ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus) có tên khác là tam thất hoang Mường Tè; Tam thất rừng; Tam thất đen. Loài cây này được Zhu và cộng sự đã mô tả là một thứ mới, bậc phân loại dưới loài của Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis). Thứ này được phát hiện đầu tiên tại vùng Jinping, phía nam của tỉnh Vân Nam - Trung Quốc.
Mới gần đây nhóm nghiên cứu của Phan Kế Long và cộng sự (2013) đã phát hiện thứ Panax vietnamensis var. fuscidiscus nói trên có phân bố ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và được gọi tên là Sâm lai châu, thuộc chi nhân sâm (Panax L.), họ Ngũ gia bì (Araliaceae) … Sâm lai châu có phân bố ở dãy núi Pu Si Lung, thuộc Mường Tè và tây Sìn Hồ, giáp biên giới với Trung Quốc và dãy núi Pu Sam Cáp nằm giữa các huyện Sìn Hồ,Tam Đường với Thành phố Lai Châu. Sâm lai châu phân bố dưới tán rừng nguyên sinh, lá rộng, thường xanh mưa mùa nhiệt đới, nơi tiếp giáp giữa đai núi thấp và đai núi trung bình, trên tầng A1 của đất Humic Acrisols (ACu) phát triển đá phiến sét, đá silicát, giàu mùn và các chất dinh dưỡng, dưới chế độ khí hậu gió mùa nhiệt đới vùng núi, mùa hè, không có thời kì khô rõ rệt, nhưng có đến ít nhất 5 tháng lạnh. Sâm lai châu là loài cây hoang dã, có hàm lượng saponin (có tác dụng chống lão hóa, chữa bệnh tiểu đường, bảo vệ tim mạch, chống stress, ngừa ung thư.) cao hơn nhiều lần so với các loại sâm khác trên thế giới.
Trên thị trường hiện nay giá 1kg Sâm lai châu cao gấp từ 5 đến 6 lần giá Sâm Hàn Quốc và 7 đến 8 lần giá Sâm Mỹ [12]. Sâm lai châu là cây dược liệu rất có giá trị trong việc ph ng và điều trị bệnh cho con người. Với sự phân bố tự nhiên của cây Sâm lai châu trong điều kiện môi trường sinh thái đặc biệt đã tạo ra sự quý hiếm và đặc hữu; số lượng hạn chế nên giá cả thị trường tăng cao, giá sâm củ bình quân 20 triệu đồng/kg, PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 2 có lúc lên đến 45 triệu đồng/kg. Trong một thời gian dài chưa có sự quản lý chặt chẽ và do nạn khai thác quá mức thân, rễ để xuất khẩu sang Trung Quốc làm thuốc quý và môi trường sống bị con người tác động nghiêm trọng (chặt phá rừng để khai thác gỗ, làm nương rẫy và nhất là trồng Thảo quả (Amomum tsaoko), và không đi đôi với công tác bảo tồn và phát triển, đã làm cho cây Sâm lai châu hoang dã giảm mạnh về số lượng trong rừng tự nhiên, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng.
Sâm lai châu hiện bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ trầm trọng (CR) theo các điều khoản A2a,c,d; B2b (ii,iii,v); C2a (i); E (Tiêu chuẩn IUCN, 2010). Đứng trước thực trạng đó đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của loài Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus) tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu” là rất ý nghĩa và cần thiết. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới 1. Tên gọi, phân loại và đặc điểm hình thái loài Sâm lai châu Chi Panax L. thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae) gồm 6 - 8 loài, trong đó ở Bắc Mỹ chỉ có 1 loài, 5 -7 loài còn lại tập trung ở Đông Á (kể cả Himalaya); riêng Trung Quốc có 6 loài mọc tự nhiên (Mabberley, 1993; Xiang, Q. Sâm lai châu (Panax vietnamensis var.
fuscidiscus), được gọi là “Yesanqi” ở Trung Quốc, là một thứ mới của loài Panax vietnamensis, lần đầu được tìm thấy ở Jinping, phía nam của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, có tọa độ 22047’38” vĩ độ Bắc, 10302’22” kinh độ Đông. Kỹ thuật giải trình tự gen với đặc tính ổn định, có độ chính xác đang được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu phân loại, đa dạng di truyền và phát sinh hệ thống của một số loài thực vật. (Zhu et al., 2003)[29] trên cơ sở phân tích dữ liệu gen trnK và 18S-rRNA cho thấy hai thứ của loài sâm Việt (Panax vietnamensis Ha & Grushv): thứ Sâm ngọc linh (Panax vietnamensis var. fuscididscus), thứ Sâm lai châu (Panax vietnamensis var.
Cai) Sâm Langbiang (Panax vietnamensis var. langbiamensis) phân bố ở núi Lang Biang (Lâm Đồng) có mối quan hệ gần gũi và chung nhánh với Panax zingiberensis có nguồn gốc ở tỉnh Vân Nam. Năm 2004, Zhu Shu và cộng sự [24] đã xác định được thành phần chính của Sâm lai châu là saponin khung dammaran. Bằng phương pháp HPLC, nhóm nghiên cứu này đã xác định sơ bộ sự có mặt của các hợp chất ginsenosid Rb1 (6,15 -15,59 mg/g), Rc (0,83 - 2,25 mg/g), Rd (0,18 - 5,97 mg/g), Re (0,96 - 3,67 mg/g), Rg1 (23,05 - 56,70 mg/g), notoginsenosid Ro trong thân rễ của loài này.
Nghiên cứu này chủ yếu kết luận dựa trên sắc ký lỏng hiệu quả cao, chưa nghiên cứu chiết tách phân lập các hợp chất tinh khiết PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 từ loài này. Guang - Hui Zhang và cộng sự [27] đã tìm thấy sự có mặt của các hợp chất saponin chính trong thân rễ loài này bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng detector ELSD gồm majonosid R2, ginsenosid Rg1, Rb1, Rd và notoginsengosid R1 lần lượt là 68 mg/g, 52,7 mg/g, 17,9 mg/g, 3,2 mg/g và 17,8 mg/g. Komatsu et al. (2005)[22] đã phân tích định tính saponin ở 6 mẫu của một số loài và thứ trong chi Panax bao gồm P.
Kết quả phân tích cho thấy hai thứ P. fuscidiscus về cơ bản có số lượng các saponin, trong đó có majonoside R2 như nhau nhưng có sai khác về hàm lượng. Đặc điểm sinh thái và phân bố Loài Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus) được phân bố ở phía nam của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
Sâm lai châu sống dưới tán rừng nguyên sinh, rậm, thường xanh mưa mùa nhiệt đớii cây lá rộng, nơi tiếp đất giữa đai núi thấp và đai núi trung bình, trên tầng A1 của đất Humic Acrisols (Acu) phong hóa của đá phiến thạch sét và đá silicat, giàu mùn và các dinh dưỡng, dưới chế độ khí hậu gió mùa nhiệt đới vùng núi, mưa hè, không có thời kỳ khô rõ rệt, nhưng có ít nhất 5 tháng lạnh. Về giá trị sử dụng Theo y học cổ truyền Trung Quốc, cây Sâm lai châu có củ làm thuốc bổ, phục hồi sức khỏe và chữa các bệnh về suy nhược cơ thể, thần kinh, thổ huyết, chảy máu do tổn thương. Lá dùng làm trà uống. Yamasaki (1999) đã công bố 23 saponin trong đó có 14 hợp chất mới có trong P.
Phần lớn các saponin này tương tự với P.ginseng như protoPanaxadiol và protoPanaxatriol nhưng hàm lượng cao hơn. Đặc biệt PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 P. vietnamensis chứa hàm lượn ocotillol saponin như majonoside - R2 rất cao (5,5% trong thân rễ khô) có tác dụng an thần cao mà P. Hơn nữa, majonoside - R2 có khả năng kháng Epstein - Barr virus early antigen (EBV-EA) là tác nhân gây bệnh ung thư v m họng.
Duc et al. (1993, 1994ab, 1999) đã nghiên cứu và công bố tổng số 49 saponin được tìm thấy từ P. vietnamensis, còn Tran et al. (2001) đã phát hiện thêm 2 saponin mới là ginsenoside Rh5 và vina ginsenoside R25 bằng phương pháp HPLC/MS.
Chọn giống, nhân giống, kỹ thuật trồng, bảo tồn và phát triển Trên thế giới chưa có nhiều nghiên cứu sâu về bảo tồn loài Sâm lai châu. Nó được coi là những cây thuốc đang bị đe dọa tuyệt chủng ở Trung Quốc và Việt Nam. Việc nghiên cứu trồng bảo tồn và phát triển loài Sâm lai châu ở Trung Quốc cũng mới chỉ dừng lại ở mức đề xuất mà chưa có các nghiên cứu gây trồng và phát triển cụ thể. Đây cũng chính là một trong những tồn tại trong nghiên cứu nhân giống, gây trồng trên thế giới nhằm bảo tồn cũng như phát triển nguồn gen loài Sâm lai châu.
Qua các nghiên cứu về phân loại, đặc điểm sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng cũng như khả năng nhân giống, gây trồng và bảo tồn loài Sâm lai châu trên thế giới còn rất nhiều vấn đề tồn tại cần giải quyết. Sâm lai châu là cây có giá trị sử dụng nhưng do là loài cây có phân bố hẹp chỉ có ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và vùng Jinping, Vân Nam nên việc nghiên cứu về loài cây này cũng gặp rất nhiều hạn chế. Đặc biệt, việc nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng để bảo tồn và phát triển Sâm lai châu còn là một khoảng trống. Một số nhà thực vật Trung Quốc và Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc mô tả và phân loại, cũng như đánh giá đa dạng di truyền giữa các loài trong chi Panax mà chưa có những nghiên cứu thực sự đi sâu vào vấn đề nhân giống, kỹ thuật lâm sinh trong việc gây trồng phát triển và bảo tồn loài này.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu chọn giống, nhân giống và kỹ thuật trồng là cơ sở cho các giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Sâm lai châu. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 1. Tên gọi, phân loại và đặc điểm hình thái của loài Sâm lai châu Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. fuscidiscus) có tên gọi khác là Tam thất hoang Mường Tè; Tam thất rừng; Tam thất đen.
Sâm lai châu một loài cây thuốc mới, ít được biết đến ở Việt Nam đã được Phan Kế Long et al., (2014)[8] xác định gần nhất với thứ Sâm lai châu (Panax vietnamensis var. Cai), một thứ mới cho khoa học của loài sâm Việt. Sâm lai châu hiện được liệt kê ở thứ hạng Bị tuyệt chủng trầm trọng (CR) vì đáp ứng các tiêu chí A2a, B2b(ii, iii, v); C2a (i); E (tiêu chuẩn IUCN, 2010). Nguyên nhân là do nạn khai thác quá mức thân rễ để xuất sang Trung Quốc làm thuốc quý và môi trường sống bị con người tác động nghiêm trọng (chặt phá rừng để khai thác gỗ, làm nương rẫy và nhất là trồng Thảo quả Amomum tsaoko).
thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae) gồm 6 - 8 loài. Ở Việt Nam đã biết 3 - 4 loài (Ha & Grushv., 1985; Phạm Hoàng Hộ, 2000)[5], còn nếu tính cả taxon dưới loài và thứ thì lên đến 15 (Lê Thanh Sơn và Nguyễn Tập, 2003)[20]. Tất cả các loài đều có giá trị làm thuốc, một số có giá trị rất cao, mang lại nguồn thu hàng trăm triệu USD như sâm Triều Tiên (Panax ginseng), sâm Mỹ (Panax quinquefolius), sâm Nhật (Panax japonicus) và Tam thất (Panax notoginseng) (Mabberley, D., 1993; Lê Thanh Sơn và Nguyễn Tập, 2003; Nguyễn Tập, 2005, Xiang, Q.