Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chi Trà (Camellia) thuộc họ Trà (Theaceae) là nhóm thực vật có giá trị kinh tế, dược liệu và cảnh quan cao, đồng thời có vai trò sinh thái quan trọng trong việc che phủ tầng dưới của các đai rừng phòng hộ đầu nguồn. Trên phạm vi toàn cầu, các loài Trà hoa vàng được phát hiện và nghiên cứu sâu từ những năm 1960 tại Quảng Tây (Trung Quốc) với các giá trị y dược đặc biệt như hạ huyết áp, kiểm soát đường huyết, giảm mỡ máu và ức chế khối u. Tại Việt Nam, Trà hoa vàng phân bố tự nhiên chủ yếu tại một số tỉnh trung du và miền núi phía Bắc như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Kạn. Tuy nhiên, trước sức ép từ việc suy thoái sinh cảnh rừng tự nhiên và áp lực thương mại do thương lái thu mua với giá cao, nguồn tài nguyên Trà hoa vàng hoang dã đang bị suy giảm nghiêm trọng.
Tại địa bàn xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, Trà hoa vàng (Camellia ssp.) phân bố tự nhiên trong rừng nhưng thông tin khoa học về đặc điểm sinh học, hoàn cảnh rừng và hiện trạng khai thác, sử dụng của người dân bản địa còn nhiều khoảng trống. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Nông Thị Ngoan (chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá đặc điểm sinh học, lâm học và nguồn tri thức bản địa về loài cây này.
Khóa luận xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Đánh giá được đặc điểm phân bố của cây Trà hoa vàng tại khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá được đặc điểm hoàn cảnh rừng nơi có loài Trà hoa vàng tại khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu tri thức địa phương về cây Trà hoa vàng tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển loài Trà hoa vàng tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây Trà hoa vàng (Camellia ssp.) phân bố tự nhiên trong rừng và các cá thể được người dân gieo trồng tại địa phương.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; trong đó các ô tiêu chuẩn thực địa được bố trí tập trung tại thôn Khuổi Lùng, kết hợp điều tra phỏng vấn tại các thôn lân cận (Bản Phè, Bản Mún 1).
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện trong giai đoạn đào tạo khóa học 2015 – 2019, hoàn thành nghiệm thu năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân loại học thực vật chi Camellia, phương pháp điều tra sinh thái rừng nhiệt đới và lý thuyết cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ. Tác giả áp dụng các chỉ số cấu trúc lâm phần kinh điển gồm:
- Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI) nhằm xác định vai trò sinh thái của từng loài cây trong quần xã. Theo Daniel Marmillod, loài có $IVI > 5%$ được xác định là loài có ý nghĩa sinh thái trong lâm phần; kết hợp quan điểm của Thái Văn Trừng (1978) về việc xác định nhóm loài ưu thế khi chiếm trên $50%$ tổng số cá thể tầng cây cao.
- Các chỉ số đa dạng sinh học quần xã gồm chỉ số đa dạng Shannon - Wiener ($H'$) và chỉ số ưu thế Simpson ($D$).
- Công thức tính diện tích hình chiếu tán lá ($S_t = \pi \times (\frac{D_t}{2})^2$) và quy đổi mật độ cá thể trên một hecta ($N = \frac{10.000 \times n}{S}$).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu bao gồm:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Mỹ Phương; tổng quan các công trình nghiên cứu về hình thái, sinh hóa, nhân giống giâm hom và bảo tồn Trà hoa vàng trong nước và quốc tế.
- Phương pháp phân loại học và điều tra sơ thám: Quan sát, mô tả hình thái và đo đếm kích thước các cơ quan (thân, vỏ, lá, hoa, quả) bằng thước dây, thước kẹp cơ khí, thước đo cao Blume-Leiss và thước sào đo cao. Lấy mẫu tiêu bản thực vật, đối chiếu tài liệu và tham vấn chuyên gia hướng dẫn nhằm định danh chi và phân loại sơ bộ.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân: Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc để phỏng vấn các đối tượng am hiểu tài nguyên rừng (người thường xuyên khai thác lâm sản, thợ rừng, người cao tuổi, cán bộ kiểm lâm địa bàn) nhằm thu thập tri thức bản địa về mùa hoa, mùa quả, phân bố sinh cảnh, công dụng chữa bệnh, phương thức khai thác và tình hình thuần dưỡng, gieo trồng tại hộ gia đình.
- Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC) và ô dạng bản (ODB): Lập tuyến điều tra thực địa cắt ngang các dạng địa hình và trạng thái rừng tại thôn Khuổi Lùng. Bố trí 2 tuyến khảo sát, trên mỗi tuyến lập 3 OTC điển hình tạm thời (tổng cộng 6 OTC), diện tích mỗi OTC là $1.000\text{ m}^2$ ($40\text{ m} \times 25\text{ m}$), khoảng cách giữa các ô tối thiểu $500\text{ m}$. Trong mỗi OTC:
- Điều tra tầng cây gỗ cao ($D_{1.3} \ge 5\text{ cm}$): Xác định tên loài, đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), đo đường kính hình chiếu tán ($D_t$) theo hai hướng vuông góc Đông - Tây và Nam - Bắc.
- Điều tra tái sinh và thảm tươi: Thiết lập 5 ô dạng bản thứ cấp (ODB) diện tích $25\text{ m}^2$ ($5\text{ m} \times 5\text{ m}$) tại 4 góc và 1 tâm của mỗi OTC. Thu thập số lượng cây Trà hoa vàng tái sinh, nguồn gốc tái sinh (chồi hay hạt), cấp chiều cao, chất lượng cây con (tốt, trung bình, xấu) và đo đếm thành phần tầng cây bụi, thảm tươi.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần này làm rõ tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh nguồn gen Trà hoa vàng tự nhiên tại miền Bắc Việt Nam nói chung và xã Mỹ Phương nói riêng đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt do khai thác tự phát. Tác giả xác lập 4 mục tiêu nghiên cứu, khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu lâm học về hoàn cảnh rừng, cấu trúc phân bố của loài Trà hoa vàng tại tỉnh Bắc Kạn; đồng thời nêu bật ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở để chính quyền địa phương và cộng đồng xây dựng phương án bảo tồn, khai thác bền vững.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương tổng quan được chia thành ba mảng nội dung chính:
- Nghiên cứu trên thế giới: Giới thiệu lịch sử nghiên cứu chi Camellia (hơn 300 loài). Trình bày các thành tựu sinh hóa của Trung Quốc chứng minh trong lá Trà hoa vàng chứa nhiều nguyên tố vi lượng (Germanium, Selenium, Vanadium, Mangan, Molypden, Kẽm) cùng các hoạt chất có khả năng giảm cholesterol máu ($35%$), giảm lipoprotein ($36,1%$) và kiềm chế sự phát triển của khối u ($33,8%$). Nêu các mô hình bảo tồn gen, công viên Trà hoa vàng tại Nam Ninh và các sản phẩm thương mại chế biến sâu (như Golden Camellia giá 4,67 triệu đồng/chai).
- Nghiên cứu trong nước: Điểm lại lịch sử ghi nhận Trà hoa vàng từ năm 1910 bởi người Pháp và các công trình sau những năm 1990; phân tích các kết quả nghiên cứu nhân giống giâm hom loài C. euphlebia và C. tonkinensis của Đỗ Đình Tiến (2000), Ngô Quang Đê (2008) đạt tỷ lệ ra rễ 50 – 86%; nghiên cứu mã hóa rARN 5.8S của Nguyễn Thị Nga (2003) trên C. petelotii; nghiên cứu thành phần hóa học của Viện Dược liệu.
- Tổng quan khu vực nghiên cứu: Trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên xã Mỹ Phương (diện tích 57,05 km², dân số 3.353 người, mật độ 58,8 người/km²; địa hình núi cao hiểm trở thuộc dãy Phja Bjoóc đỉnh cao 1.578m, khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình 21 – 23°C, lượng mưa trung bình > 1.600 mm/năm, đất lâm nghiệp chiếm trên 80%) và điều kiện kinh tế - xã hội (10 dân tộc cùng sinh sống, thu nhập bình quân 15,25 triệu đồng/người/năm, nguồn sống chính dựa vào nông lâm nghiệp).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu thực địa, tiêu chuẩn lập tuyến, quy cách thiết lập ô tiêu chuẩn $1.000\text{ m}^2$ và ô dạng bản $25\text{ m}^2$, các dụng cụ ngoại nghiệp (máy định vị GPS, địa bàn, thước dây, thước kẹp, thước Blume-Leiss). Nêu rõ quy trình điều tra phỏng vấn mẫu biểu dân sinh và hệ thống toàn bộ các công thức toán học lâm sinh dùng để tính toán tổ thành tầng cây cao ($IVI$), diện tích tán, mật độ lâm phần, chỉ số đa dạng sinh học ($H'$, $D$) và phân cấp chất lượng cây tái sinh.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập hợp toàn bộ dữ liệu thực địa và phân tích định lượng của khóa luận:
- Đặc điểm sinh học và hình thái: Kết quả khảo sát thực tế và phỏng vấn người dân (75% ý kiến) ghi nhận Trà hoa vàng tại Mỹ Phương là cây gỗ nhỏ, cao trung bình 2 – 3m, đường kính gốc 2 – 3cm, vỏ màu vàng xám nhạt, thường xanh. Lá đơn mọc cách, phiến bầu dục dày cứng, dài nhẵn, không lông, mép có răng cưa nhỏ đều; lá non màu tím than đặc trưng, chồi lá màu nâu đỏ; hệ gân có 12 – 15 đôi gân bên. Hoa màu vàng tươi mọc đơn độc ở đầu cành hoặc nách lá, cuống hoa dài 5 – 8mm, đường kính hoa nở 3 – 4cm, mang 13 – 16 cánh tràng, hoa nở bền từ 8 – 10 ngày; mùa ra hoa từ tháng 10 đến tháng 12 (thời kỳ tạo nụ bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10). Quả thuộc dạng quả nang hình tròn, non màu xanh thẫm, khi già khô màu nâu đỏ và nứt múi; chu kỳ quả tồn tại kéo dài gần 1 năm (từ tháng 11 – 12 năm trước đến tháng 12 năm sau).
- Đặc điểm tái sinh: Loài có khả năng sinh trưởng tự nhiên chậm; khảo sát thực tế phát hiện 1 khóm cây con tái sinh từ hạt (chiều cao 5 – 10cm) dưới gốc cây mẹ tại khu rừng của hộ ông Triệu Thanh Bảo.
- Tri thức địa phương: Bộ phận sử dụng gồm hoa (thu hái tháng 10 – 11) và lá già (thu hái quanh năm). Người dân sử dụng làm cảnh và dùng làm thuốc hỗ trợ điều trị huyết áp cao, bệnh tim mạch, phòng chống u bướu, giải độc gan, giảm béo và kiểm soát đường huyết. Khai thác tự nhiên chủ yếu để bán sản phẩm thô cho thương lái Trung Quốc. Việc gây trồng còn mang tính tự phát nhỏ lẻ: tại thôn Khuổi Lùng chỉ có 3 hộ đưa về trồng quanh vườn nhà với tổng số khoảng 30 gốc (chủ yếu là gia đình ông Triệu Thanh Bảo trồng phục vụ bốc thuốc nam).
- Cấu trúc rừng nơi loài phân bố:
- Phân bố theo loại rừng (theo ý kiến khảo sát): Rừng phục hồi chiếm tỷ lệ bắt gặp cao nhất ($33%$), tiếp đến là rừng tự nhiên nghèo ($27%$), rừng hỗn giao tre nứa ($20%$), rừng trung bình ($13%$), rừng giàu ($7%$) và không bắt gặp ở rừng rất giàu.
- Phân bố theo địa hình: Trà hoa vàng phân bố ở dải độ cao từ 230m đến 349m so với mực nước biển, độ dốc sườn núi dao động từ 23° đến 33°.
- Đặc trưng lâm phần tại 6 OTC: Đều thuộc trạng thái rừng tự nhiên phục hồi/rừng nghèo, trữ lượng gỗ thấp dao động từ $10,01\text{ m}^3/\text{ha}$ đến $13,39\text{ m}^3/\text{ha}$. Đường kính ngang ngực trung bình lâm phần ($D_{1.3}$) đạt 15,23 – 17,50 cm; chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$) đạt 6,77 – 9,71 m; tổng tiết diện ngang ($G$) đạt 2,30 – 3,80 $\text{m}^2/\text{ha}$.
- Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ: Ghi nhận 23 loài cây gỗ, trong đó có 7 loài ưu thế sinh thái ($IVI > 5%$): Mỡ ($10,58%$), Nhội ($7,98%$), Bứa ($7,25%$), Sui ($7,15%$), Sấu ($7,00%$), Bồ đề ($5,88%$), Phay ($5,30%$); 16 loài khác chiếm tổng $IVI$ là $48,88%$.
- Đặc trưng chiều cao và mật độ: Chiều cao bình quân của Trà hoa vàng chỉ đạt từ 1,38m đến 2,14m, phân bố hoàn toàn ở tầng dưới (tầng cây bụi) dưới tán tầng cây cao có chiều cao bình quân 6,77 – 9,71 m. Mật độ tầng cây cao dao động từ 128 đến 140 cây/ha (trung bình 135 cây/ha); mật độ Trà hoa vàng dao động từ 8 đến 24 cây/ha (trung bình 18 cây/ha).
- Đa dạng loài: Số loài thực vật trong các OTC biến động từ 21 đến 23 loài.
- Đề xuất giải pháp: Xây dựng nhóm giải pháp về chính sách (tuyên truyền nâng cao ý thức, liên kết nhà khoa học - doanh nghiệp - người dân, thu hút vốn đầu tư bảo tồn, tập huấn chế biến hoa) và nhóm giải pháp kỹ thuật (bảo tồn tại chỗ in situ, bảo tồn chuyển chỗ ex situ, điều tra lập địa toàn diện, xây dựng quy trình nhân giống vô tính bằng giâm hom).
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Chương tổng kết các phát hiện cơ bản về đặc tính ưa bóng, phân bố sinh thái ven thung lũng, khe suối có độ cao 230 – 349m; nhấn mạnh thực trạng số lượng cá thể tự nhiên còn rất ít do nương rẫy và áp lực thu mua từ thương lái. Tác giả kiến nghị 5 nội dung trọng tâm gửi cơ quan quản lý: khoanh vùng bảo vệ nguyên vị, ban hành chế tài xử phạt khai thác trái phép, đầu tư cơ sở nhân giống giâm hom, định hướng quy hoạch vùng nguyên liệu và ban hành hướng dẫn kỹ thuật thu hái, bảo quản cho người dân.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực địa định lượng về điều kiện lập địa, cấu trúc lâm phần và mật độ cá thể loài Trà hoa vàng tại xã Mỹ Phương. Các dữ liệu đo đếm chính tại 6 ô tiêu chuẩn được tổng hợp trong các bảng sau:
| Ký hiệu OTC |
Địa điểm |
Độ cao (m) |
Độ dốc (độ) |
$D_{1.3}$ TB (cm) |
$H_{vn}$ TB (m) |
Tiết diện ngang $G$ ($\text{m}^2/\text{ha}$) |
Trữ lượng gỗ $M$ ($\text{m}^3/\text{ha}$) |
Mật độ cây gỗ (cây/ha) |
Mật độ Trà hoa vàng (cây/ha) |
Chiều cao TB Trà hoa vàng (m) |
Trạng thái rừng |
| OTC 1 |
Khuổi Lùng |
330 |
30 |
15,38 |
8,92 |
2,89 |
12,95 |
140 |
24 |
1,38 |
Rừng nghèo |
| OTC 2 |
Khuổi Lùng |
290 |
33 |
15,23 |
8,98 |
2,90 |
13,22 |
132 |
12 |
1,50 |
Rừng nghèo |
| OTC 3 |
Khuổi Lùng |
230 |
28 |
15,23 |
9,71 |
2,30 |
10,01 |
140 |
8 |
1,45 |
Rừng nghèo |
| OTC 4 |
Khuổi Lùng |
320 |
25 |
16,26 |
6,77 |
3,24 |
10,24 |
128 |
20 |
1,76 |
Rừng nghèo |
| OTC 5 |
Khuổi Lùng |
349 |
27 |
17,50 |
6,81 |
3,80 |
11,15 |
140 |
24 |
1,52 |
Rừng nghèo |
| OTC 6 |
Khuổi Lùng |
343 |
23 |
16,05 |
9,13 |
3,02 |
13,39 |
128 |
20 |
2,14 |
Rừng nghèo |
Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ khu vực có Trà hoa vàng phân bố được xác định với công thức tổ thành dựa trên chỉ số quan trọng $IVI$:
| STT |
Tên loài cây |
Tỷ lệ số cây $A_i$ (%) |
Độ ưu thế $D_i$ (%) |
Tần suất xuất hiện $RF_i$ (%) |
Chỉ số quan trọng $IVI_i$ (%) |
| 1 |
Mỡ |
12,62 |
12,88 |
6,25 |
10,58 |
| 2 |
Nhội |
7,77 |
12,02 |
4,17 |
7,98 |
| 3 |
Bứa |
8,74 |
6,75 |
6,25 |
7,25 |
| 4 |
Sui |
7,77 |
7,44 |
6,25 |
7,15 |
| 5 |
Sấu |
5,83 |
8,93 |
6,25 |
7,00 |
| 6 |
Bồ đề |
6,80 |
4,58 |
6,25 |
5,88 |
| 7 |
Phay |
7,77 |
3,96 |
4,17 |
5,30 |
| 8 |
16 loài khác |
42,72 |
43,43 |
60,42 |
48,88 |
Công thức tổ thành tầng cây gỗ tổng quát:
$$\text{Tổ thành} = 10,58\text{ Mỡ} + 7,98\text{ Nhội} + 7,25\text{ Bứa} + 7,15\text{ Sui} + 7,00\text{ Sấu} + 5,88\text{ Bồ đề} + 5,30\text{ Phay} + 48,88\text{ Loài khác}$$
Các phát hiện và đóng góp chính:
- Làm sáng tỏ đặc điểm sinh học và chu kỳ vật học: Cây Trà hoa vàng tại Mỹ Phương mang các đặc trưng hình thái ổn định (hoa đường kính 3 – 4cm, 13 – 16 cánh tràng, lá có 12 – 15 đôi gân, chồi non tím than, mùa hoa tháng 10 – 12, chu kỳ quả kéo dài 12 tháng).
- Xác định môi trường sinh thái: Loài sinh trưởng dưới tán rừng nghèo kiệt có độ che bóng cao, mật độ cá thể hoang dã rất thấp (chỉ đạt 8 – 24 cây/ha, trung bình 18 cây/ha).
- Ghi nhận tri thức địa phương: Đánh giá thực trạng sử dụng, nhận thức của người dân về giá trị dược liệu và phản ánh thực trạng khai thác bán cho thương lái Trung Quốc, cũng như bước đầu ghi nhận việc thuần dưỡng quy mô nhỏ (3 hộ trồng 30 cây tại thôn Khuổi Lùng).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi lập ô tiêu chuẩn điều tra thực địa mới chỉ tập trung tại một thôn (Khuổi Lùng), các thông tin phân bố tại thôn Bản Phè và Bản Mún 1 mới dừng lại ở kết quả tham vấn, phỏng vấn người dân.
- Định danh loài mới dừng ở cấp độ chi (Camellia ssp.) thông qua hình thái so sánh, chưa tiến hành giải mã trình tự gen hoặc phân tích giải phẫu học chi tiết để xác định chính xác danh pháp khoa học cấp loài.
- Dẫn liệu về tái sinh tự nhiên còn hạn chế (mới ghi nhận 1 khóm tái sinh hạt và 3 cây con di dời tại vườn nhà), chưa đánh giá được toàn diện diễn thế tái sinh qua các mùa trong năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điều tra ô tiêu chuẩn trên toàn huyện Ba Bể và các vùng lân cận thuộc tỉnh Bắc Kạn nhằm vẽ bản đồ phân bố chi tiết của loài.
- Ứng dụng chỉ thị phân tử sinh học để xác định chính xác tên loài trong chi Camellia.
- Tiến hành các thí nghiệm chuyên sâu về nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom và kỹ thuật gieo ươm hạt để xây dựng quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh phục vụ bảo tồn chuyển chỗ và trồng sản xuất.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và hoạt động nghiên cứu sau:
- Sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh học thực vật và Dược liệu học: Tham khảo khung phương pháp lập ô tiêu chuẩn $1.000\text{ m}^2$ điều tra loài thực vật dưới tán rừng tự nhiên, cách ứng dụng chỉ số $IVI$ để phân tích cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ và phương pháp điều tra tri thức bản địa thông qua phiếu phỏng vấn.
- Cán bộ quản lý lâm nghiệp, kiểm lâm và chính quyền địa phương huyện Ba Bể: Sử dụng số liệu thực tế về mật độ (18 cây/ha), độ cao phân bố (230 – 349m) và các tác động khai thác thương mại để làm căn cứ xây dựng kế hoạch khoanh nuôi bảo vệ, quản lý bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm tại chỗ.
- Các hộ dân và cơ sở phát triển cây dược liệu: Tham khảo đặc điểm sinh thái ưa bóng, độ dốc, đặc tính đất đai và kinh nghiệm gieo trồng sơ khởi của người dân thôn Khuổi Lùng để thử nghiệm gây trồng Trà hoa vàng dưới tán rừng phục hồi.
Câu hỏi thường gặp
1. Loài Trà hoa vàng tại xã Mỹ Phương phân bố chủ yếu ở những trạng thái rừng nào và ở dải độ cao bao nhiêu?
Dữ liệu khảo sát người dân cho thấy loài được bắt gặp nhiều nhất ở rừng phục hồi ($33%$) và rừng tự nhiên nghèo ($27%$), tiếp theo là rừng hỗn giao tre nứa ($20%$). Thực tế điều tra tại 6 ô tiêu chuẩn ghi nhận loài phân bố ở dải độ cao từ 230m đến 349m so với mực nước biển, độ dốc sườn núi từ 23° đến 33°.
2. Cấu trúc tầng cây gỗ nơi có Trà hoa vàng phân bố có những loài cây nào chiếm ưu thế?
Tầng cây cao tại khu vực nghiên cứu gồm 23 loài cây gỗ với mật độ trung bình 135 cây/ha. Trong đó, có 7 loài có ý nghĩa sinh thái ($IVI > 5%$), dẫn đầu là Mỡ ($10,58%$), Nhội ($7,98%$), Bứa ($7,25%$), Sui ($7,15%$), Sấu ($7,00%$), Bồ đề ($5,88%$) và Phay ($5,30%$).
3. Đặc điểm hình thái cơ bản của lá, hoa và quả cây Trà hoa vàng tại Mỹ Phương được ghi nhận như thế nào?
Cây là dạng thân gỗ nhỏ cao 2 – 3m, đường kính 2 – 3cm. Lá đơn mọc cách phiến bầu dục dày cứng, mép răng cưa nhỏ đều, có 12 – 15 đôi gân, lá non màu tím than. Hoa màu vàng tươi mọc đơn độc, đường kính 3 – 4cm, có 13 – 16 cánh tràng, nở từ tháng 10 đến tháng 12 và bền 8 – 10 ngày. Quả nang tròn, non xanh thẫm, khô nâu đỏ nứt khi già, chu kỳ quả kéo dài khoảng 1 năm trên cây.
4. Mật độ cá thể Trà hoa vàng và tầng cây gỗ tại 6 ô tiêu chuẩn biến động như thế nào?
Mật độ tầng cây gỗ dao động từ 128 đến 140 cây/ha (trung bình 135 cây/ha). Mật độ Trà hoa vàng dao động từ 8 đến 24 cây/ha (trung bình 18 cây/ha). Chiều cao trung bình của Trà hoa vàng đạt từ 1,38m đến 2,14m, nằm hoàn toàn ở tầng cây bụi dưới tán lâm phần cao 6,77 – 9,71m.
5. Người dân địa phương khai thác và gây trồng cây Trà hoa vàng như thế nào?
Người dân thu hái hoa vào tháng 10 – 11 và lá già quanh năm để làm thuốc hoặc bán thô cho thương lái Trung Quốc; một số trường hợp chặt cả cây. Việc gây trồng còn rất hạn chế, toàn thôn Khuổi Lùng chỉ có 3 hộ trồng khoảng 30 gốc quanh vườn nhà bằng cách bứng cây con hoặc đào cả gốc từ rừng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nông Thị Ngoan đã xác lập những dẫn liệu thực địa ban đầu về đặc điểm hình thái sinh học, cấu trúc lâm phần và tri thức sử dụng cây Trà hoa vàng (Camellia ssp.) tại xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả nghiên cứu chứng minh đây là loài cây gỗ nhỏ ưa bóng mọc rải rác dưới tầng cây bụi của rừng phục hồi nghèo kiệt ở độ cao 230 – 349m, chịu sự chi phối sinh thái của các loài cây gỗ ưu thế như Mỡ, Nhội, Bứa. Trước thực trạng mật độ cá thể tự nhiên còn rất thấp (18 cây/ha) và nguy cơ cạn kiệt do khai thác thương mại, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp khả thi về khoanh vùng bảo vệ nguyên vị kết hợp phát triển kỹ thuật nhân giống vô tính nhằm bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên này.