MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt nam là một nước nhiệt đới nằm trong vùng Đông Nam Á, có tổng diện tích tự nhiên là 331.700 km2, kéo dài từ vĩ độ 90 Bắc tới 230 Bắc, trong đó diện tích rừng và đất rừng là 20 triệu ha, chiếm khoảng 60% diện tích toàn quốc. Nguồn tài nguyên động thực vật đa dạng, xếp hạng đa dạng sinh học thứ 16 trong số 25 nước có đa dạng sinh học nhất trên thế giới. Hệ thực vật rừng Việt nam là sự hội tụ của 3 dòng thực vật di cư từ Nam Trung Hoa, Ấn Độ - Himalaya và In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia cho nên rất phong phú và đa dạng, có khoảng 11.000 loài thuộc trên 2.
Hiện nay, nhiều loài bị khai thác quá mức đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Theo sách đỏ năm 1996 có 356 loài thực vật bị đe ở các mức độ khác nhau; sau 11 năm danh sách này đã tăng lên hơn 100 loài bị đe doạ, có 462 loài trong sách đỏ năm 2007 (Nguyễn Tiến Bân và các tác giả 1996, 2007), trong đó, có 144 loài cây thuốc quý hiếm. Loài cây Hoàng đằng được ghi trong nhóm II của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ (Nghị định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về bôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp). Theo đó các loài trong nhóm này chưa bị đe dọa tuyệt chủng nhưng có nguy cơ bị đe dọa nếu không được quản lý chặt chẽ, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
Tuy nhiên, những loài có giá trị kinh tế phục vụ nhu cầu làm thuốc ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức trong tự nhiên. Một phần là người dân khai thác để sử dụng, nhưng phần lớn là khai thác để bán cho các thương lái thu gom để xuất bán cho Trung Quốc qua đường tiểu ngạch. Điển hình là cây Hoàng đằng trong những năm 2006 – 2009, vấn nạn khai thác Hoàng đằng diễn ra rất mạnh ở các tỉnh miền núi phái Bắc và Bắc Trung bộ. Hạt Kiểm lâm Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) có ngày đã bắt giữ được 7,5 tấn rễ, thân cây Hoàng đằng, (báo Công an nhân dân 29/10/2009).
m 2 Hoàng Đằng còn có tên gọi khác như Hoàng liên đằng, Dây vàng giang, Nam hoàng liên. Vị thuốc là thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour, hay Fibraurea recisa Pierre), Trên thế giới phân bố từ Ấn Độ, Malaysia, Lào, Campuchia, Philippines, Indonesia. Ở nước ta gặp tại các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế (Hốt Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu), Quảng Nam (Đại Lộc, Trà My), Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kom Tum (Đăk Gle, Sa Thầy), Lâm Đồng (Đan Kia, Bảo Lộc). Cây sống dưới tán rừng thứ sinh ở độ cao 10-200m, mọc trên đất hoặc trên đất lẫn đá, cây ưa ẩm.
Cây mọc hoang ở ven rừng nơi ẩm mát, ở thung lũng, bờ suối ven nương rẫy. Sách đỏ Việt Nam xếp Hoàng đằng ở tình trạng cấp V (sẽ nguy cấp). Khu phân bố bị thu hẹp do nạn phá rừng và khai thác bừa bãi gây nên. Danh mục đỏ Việt Nam phân hạng Hoàng đằng ở hạng VU a1b, c, d.
Cơ sở phân hạng: loài tuy có phân bố không hẹp nhưng khu phân bố tại nhiều điểm rừng bị chặt phá nghiêm trọng. Tuy nhiên, nhiều loài cây trồng, cây hoang dại vẫn chưa được chú ý nghiên cứu đặc điểm sinh thái, hàm lượng hoạt chất dược học và kỹ thuật gây trồng trong đó có cây Hoàngđằng. Do đó việc điều tra hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh học, hàm lượng palmatin trong thân cây Hoàng đằng là rất cần thiết, làm cơ sở cho việc bảo tồn nguồn gen, gây trồng tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến dược phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân. Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và hàm lượng hoạt chất palmatin trong thân cây Hoàng Đằng (Fibraurea tinctoria Lour) tại vùng Tây Bắc.
Mục tiêu của đề tài 2. Mục tiêu chung Góp phần cung cấp và hoàn thiện các thông tin về đặc điểm sinh học và hàm lượng palmatin trong thân cây hoàng đằng phân bố ở vùng Tây Bắc, làm cơ m 3 sở phát triển loài cây Hoàng đằng tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao, ổn định cho ngành dược và góp phần phát triển kinh tế đồi rừng. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá về đặc điểm điều kiện tự nhiên ở những tỉnh Tây Bắc có cây Hoàng đằng phân bố. - Xác định được đặc điểm sinh học, hiện trạng phân bố của loài cây Hoàng đằng tại vùng tây Bắc.
- Định lượng được hàm lượng hoạt chất palmatin trong thân cây Hoàng đằng. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học và hàm lượng hoạt chất Panmatin trong thân cây Hoàng đằng, chỉ ra được một số đặc điểm sinh học và hàm lượng Panmatin trong thân cây Hoàng đằng ở đối tượng nghiên cúu. Bước đầu đề tài đã cung cấp một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học và hàm lượng Panmatin trong thân cây Hoàng đằng phân bố ở vùng Tây Bắc.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Bước đầu đưa ra được một số giải pháp phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng tại vùng tây Bắc. - Kết quả nghiên cứu, là tài liệu cho các bên liên quan tham khảo và áp dụng trong khai thác phát triển nguồn gen cây Hoàng đằng phục vụ nhu cầu làm thuốc. m 4 PHẦN 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Cây Hoàng đằng nằm trong Danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ (Nghị định về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về bôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp).
Hoàng đằng Sách đỏ Việt Nam (1996), mô tả Hoàng đằng là loài Có thể tái sinh chồi trên thân già và ở rễ vào mùa xuân. Hiếm gặp cây cái, do có khả năng tái sinh bằng hạt hiếm hoi. Cây sống dưới tán rừng thứ sinh, ở độ cao 10 - 200 m. Mọc trên đất cát lẫn đất đá.
Cây đang bị khai thác quá mức để làm nguyên liệu chế biến dược liệu, có quy cơ tuyệt chủng rất cao. Gây trồng cây Hoàng đằng là cơ sở bảo tồn nguồn gen cây rừng quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao. Tình hình nghiên cứu về cây Hoàng đằng trên thế giới và trong nước 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria), thuộc họ Tiết dê có khoảng 70 chi và 450 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, á nhiệt đới, chỉ có một ít ở vùng ôn đới bán Bắc và Nam (theo Takhtajan -1996).
Đây là một họ lớn phân bố rộng. Nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của từng loài cây thuốc và bản chất hoá học của dược liệu được quan tâm trên quy mô rộng lớn. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh là một trong những yếu tố miễn dịch tự nhiên. Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp: Sulfua, saponin (Allium odium); becberin (Coptis chinensis Franch.
Mỗi loài cây với từng công năng, tác dụng, ở mỗi địa phương lại được sử dụng riêng theo một bản sắc dân tộc. m 5 Ở Trung Quốc, ngoài nền y học cổ truyền chính thống của người hán (Trung y), các cộng đồng không phải người hán, với dân số khoảng 100 triệu người, cũng có các nền y học riêng của mình, gọi là y học dân tộc cổ truyền (Traiditional Ethno-medicine) sử dụng khoảng 8000 loài cây cỏ làm thuốc. Trong đó, có 5 nền y học chính là nền y học cổ truyền Tây Tạng ( sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Ugur, Thái (800 loài). Ở Bangladesh có một số cây thuốc quý như Tylophora indica (dùng làm thuốc chữa hen), trước kia dễ tìm kiếm, nay đã trở nên hiếm hoi (A.
Hoặc là loài Ba gạc – Rauvolfia serpentina vốn mọc tự nhiên khá phổ biến ở Ấn Độ, Srilanca, Bangladesh, Thái Lan,… mỗi năm khai thác được khoảng 1.000 tấn nguyên liệu xuất sang thị trường Âu – Mỹ, làm thuốc chữa cao huyết áp (riêng Ấn Độ chiếm 40 – 50%). Song, do bị khai thác liên tục nhiều năm đã làm cho cây thuốc này mau cạn kiệt. Một số bang ở Ấn Độ đã chính thức tạm đình chỉ khai thác loài Ba gạc kể trên (O. de Alwis, 1991 và A.
Một loài cây thuốc quý khác là Coptis teeta mọc nhiều ở vùng Đông – Bắc Ấn Độ, trước kia khai thác hàng chục tấn mỗi năm bán sang các nước vùng Đông Nam Á, nay đã trở nên rất hiếm, thậm chí đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng (O. Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming, (1985) [20], ở Trung Quốc vốn có một số loài Dioscorea japonica, trữ lượng khá lớn, trong thập kỷ 50, đã từng khai thác tới 30.000 tấn, hiện đã bị giảm sút nhiều, có loài thậm chí phải trồng và duy trì loài giống. Một vài loài cây thuốc quý như Fritillaria cirrhosa (làm thuốc ho) phân bố phổ biến ở vùng Tây – Bắc tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn sót lại ở 1 – 2 điểm, với số lượng cá thể rất ít. Hoặc loài Iphigenia indica có tác dụng chữa ung thư, chỉ phân bố rất hẹp ở vùng Lijang và Dali tỉnh Vân Nam, do bị tìm kiếm khai thác gay gắt, hiện có thể đã bị tuyệt chủng.
Một số loại cây thuốc quý khác như Paris polyphylla, Gastrodia elata, Nervilia fordii,… cũng là những ví dụ điển hình. m 6 Sara Oldfield, Tổng thư ký của Tổ chức bảo tồn các vườn bách thảo quốc tế, nhận xét “Sự biến mất của các cây thuốc là một thảm họa thực sự”. Phần lớn dân số thế giới, trong đó có 80% người châu Phi, hoàn toàn phụ thuộc vào dược thảo để chữa bệnh. Theo một báo cáo của tổ chức bảo tồn quốc tế Plantlife, trên khắp thế giới có khoảng 50.000 loại cây có thể dùng làm thuốc, nhưng xấp xỉ 15.000 trong số đó đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.
Tình trạng thiếu dược thảo đã xảy ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Nepal, Tanzania và Uganda hình về sự tồn tại mong manh của chúng ở Trung Quốc (P. Tư liệu của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này có thông tin, hiện có tới 30.