Đặt vấn đề Họ Lan (danh pháp khoa học: Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bổ nhiều nơi trên thế giới. Vườn thực vật hoàng gia Kew liệt kê 880 chi và gần 22.000 loài được chấp nhận, nhưng số lượng chính xác vẫn không rõ (có thể nhiều tới 25.000 loài) do các tranh chấp phân loại học Hoa Lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loài hoa. Hoa Lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa Lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến dạng hình thân, lá, cành duyên dáng ít có loài hoa nào sánh nổi.
Mầu sắc thắm tươi, đủ vẻ, từ trong như ngọc, trắng như ngà, êm mượt như nhung, mịn màng như phấn, tím sậm, đỏ nhạt, nâu, xanh, vàng, tía cho đến chấm phá, loang sọc vằn… Hình dáng đa dạng phong phú, dù rằng phần lớn chỉ là 5 cánh bao bọc chung quanh một cái môi elip, nhưng mỗi thứ hoa lại có những dị biệt khác thường. Hoa Lan có loại cánh tròn, có loại cánh dài nhọn hoắt, có loại cụp vào, có loại xoè ra có những đường chun xếp, vòng vèo, uốn éo, có loại có râu, có vòi quấn quýt, có những hoa giống như con bướm, con ong. Hoa Lan có những bông nhỏ nhưng cũng có bụi Lan rất lớn và nặng gần một tấn. Hương Lan đủ loại: thơm ngát, dịu dàng, thoang thoảng, ngọt ngào, thanh cao, vương giả.
Tại Thái Lan có một loại Lan được giấu tên và được bảo vệ rất nghiêm ngặt, hương thơm dành riêng để cung cấp cho một hãng c 2 sản xuất nước hoa danh tiếng. Hoa Lan nếu được nuôi giữ ở nhiệt độ và ẩm độ thích hợp có thể giữ được nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần lễ cho đến hai tháng, có những giống lâu đến 4 tháng, có những giống nở hoa liên tiếp quanh năm. - Phân bố Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới và Việt Nam. Do có giá trị kinh tế cao, được nhiều người ưa thích, các loài Lan rừng đã bị khai thác cạn kiệt.
Để tìm hiểu một số đặc điểm sinh học, phân bố của các loài Lan trong điều kiện sinh cảnh tự nhiên ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên phục vụ công tác bảo tồn và phát triển các loài Lan rừng, tôi nghiên cứu khóa luận: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của các loài Lan (Orchidaceae spp) tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên’’.2 Mục tiêu nghiên cứu Xác định đặc điểm sinh học, phân bố và hiểu biết của người dân về một số loại hoa Lan rừng tại khu vực nghiên cứu, từ đó làm cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, nhân giống trong tự nhiên.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của các loài Lan nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và các đặc điểm sinh thái các loài Lan trong khu vực nghiên cứu. - Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Biết được tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và các loài Lan nói riêng.
c 3 - Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật.
Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Namđể hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, trong đó có rất nhiều loài Lan. Sách đỏ Việt Nam (2007) phần II thực vật [12] Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [7]: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Đã đưa vào phụ lục dang lục quản lý một số loài thực vật và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt củng cao.
Đặc biệt có nhiều loài Lan thuộc nhóm IA và IIA có nhiều loài Lan rừng đang có nguy cơ tuyệt chủng trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới 2. Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen Cộng đồng quốc tế hơn bao giờ hết quan tâm chủ quyền quốc gia và trao đổi nguồn gen quốc tế.
Vì thế vấn đề quản lý bảo tồn và khai thác sử dụng bền vững nguồn gen càng trở nên cấp thiết hơn. Thủ tướng Chính phủ c 5 phê duyệt Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đồng thời giao Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng Chương trình quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen. Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên di truyền, trong vòng 10 năm qua Nhà nước đã ban hành khung pháp lý tương đối đầy đủ liên quan đến bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn gen thực vật, động vật và vi sinh vật.
Nhiều bộ luật quan trọng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên đã ra đời và được hoàn thiện, như Luật Thủy sản; Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Tài nguyên nước. Đặc biệt, Luật Đa dạng sinh học 2008 đã tạo cơ sở pháp lý để các cộng đồng địa phương tham gia bảo tồn tài nguyên di truyền, thông qua các cơ chế mới về đồng quản lý và chia sẻ lợi ích. Trước năm 2010, nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen chỉ tập trung vào việc bảo tồn, lưu giữ và sử dụng nguồn gen như là nguồn vật liệu cho công tác giống, chưa chú trọng đến việc khai thác hiệu quả kinh tế trực tiếp từ nguồn gen. Từ năm 2010, Theo Thông tư 18/2010 ngày 24/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, quy định việc quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen (sau đó được sửa đổi bởi Thông tư 18/2014), nội dung nhiệm vụ khoa học và công nghệ về Quỹ gen được thực hiện với 2 cấp quản lý: Cấp Nhà nước và cấp Bộ, tỉnh; bao gồm bảo tồn nguồn gen; khai thác và phát triển nguồn gen; đánh giá di truyền nguồn gen.
Như vậy, sau năm 2010 ngoài những nhiệm vụ bảo tồn thì các nhiệm vụ về khai thác và phát triển nguồn gen, về ứng dụng công nghệ sinh học trong đánh giá di truyền nguồn gen đã được triển khai, làm cho các hoạt động quỹ gen ngày càng đóng góp thiết thực cho các hoạt động nghiên cứu triển khai trong các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật quan trọng của đất nước. Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã xây dựng xong và trình Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen với mục c 6 tiêu ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn gen sinh vật để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và quốc phòng - an ninh. Tổng quan về các loài Lan Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa Lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae). Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa Lan là phong Lan.
Hoa Lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại: 1. Epiphytes:Phong Lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống. Terestrials: Địa Lan mọc dưới đất. Lithophytes: Thạch Lan mọc ở các kẽ đá.
Saprophytes: Hoại Lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục. Đây là một trong những họ lớn nhất của thực vật, và chúng phân bố nhiều nơi trên thế giới. Gần như có mặt trong mọi môi trường sống, ngoại trừ các sa mạc. Phần lớn các loài được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới, chủ yếu là châu Á, Nam Mỹ và Trung Mỹ.
Chúng cũng được tìm thấy tại các vĩ độ cao hơn vòng Bắc cực, ở miền nam Patagonia và thậm chí trên đảo Macquarie, gần với châu Nam Cực. Nó chiếm khoảng 6–11% số lượng loài thực vật có hoa. Danh sách dưới đây liệt kê gần đúng sự phân bố của họ (Orchidaceae): Nhiệt đới châu Mỹ: 250 - 270 chi Nhiệt đới châu Á: 260 - 300 chi Nhiệt đới châu Phi: 230 - 270 chi Châu Đại Dương: 50 - 70 chi c 7 Châu Âu và ôn đới châu Á: 40 - 60 chi Bắc Mỹ: 20 - 25 chi 2.3 Những nghiên cứu về Lan Cây hoa Lan được biết đến đầu tiên từ năm 2800 trước công nguyên, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, đến nay ở nhiều quốc gia đã lai tạo, nhân nhanh được nhiều giống mới đem lại giá trị kinh tế cao. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và sản xuất hoa Lan trên thế giới ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn, đặc biệt nhất là Thái Lan.
Cây Lan biết đến đầu tiên ở Trung Quốc là Kiến Lan (được tìm ra đầu tiên ở Phúc Kiến) đó là (Cymbidium ensifonymum) là một loài bán địa Lan. Ở Phương Đông, Lan được chú ý đến bởi vẻ đẹp duyên dáng của lá và hương thơm tuyệt vời của hoa. Vì vậy trong thực tế Lan được chiêm ngưỡng trước tiên là lá chứ không phải màu sắc của hoa (quan niệm thẩm mỹ thời ấy chuộng tao nhã chứ không ưa phô trương sặc sỡ). Lan đối với người Trung Hoa hay Lan đối với người Nhật, tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã, tất cả thuộc về phái yếu, quý phái và thanh lịch như có người đã nói “Mùi hương của nó tỏa ra trong sự yên lặng và cô đơn”.