman và Kool, 1994).
- Cấu trúc hệ tiêu hóa chuyên hóa ở Colobinae (dạ dày 4 ngăn, lên men phân giải cellulose và hemicellulose ở dạ dày trước nhờ hệ vi sinh vật cộng sinh).
- Phương pháp phân loại thảm thực vật theo tiếp cận quần hợp thực vật (Braun-Blanquet, 1964).
Phương pháp nghiên cứu thực địa và phân tích dữ liệu
-
Phương pháp điều tra tập tính và quần thể:
- Scan-sampling (lấy mẫu quét) và Focal-animal sampling (lấy mẫu cá thể tiêu điểm) được áp dụng để quan sát tập tính, tính toán quỹ thời gian hoạt động (ăn, nghỉ ngơi, di chuyển, xã hội, hoạt động khác), xác định vùng sống, cách thức sử dụng sinh cảnh và cấu trúc bầy.
- Nhận dạng cá thể theo độ tuổi và giới tính: con đực trưởng thành (AM), con cái trưởng thành (AF), con đực chưa trưởng thành (JM), con cái chưa trưởng thành (JF) và con non dựa trên hình thái cơ thể, màu lông và cơ quan sinh dục ngoài.
-
Phương pháp điều tra thảm thực vật:
- Phương pháp ô mẫu Braun-Blanquet (ô 1m x 1m): Thực hiện trên 3 sinh cảnh với tổng số 170 ô mẫu (vách núi: 70 ô; sườn núi: 55 ô; đỉnh núi: 45 ô) để thu thập thông tin về thành phần loài, số lượng cá thể, độ che phủ (thang điểm 5, 4, 3, 2, 1, +, r) và độ quần hợp/xã hội tính (cấp 1 đến 5).
- Phương pháp điều tra theo tuyến: Bố trí 4 tuyến điều tra thực vật trên sinh cảnh sườn núi (mỗi tuyến dài trên 100 m, rộng 2 m) theo Husch và cs. (2002) và Ganzhorn (1992) để khảo sát cây gỗ có đường kính ngang ngực (DBH) từ 5 cm trở lên.
- Phương pháp ô tiêu chuẩn (5m x 5m): Bố trí 3 ô tiêu chuẩn để khảo sát cấu trúc thực vật trên diện tích 0,79 ha sinh cảnh rừng ngập mặn.
| Sinh cảnh |
Chiều cao phân bố (m) |
Diện tích sinh cảnh (ha) |
Số ô mẫu Braun-Blanquet (1m²) |
Số tuyến khảo sát (>100m x 2m) |
Số ô tiêu chuẩn (5m x 5m) |
| Vách núi |
0 – 65 |
24,08 |
70 |
0 |
0 |
| Sườn núi |
0 – 70 |
21,76 |
55 |
4 |
0 |
| Đỉnh núi |
70 – 180,7 |
22,90 |
45 |
0 |
0 |
| Rừng ngập mặn |
0 |
0,79 |
0 |
0 |
3 |
-
Phương pháp nghiên cứu vật hậu học:
- Theo dõi chu kỳ vật hậu từ tháng 3/2015 đến tháng 2/2016 nhằm đánh giá tỷ lệ phần trăm cây cho lá non, lá trưởng thành, chồi, hoa và quả theo các tháng trong năm.
-
Phương pháp phân tích hóa dinh dưỡng thức ăn và đất:
- Thu thập và phân tích thành phần hóa học của 28 mẫu thực vật (gồm 20 mẫu lá ăn, 4 mẫu lá không ăn, 5 mẫu quả, 3 mẫu hoa). Các chỉ tiêu phân tích gồm: tỷ lệ nước, protein thô (CP), lipid, khoáng tổng số (ash), đường hòa tan, canxi (Ca), chất xơ acid (ADF), chất xơ trung tính (NDF), lignin và tỷ lệ protein/chất xơ (CP/ADF).
- Thu mẫu và phân tích tính chất lý hóa của đất trên các sinh cảnh: độ chua (pH), hàm lượng Ca, Kali (K), Magie (Mg).
-
Phương pháp xã hội học và phân tích thống kê:
- Phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân (PRA) tại ấp Ba Trại và cán bộ quản lý vào tháng 4–5/2015 bằng bộ câu hỏi cấu trúc.
- Xử lý số liệu bằng mô hình tuyến tính tổng quát (Generalized Linear Model - GLM) và các phép phân tích tương quan thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có tổng độ dài 131 trang (chưa kể phụ lục), gồm 3 chương chính, 41 bảng số liệu và 47 hình vẽ/đồ thị, kèm theo 9 phụ lục dài 34 trang.
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương 1 (22 trang) tổng thuật toàn diện cơ sở lý luận về phân loại học, hình thái học, đặc điểm tiêu hóa và sinh thái học của phân họ Colobinae, giống Trachypithecus và loài Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini). Tác giả so sánh đặc điểm hình thái và quỹ thời gian hoạt động của các loài linh trưởng ăn lá tại Việt Nam (Pygathrix cinerea, P. nigripes, P. nemaeus, Trachypithecus delacouri, T. margarita, T. crepusculus, Rhinopithecus avunculus). Chương này làm rõ cơ chế tiêu hóa lá nhờ dạ dày bốn ngăn, ý nghĩa sinh học của các thành phần dinh dưỡng (protein, đường, lipid, khoáng, Ca, xơ NDF, ADF, lignin, tannin) và 5 mô hình lựa chọn thức ăn của linh trưởng. Đồng thời, chương 1 mô tả điều kiện tự nhiên, khí hậu, kinh tế - xã hội vùng Hòn Chông và hiện trạng khai thác đá vôi, khai thác phốt pho tại huyện Kiên Lương.
Chương 2. Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 (17 trang) trình bày chi tiết về địa bàn nghiên cứu tại núi đá vôi Chùa Hang (diện tích 50 ha, tọa độ 10°08’11”N, 104°38’21”E), lý do lựa chọn địa điểm và tiến trình thu thập số liệu từ tháng 9/2013 đến tháng 2/2017. Chương này mô tả chi tiết quy trình kỹ thuật của phương pháp quan sát tập tính (scan-sampling, focal-animal sampling), thiết kế ô tiêu chuẩn và tuyến điều tra thực vật (phương pháp Braun-Blanquet, tuyến Husch, ô 5m x 5m), phương pháp theo dõi vật hậu học, quy trình phân tích trong phòng thí nghiệm đối với 28 mẫu thức ăn và mẫu đất, cùng các công cụ thống kê ứng dụng (GLM).
Chương 3. Kết quả và thảo luận
Chương 3 (84 trang) là phần nội dung trọng tâm của luận án, trình bày và thảo luận các kết quả nghiên cứu thực nghiệm:
-
Quần thể và vùng sống của Voọc bạc Đông Dương:
- Kích thước và cấu trúc quần thể: Ghi nhận 134 cá thể Voọc bạc Đông Dương tại núi Chùa Hang, phân chia thành 6 bầy độc lập với 5 kiểu hình thức tổ chức bầy khác nhau (gồm bầy một đực - nhiều cái và bầy nhiều đực - nhiều cái).
- Vùng sống: Tổng diện tích vùng sống của quần thể là 36,8 ha (chiếm 74% tổng diện tích khu vực nghiên cứu), trong đó diện tích vùng lõi (core area) là khoảng 5,5 ha.
-
Đặc điểm cấu trúc thảm thực vật và sinh cảnh:
- Hệ thực vật núi Chùa Hang liên quan đến hoạt động của voọc gồm 185 loài thuộc 61 họ phân bố trên 4 dạng sinh cảnh: vách núi, sườn núi, đỉnh núi và rừng ngập mặn.
- Sinh cảnh sườn núi có mức độ đa dạng thành phần loài cao nhất. Ba sinh cảnh vách núi, sườn núi và đỉnh núi có độ tương đồng phân loại học cao.
- Vật hậu học cho thấy sự biến động rõ rệt theo tháng và mùa của tỷ lệ xuất hiện lá non, lá già, chồi, hoa và quả, tác động trực tiếp đến tính sẵn có của thức ăn.
-
Quỹ thời gian hoạt động:
- Hoạt động ăn chiếm 45,0% tổng quỹ thời gian hoạt động ban ngày của voọc. Quỹ thời gian còn lại dành cho nghỉ ngơi, di chuyển và hoạt động xã hội.
- Quỹ thời gian có sự biến đổi linh hoạt theo giờ trong ngày, theo tháng, theo hai mùa (mùa mưa và mùa khô), cũng như có sự khác biệt giữa các nhóm giới tính và độ tuổi (con trưởng thành và con chưa trưởng thành).
-
Đặc điểm sinh thái dinh dưỡng và hóa học thức ăn:
- Thành phần loài thức ăn: Voọc bạc Đông Dương sử dụng 62 loài thực vật (thuộc 37 họ) làm thức ăn. Phân bố loài thức ăn theo sinh cảnh: vách núi tập trung nhiều nhất với 41 loài (chiếm 67% số loài thực vật trên vách đá), sườn núi có 31 loài, đỉnh núi có 24 loài và rừng ngập mặn có 4 loài.
- Có 15 loài thực vật làm thức ăn phân bố đồng thời trên cả 3 sinh cảnh vách núi, sườn núi và đỉnh núi.
- Có 8 loài cây thức ăn cốt lõi được voọc ăn liên tục trong suốt 12 tháng của năm: Phèn đen (Phyllanthus reticulatus), Da lâm vồ (Ficus rumphii), Sung bầu (Ficus tinctoria), Gừa (Ficus microcarpa), Duối ô rô (Streblus ilicifolia), Duối nhám (Streblus asper), Dây vác (Cayratia trifolia) và Quỳnh tàu (Combretum latifolium). Trong đó, 4 loài (Phyllanthus reticulatus, Ficus rumphii, Streblus ilicifolia, Cayratia trifolia) phân bố trên cả 3 sinh cảnh núi đá.
- Tỷ lệ các bộ phận thực vật được tiêu thụ:
| Bộ phận thực vật |
Tỷ lệ trong khẩu phần thức ăn (%) |
| Lá non |
58,0 |
| Quả |
22,7 |
| Lá trưởng thành (lá già) |
9,5 |
| Hoa |
4,7 |
| Chồi |
3,3 |
| Các bộ phận khác |
1,3 |
- Sự lựa chọn bộ phận thức ăn có sự phân hóa theo độ tuổi: cá thể trưởng thành ăn đa dạng các bộ phận (lá non, lá trưởng thành, quả, hoa, chồi), trong khi cá thể chưa trưởng thành tập trung ăn lá non, chồi và quả.
- Thành phần hóa dinh dưỡng: Trung bình trong mẫu thức ăn chứa: nước 73,68%, protein thô 5,58%, lipid 1,24%, khoáng tổng số 5,43%, đường 6,80%, canxi 0,97%, tỷ lệ protein/chất xơ (CP/ADF) đạt 0,14. Chất xơ chiếm tỷ lệ cao (>30% chất khô).
- Quy luật chọn lựa dinh dưỡng: Voọc ưu tiên chọn lá có hàm lượng lignin thấp, chọn hoa có hàm lượng đường cao, chọn quả có hàm lượng canxi và khoáng thấp. Hàm lượng dinh dưỡng có tương quan thuận với thời lượng ghi nhận ăn nhưng không có mối tương quan mang tính quyết định đến việc chọn ăn hay không ăn một loài thực vật.
- Mối quan hệ với đất: Đất tại núi Chùa Hang có tính kiềm nhẹ, giàu Ca nhưng nghèo K và Mg, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến đặc tính thực vật giàu chất xơ và hàm lượng protein thấp. Chiến lược của loài tại đây là tập trung vào các nguồn thức ăn chính đáp ứng ngưỡng hóa sinh phù hợp hơn là lựa chọn ngẫu nhiên theo mức độ sẵn có.
- Hiện trạng bảo tồn và đề xuất giải pháp:
- Đánh giá các nguy cơ chính: mất sinh cảnh do khai thác đá vôi lân cận, hoạt động du lịch, nguy cơ săn bắt.
- Kết quả phỏng vấn cộng đồng dân cư ấp Ba Trại và cán bộ quản lý chỉ ra các khoảng trống trong nhận thức và thực thi bảo tồn, làm cơ sở đề xuất 3 nhóm giải pháp bảo tồn tại chỗ và chuẩn bị dữ liệu đối sánh phục vụ phương án di dời.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Cung cấp dẫn liệu cập nhật, chính xác về kích thước quần thể (134 cá thể), 5 kiểu cấu trúc tổ chức bầy, quy mô vùng sống (36,8 ha) và vùng lõi (5,5 ha) của Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Xác định chi tiết cấu trúc thảm thực vật gồm 185 loài (61 họ) phân bố trên 4 kiểu sinh cảnh (vách núi, sườn núi, đỉnh núi, rừng ngập mặn) gắn với hoạt động sống của loài.
- Lần đầu tiên cung cấp bộ số liệu định lượng hoàn chỉnh tại Việt Nam về quỹ thời gian hoạt động (hoạt động ăn chiếm 45%) theo chu kỳ ngày, tháng, mùa, giới tính và độ tuổi trong môi trường tự nhiên.
- Lập danh mục chi tiết 62 loài thực vật làm thức ăn (thuộc 37 họ), xác định tỷ lệ các bộ phận tiêu thụ (lá non 58%, quả 22,7%, lá già 9,5%, hoa 4,7%, chồi 3,3%) và 8 loài thực vật cốt lõi được sử dụng quanh năm.
- Làm sáng tỏ đặc tính sinh thái dinh dưỡng thông qua phân tích hóa học 28 mẫu thức ăn và mẫu đất: xác định tỷ lệ nước (73,68%), protein (5,58%), lipid (1,24%), khoáng (5,43%), đường (6,8%), Ca (0,97%), tỷ lệ CP/ADF (0,14), chứng minh voọc lựa chọn lá có lignin thấp, hoa nhiều đường, quả ít Ca và khoáng; xác lập mô hình tương quan giữa dinh dưỡng thức ăn với thời gian ăn và đặc tính kiềm của đất núi đá vôi.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Duy trì và cải thiện sinh cảnh: Kết quả nghiên cứu về danh mục 62 loài thực vật làm thức ăn (đặc biệt là 8 loài cây thức ăn quanh năm như Phèn đen, Da lâm vồ, Sung bầu, Gừa, Duối ô rô, Duối nhám, Dây vác, Quỳnh tàu) cung cấp cơ sở khoa học để phục hồi sinh cảnh, làm giàu rừng và bổ sung nguồn thức ăn tự nhiên cho loài tại các khu bảo tồn.
- Cơ sở khoa học cho công tác di dời: Dữ liệu về diện tích vùng sống tối thiểu (36,8 ha cho 134 cá thể), cấu trúc bầy và thành phần dinh dưỡng là tiêu chuẩn kỹ thuật trực tiếp để đánh giá sức chứa, lựa chọn sinh cảnh tiếp nhận phù hợp khi thực hiện di dời các đàn voọc từ các núi đá vôi đang bị khai thác (Khoe Lá, Mo So).
- Kiến nghị giải pháp quản lý: Đề xuất chính quyền tỉnh Kiên Giang và các cơ quan quản lý tiếp tục tiến hành các nghiên cứu điều tra bổ sung về thành phần thức ăn và sinh cảnh tại các tiểu quần thể lân cận như Khoe Lá, Hang Tiền, Lô Cốc để đối sánh với Chùa Hang, từ đó đưa ra quyết định chính xác về việc nên di dời khẩn cấp hay thiết lập hành lang sinh cảnh bảo tồn tại chỗ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu thực địa tập trung chuyên sâu tại một địa điểm là núi đá vôi Chùa Hang (diện tích 50 ha), chưa thể bao quát toàn bộ 21 hòn núi đá vôi thuộc quần thể Kiên Lương.
- Dữ liệu hóa dinh dưỡng thực hiện trên 28 mẫu thức ăn thực vật đại diện (20 mẫu lá ăn, 4 mẫu lá không ăn, 5 mẫu quả, 3 mẫu hoa), chưa thể phân tích toàn bộ tất cả 62 loài cây thức ăn được ghi nhận do khó khăn trong việc thu thập mẫu trên các vách đá vôi dựng đứng hiểm trở.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng điều tra thành phần thức ăn, thảm thực vật và các yếu tố sinh thái - xã hội tại các tiểu quần thể Voọc bạc Đông Dương trên các núi đá vôi khác trong vùng Kiên Lương như núi Khoe Lá, Hang Tiền và Lô Cốc.
- Thực hiện các nghiên cứu so sánh đối sánh giữa các tiểu quần thể để đánh giá chính xác các động lực duy trì quần thể, làm cơ sở khoa học quyết định việc thiết lập hành lang xanh kết nối giữa các khối núi đá vôi, mở rộng phạm vi khu bảo tồn hoặc triển khai phương án di dời cá thể khỏi các khu vực mỏ khai thác.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Sinh thái học, Động vật học, Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về kết hợp giữa quan sát tập tính linh trưởng (scan-sampling, focal-animal sampling), điều tra thảm thực vật đá vôi (Braun-Blanquet, tuyến Husch) và kỹ thuật phân tích hóa sinh dinh dưỡng.
- Các nhà linh trưởng học và bảo tồn động vật hoang dã: Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu định lượng đầu tiên về sinh thái dinh dưỡng và tập tính hoang dã của loài Trachypithecus germaini.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và PTNT, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kiên Giang, Ban quản lý Rừng đặc dụng): Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng quy hoạch bảo tồn loài nguy cấp, thẩm định các dự án khai thác khoáng sản và xây dựng phương án di dời cứu hộ linh trưởng theo quy định.
Câu hỏi thường gặp
1. Quần thể Voọc bạc Đông Dương tại núi Chùa Hang có số lượng bao nhiêu cá thể và cấu trúc bầy đàn như thế nào?
Kết quả khảo sát giai đoạn 2013–2017 xác định quần thể tại núi đá vôi Chùa Hang có 134 cá thể, được phân chia thành 6 bầy độc lập với 5 kiểu hình thức tổ chức bầy khác nhau, bao gồm cả hình thức bầy một đực - nhiều cái và bầy nhiều đực - nhiều cái.
2. Vùng sống của quần thể Voọc bạc Đông Dương tại khu vực nghiên cứu có diện tích bao nhiêu?
Tổng diện tích vùng sống của quần thể Voọc bạc Đông Dương tại khu vực núi Chùa Hang là 36,8 ha (chiếm 74% diện tích khu vực nghiên cứu 50 ha), trong đó diện tích vùng sống lõi (core area) tập trung hoạt động khoảng 5,5 ha.
3. Voọc bạc Đông Dương tại núi Chùa Hang ăn những loại thực vật và bộ phận nào nhiều nhất?
Voọc sử dụng 62 loài thực vật (thuộc 37 họ) làm thức ăn, trong đó 8 loài cây được sử dụng liên tục suốt 12 tháng trong năm gồm: Phèn đen, Da lâm vồ, Sung bầu, Gừa, Duối ô rô, Duối nhám, Dây vác và Quỳnh tàu. Về bộ phận thực vật, lá non chiếm tỷ lệ cao nhất với 58,0%, tiếp theo là quả (22,7%), lá trưởng thành (9,5%), hoa (4,7%), chồi (3,3%) và các bộ phận khác (1,3%).
4. Hoạt động ăn chiếm bao nhiêu phần trăm trong quỹ thời gian của Voọc và loài có xu hướng lựa chọn dinh dưỡng như thế nào?
Hoạt động ăn chiếm 45,0% tổng quỹ thời gian hoạt động ban ngày của voọc. Về mặt hóa sinh dinh dưỡng, thức ăn của voọc chứa trung bình 73,68% nước, 5,58% protein thô, 1,24% lipid, 5,43% khoáng, 6,8% đường, 0,97% Ca và tỷ lệ protein/chất xơ đạt 0,14. Loài có xu hướng chủ động lựa chọn các mẫu lá có hàm lượng lignin thấp, hoa có hàm lượng đường cao và quả có hàm lượng Ca và khoáng thấp.
5. Đặc điểm đất tại núi Chùa Hang ảnh hưởng như thế nào đến nguồn thức ăn của loài?
Đất núi Chùa Hang có đặc tính kiềm nhẹ, hàm lượng Ca cao nhưng nghèo K và Mg. Tính chất thổ nhưỡng này dẫn đến đặc điểm thảm thực vật có hàm lượng chất xơ cao và protein thấp. Do đó, voọc thích nghi bằng chiến lược tập trung vào một số loài cây thức ăn chủ lực đáp ứng tiêu chuẩn dinh dưỡng hơn là ăn ngẫu nhiên theo mật độ cây có sẵn trong sinh cảnh.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lê Hồng Thía là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện đầu tiên về đặc điểm sinh thái, tập tính và sinh thái dinh dưỡng của loài Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini) trong sinh cảnh tự nhiên tại núi đá vôi Chùa Hang, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Luận án đã xác định quy mô quần thể gồm 134 cá thể phân bố trong 6 bầy với vùng sống 36,8 ha, đồng thời lập danh mục 62 loài thực vật làm thức ăn và phân tích chi tiết các chỉ tiêu hóa dinh dưỡng thức ăn gắn liền với đặc điểm thảm thực vật và thổ nhưỡng núi đá vôi. Các kết quả đạt được cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy và thiết thực, phục vụ trực tiếp cho công tác bảo tồn nguyên vị, cải thiện sinh cảnh và xây dựng các phương án di dời quần thể linh trưởng nguy cấp tại khu vực Tây Nam Bộ.