Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây ca cao Cây ca cao có tên khoa học là Theobroma cacao L., thuộc họ Sterculiaceae hay Malvaceae, một nhóm cây nhỏ mọc hoang đã trong tự nhiên ở lưu vực sông Amazon và các khu vực nhiệt đới khác ở Trung va Nam chau Mỹ. Có hơn 20 loài trong chi này nhưng chỉ có Theobroma cacao là loài duy nhất được trồng rộng rãi (Wood and Lass, 1984). Theo Tổ chức Ca cao Quốc tế (ICCO), châu Phi chiếm gần 75% sản lượng ca cao toàn cầu, trong khi châu Mỹ bao gồm Brazil và Ecuador chiếm 20%, châu Á - Thái Bình Dương sản xuất 5% còn lại, trong đó Indonesia và Papua New Guinea là những nhà sản xuất lớn nhất trong khu vực. Bờ Biển Nga là nước sản xuất ca cao lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 44% sản lượng toàn cau, trong khi nước láng giềng Ghana chiếm khoảng 14%.
Sản pham chính từ ca cao là hạt. Hat ca cao chu yếu được dùng để sản xuất sô cô la. Ngoài ra, bơ ca cao là một sản phẩm phụ của quá trình chế biến ca cao, được sử dụng rộng rãi trong ngành được phẩm cho các sản phẩm chăm sóc da và mỹ phẩm.2 Yêu cầu sinh thái của cây ca cao Điều kiện khí hậu, dat đai cần thiết dé trồng cao cao được trình bay ở Bảng 1.1 Điều kiện khí hậu và đất đai cần thiết dé trồng cây ca cao Chỉ tiêu Đặc điểm Nhiệt độ Nhiệt độ thấp nhất: 18 - 21°C; nhiệt độ cao nhất: 30 - 35°C. Cần bé sung nước cho cây nếu hai hoặc nhiều tháng liên tục có lượng mưa ít hơn 50 mm.
Độ âm 100% trong thời gian ban đêm, 70 — 80% trong thời gian ban ngày. Độ cao Nói chung từ đưới 300 m và có thể lên đến 1300 m ở các vùng xích đạo. Ánh sáng Cây giống còn non yêu cầu che bóng 50%; che bóng nhiều hơn có thé làm giảm năng suất cây trưởng thành. Gió Không thích nghi với vùng có gió mạnh và liên tục.
Ở những khu vực này cân trông cây chan gió hoặc trông xen với các loại cây khác dé ngăn rụng lá. Đất Ca cao có thé phát triển trên nhiều loại đất, tuy nhiên đất phải thoát nước tốt; lớp đất mặt sâu > 1,5 m; tỉ lệ C/N = 9, hơn 50% cát, 20% bùn hoặc 40% đất sét. Có thé phát triển trong đất nghèo với việc bổ sung phân bón.3 Mật độ trồng Cây ca cao có thê trồng thuần hoặc trồng xen với mật độ trồng thuần là 1. Để tận dụng điều kiện khí hau, thé nhưỡng thuận lợi và cây đạt năng suất kỳ vọng của giống nên chọn khoảng cách trồng thuần là 3 x 2 m (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).4 Tình hình phát triển ca cao tại Việt Nam Theo Ban Điều phối phát triển ca cao Việt Nam (2019), điện tích canh tác ca cao của Việt Nam cao nhất vào năm 2012 với 25.700 ha, sau đó liên tục giảm, đến năm 2019 còn 5.
Các tỉnh có diện tích giảm nhiều đó là Bến Tre, Đắc Lắk, Bình Phước, Lâm Đồng, Bà Ria - Vũng Tàu, Tiền Giang. Trong đó, Bến Tre là tỉnh có điện tích canh tác giảm nhiều nhất, từ 9.700 2 2190 M1€CG 21192 21912 Wis Mt We WM —e—Diéntich (hà) —e—San lượng (tan) Hình 1.1 Diện tích canh tác và sản lượng ca cao Việt Nam (Cục trồng trọt, 2019) Trong giai đoạn 2004 — 2012, có rất nhiều chương trình của các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và các tập đoàn sản xuất chocolate trên thế giới hỗ trợ cho ca cao Việt Nam về tài chính, kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm biến Việt Nam thành một thủ phủ về cây ca cao của châu Á như dự án PSOM được chính phủ Hà Lan tài trợ, Winrock và WWF hỗ trợ cho dự án ca cao sinh thái ở Lâm Đồng, dự án Success Alliance hỗ trợ cho người trồng ca cao ở phía Nam. Vì thế, trong giai đoạn từ 2005 — 2012, theo số liệu của Cục trồng trọt, diện tích ca cao từ 1.972 ha năm 2007, điện tích đạt cao nhất là 25. Tuy nhiên, sau năm 2012, giá ca cao đột ngột giảm sâu chỉ còn 3.000 đồng/kg trái tươi, giảm hơn 50% so với trước đó, một số vùng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu trở nên khô han, một số nơi đất xấu, cây ca cao được đưa vào trồng như một loại cây xóa đói giảm nghèo, không được đầu tư chăm sóc nên cây kém phát triển, nhiễm sâu bệnh nặng ở tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng.
Ngoài ra còn có một số điện tích do nhiễm mặn ở Bến Tre. Thêm vào đó là giá những sản phẩm cạnh tranh đất trồng với ca cao như bưởi da xanh, hồ tiêu, dừa, sầu riêng luôn tăng mạnh. Vì thế, người dân đã chặt bỏ ca cao đề trồng cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn làm cho diện tích cây ca cao giảm mạnh (Bộ NN và PTNN, 2012). 5 Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn là nước hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi dé trở thành một quốc gia sản xuất ca cao có tầm cỡ ở châu Á đó là điều kiện tự nhiên phù hợp với cây ca cao, nhiều nông dân Việt Nam đã được tập huấn và có kinh nghiệm trồng, chăm sóc ca cao có thể đạt năng suất lên đến 3 kg hạt khô/cây.
Hiện tại giá ca cao mà nông dân bán cho các công ty thu mua hạt tương đương với giá ca cao trên thị trường London. Bên cạnh đó Chính phủ đang có những chính sách nhằm hỗ trợ hơn nữa cho cây ca cao phát triển theo hướng bền vững bằng cách hướng đến nâng chất lượng sản phẩm, tăng năng suất hơn là tăng diện tích trồng như trước đây (Bộ NN và PTNN, 2012).5 Sâu bệnh hại chính trên cay ca cao 1.1 Bệnh do nắm Phytophthora palmivora Triệu chứng trên quả: bệnh lúc đầu xuất hiện với một đốm mờ sau đó chuyển sang màu nâu, đen và lan rộng nhanh chóng trên khắp quả. Trong khoảng 14 ngày, quả trở nên đen hoàn toàn và các mô bên trong bao gồm cả hạt khô quắt lại. Bên cạnh quả, bệnh còn gây hại trên thân gây ra các vết loét vòng quanh thân.
Các vết loét này được thấy dưới dang những mang lõm trên vỏ cây, đôi khi rỉ ra dich màu đỏ ở những chỗ vỏ cây nứt. Cắt bỏ phần vỏ bên ngoài sẽ phát hiện một vết màu đỏ nâu mờ, lan rộng trong mô mạch. Sự loét thân làm giảm sức sống của cây vả khả năng vận chuyên chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến năng suất, bệnh nặng có thé làm chết cây (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).2 Bệnh nắm hồng (Cortcium salmoncolor) Bệnh chỉ xuất hiện vào mùa mưa, ở những vườn ca cao quá ẩm và rợp do tán lá và mật độ cây trồng dày. Nam tan công những cành đã hóa nâu, lúc đầu có mau mốc trắng sau đó chuyên dần sang màu trắng hồng hoặc vàng, nắm mọc sâu vào phần gỗ cảnh (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).3 Bệnh khô ngược cành (Oncobasidium Theobromae) Bệnh khô ngược cành còn gọi là VSD (Vascular Streak Dieback).
Bệnh phat triển và phát tán chủ yếu khi mưa nhiều, 4m độ không khí cao. Bao tử phát tán vào sáng sớm và xâm nhập vào lá non trên cành. Từ khi bảo tử nam xâm nhập đến khi có biểu hiện bên ngoài kéo dài khoảng 2 — 3 tháng. Trong thời gian đó, các đợt lá mới phát triển nên là bệnh được nhìn thay ở vị trí sau một dot lá ké từ ngọn đếm ngược.
Triệu chứng là một hoặc nhiều lá nằm sau đợt lá cuối cùng có màu vàng với những đốm xanh. Canh bị bệnh thường san sùi với những mut nhỏ (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).4 Bọ xit muỗi (Helopeltis spp.) Bo xit muỗi chích hút nhựa quả, chồi non, cành non. Các vết chích bị thâm den làm khô chỗi non, cành non. Các quả non bị chích thường héo khô, quả lớn bị chích thì có nhiều vết thâm, phát triển di dang, ít hạt và nhiều nguy cơ bi nam xâm nhập (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).5 Bọ cánh cứng hại lá (Adoretus compressus và Apogonia sp.) Bọ cánh cứng hại lá thuộc họ Scarabaeidae, thuộc nhiều loài khác nhau như bọ nâu, bọ xám, bọ hung kim.
Ban ngày chúng trú ngụ nơi tối hay dưới dat, chang vang tối đến đêm chúng mới gây hại. Bọ ăn phần thịt lá, chừa lại gân làm lá thủng lỗ chỗ, làm giảm khả năng quang hợp. Đối với cây ca cao trưởng thành tác hại của bọ cánh cứng không đáng kể nhưng với cây con và cây trong giai đoạn vườn ươm thì ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).6 Sâu hồng (Zeuzera sp.) Sâu thường đục phần ngọn thân, các cành rồi đùn phân, mạt cưa ra ngoài miệng lỗ đục và rơi xuống đất. Những cành ca cao bị đục sẽ héo rồi chết khô (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).7 Ray mềm (Toxoptera sp.) Ray mềm sống tập trung và chích hút nhựa cây trên các chồi non, lá non, trái non làm cây chậm phát triển, trái khô héo (Phạm Hồng Đức Phước, 2009).6 Rệp sáp Planococcus citri 1.1 Nguồn góc và phân loại Planococcus citri được Risso mô tả lần đầu tiên là Dorthesia citri vào năm 1813 từ mẫu vật trên cây có múi ở miền nam nước Pháp.
Loài này có lẽ có nguồn gốc từ Trung Quốc (Bartlett, 1978). Nó được Brian đặt vào chi Psendococcus Westwood vào năm 1915 và nó được Ferris chuyền sang chi Planococcus năm 1950.2 Phân bố rép sáp Planococcus citri trên thé giới (Nguồn: CABI, 2016) Phân bố: Rệp sáp Planococcus citri được tim thay hầu như trên toàn thế giới, trừ một số đảo ở Nam Thái Bình Dương (Cox, 1989). Ở Bắc Âu, Bắc Mỹ và miền nam nước Uc, loài rép này chủ yếu gây hại trong nhà kính (CABI/EPPO, 1999). citri được biết đến trên cây ca cao ở hầu hết các vùng trồng loại cây này nhưng không phải lúc nào rép sáp cũng chiếm ưu thé (Entwistle, 1972).
Ở Sri Lanka và Java, nó ít phổ biến hơn P. Jilacinus, trong khi ở Sierra Leone, Cote d’lovire va Ghana số lượng của nó vượt xa P. Nó xuất hiện cùng với P. Đây là loài chiếm ưu thé ở Brazil, Trinidad, Grenda và Hispaniola (Haiti và Cộng hòa Dominica).
Ở Úc, người ta cho rằng nó đã được phát triển rộng rãi cả trên đồng ruộng va trong nhà kính; tuy nhiên, Williams (1985) cho rang trong số này có thể là P. citri xuất hiện ở hầu hết các nước trồng cà phê trên thé giới. citri là loài đa thực và xuất hiện trên nhiều loài thực vật có hoa, đã được ghi nhận trên hon 200 loài vật chủ thuộc 191 chi trong 82 họ (Garcia và ctv, 2016).