Đặt vấn đề Hoàng đằng là một cây thuốc quý hiếm, mọc hoang chủ yếu ở các nƣớc vùng nhiệt đới, ở nƣớc ta cây mọc phổ biến ở nƣớc ta. Ngoài ra còn thấy mọc nhiều ở Trung và Hạ Lào, Campuchia. Hoàng đằng thu hái hầu nhƣ quanh năm, thu hoạch về thái mỏng, phơi hay sấy khô hoặc không chế biến gì khác. Ngƣời ta đã tìm thấy trong rễ và thân Hoàng đằng rất giàu Palmatin.
Palmatin là hoạt chất của nhiều loài cây nhƣ có: Mật gấu (Vernonia amygdalyna), Hoàng liên gai (Berberis julianae), Hoàng liên ô-rô (Mahonia nepalensis), nhiều loài cây thuộc chi Hoàng liên (Coptis) mà đại diện điển hình là loài Hoàng liên Chân gà (Coptis quinquesecta), Hoàng bá (Phellodendron amurense).Trong thân và rễ cây Hoàng đằng hàm lƣợng Palmatin rất cao, ở nƣớc ta đây là nguồn nguyên liệu rất quý để chiết xuất Palmatin. Trong nhân gian, ngƣời ta dùng Hoàng đằng chữa lỵ, đau mắt, viêm ruột. Trong y học dùng Palmatin làm thuốc chữa lỵ, đau mắt, viêm ruột. Hoàng đằng có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, sát trùng.
Palmatin có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩn đƣờng ruột. Thƣờng dùng chữa các loại sƣng viêm, chữa đau mắt, sốt rét, kiết lỵ, viêm ruột ỉa chảy, viêm tai, lở ngứa ngoài da và cũng dùng làm thuốc bổ đắng. Ngày dùng 6 - 12g sắc uống và nấu nƣớc rửa ngoài. Còn dùng dƣới dạng thuốc bột, thuốc viên hay thuốc nhỏ mắt.
Vị thuốc lấy thân già và rễ phơi khô của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour hay Fibraurea recisa Pierre). Cây mọc hoang ở các vùng rừng núi nƣớc ta. Có chứa Alkaloid (3%), chủ yếu là Palmatin làm giảm viêm, chữa viêm ruột, viêm bàng quang, viêm gan, đau mắt, mụn nhọt, sốt nóng, kiết lỵ, hồi hộp, mất ngủ. Làm nguyên liệu chế Palmatin Theo (Cây Hoàng đằng-Tuệ Tĩnh) [19].
Có công dụng làm thuốc trị bệnh nên Hoàng đằng đã bị khác thác từ nhiều năm nay, vì khai thác quá mức, nên số lƣợng còn lại trong tụ nhiên không nhiều. Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật (1996) [2] đã mô tả tình trạng cây Hoàng đằng: c 2 Sắp nguy cấp tại Việt Nam. Khu phấn bố đang bị thu hẹp do khai thác liên tục và do nạn phá rừng gây nên. Sách đỏ Việt Nam (1996), xếp ở mức độ đe dọa: Bậc VU.
Trƣớc đây Hoàng đằng mọc hoang khắp các vùng núi nƣớc ta từ Lạng Sơn cho tới Nam Bộ, phân bố phong phú hơn các vùng núi từ Nghệ An trở vào. Có nhiều ở Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng, Sông Bé, Bình Định, Phú Yên, Nghệ An và Thanh Hóa. Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc cung cấp những thông số về Palmatin nói chung và Palmatin có trong cây Hoàng đằng nói riêng, ở các khu vực khác nhau. Do vậy tôi đã thực hiện khoá luận: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lượng Palmatin trong cây Hoàng đằng Fibraurea tinctoria và Fibraurea recisa tại khu vực Tây Bắc Bộ”.
Mục tiêu nghiên cứu Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên đến hàm lƣợng hoạt chất Palmatin trong cây Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu thuộc các tỉnh phía Tây Bắc Bộ Việt Nam (Sơn La, Yên Bái, Điện Biên, Lào Cai và Lai Châu). Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và khoa học - Giúp sinh viên củng cố lại và bổ sung kiến thức đã học để nâng cao chất lƣợng và hiệu quả học tập. Qua đó giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học, nghiên cứu khoa học.
- Cung cấp những kinh nghiệm thực tế cho sinh viên trong quá trình tiếp xúc và làm việc với ngƣời dân. - Giúp tôi hiểu thêm về công dụng của hoạt chất Palmatin của cây Hoàng đằng. - Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Biết đƣợc tầm quan trọng của các loài thực vật quý hiếm nói chung và cây Hoàng đằng nói riêng.
c 3 - Biết đƣợc tầm quan trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. Ý nghĩa trong thực tiễn Việc nghiên cứu và đánh giá giúp có việc xác định hàm lƣợng hoạt chất Palmatin của loài Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu, nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn gen cây rừng quý, hiếm. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour và Fibraurea recisa Pierre) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae), bộ Mao lƣơng (Ranunculales). Thành phần hóa học: Hoạt chất trong Hoàng đằng là Alkaloid mà chất chính là Palmatin 1 - 3,5 % và một ít jatrorrhizin, columbamin và berberin theo Gao-Xiong Rao et al (2009) [17]. Theo hệ thống phân loại thực vật APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) năm (2003), Họ Tiết dê (Menispermaceae) có 75 chi, 450 loài. Trong đó có chi Hoàng đằng (Fibraurea) là chi gồm 5 loài dây leo, chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Á.
Loài Fibraurea elliptica phân bố tại bán đảo Luzon Phillipines, loài Fibraurea laxa phân bố tại Indonesia, loài Fibraurea recisa phân bố tại các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam, loài Fibraurea trotteri phân bố tại Ấn Độ, loài Fibraurea tinctoria Lour phân bố tại Việt Nam, Lào, Campuchia. Hoàng đằng là cây dây leo bằng thân quấn, dài tới 10 m. Vỏ ngoài của thân già nứt nẻ và gỗ có màu vàng. Thân non nhẵn, màu lục, ít phân nhánh.
Lá mọc so le, hình trái xoan hoặc thuôn, dài 9 – 18 cm, rộng 3 -7 cm, gốc bằng hoặc hơi tròn, đầu có mũi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dƣới nhạt, 3 gân chính rõ; cuống lá dài 5 – 14 cm, phình ở hai đầu. Hoa đơn tính khác gốc, cụm hoa chùm mọc ra ở phần thân già đã rụng lá. Hoa nhỏ màu vàng chanh, có 6 lá đài, cánh hoa 3 rộng và mỏng hơn lá đài. Hoa đực có 6 nhị, chỉ nhị dài hơn bao phấn, hoa cái nhị lép hoặc không rõ, bầu hình trứng.
Quả hạch hình xoan hay trứng thuôn, khi chín màu vàng, mùi hơi khó chịu. Hạt 1 hình thuôn hơi dẹt. Hoàng đằng ra hoa vào tháng 4 –5, quả chín vào tháng 11 – 12. Cây có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi sau khi khai thác Tính chất chung của Alkaloid Theo Gao-Xiong Rao et al (2009) [17] c 5 - Mùi vị: Đa số Alkaloid không có mùi có vị đắng và có một số ít có vị cay nhƣ capsa, icin, piperidin, Palmatin… - Màu sắc: Hầu hết các Alkaloid đều không màu, trừ một số ít Alkaloid có màu vàng nhƣ Berberin, Palmatin.
Cần lợi dụng tính chất này trong chiết xuất và phân lập Khi nghiên cứu về các thành phần hóa học của cây Hoàng đằng bằng phƣơng pháp phân tích quang phổ cho thấy các Alkaloid mới từ cây Hoàng đằng đã đƣợc xác định là 1,2-methylenedioxy-8-hydroxy-6a (R)- aporphine. Thân của cây Hoàng đằng là một loại thảo dƣợc chống nấm có hiệu quả. Hoàng đằng có tên trong phần những cây thuốc và vị thuốc chữa lỵ trực trùng. Trong Hoàng đằng chủ yếu là Palmatin với tỷ lệ 1 - 3,5 %.
Ngoài ra, còn có một ít jatrorrhizin, columbamin 2. Nghiên cứu ở Việt Nam Theo Nguyễn Tiến Bân và Cs (2003) [1]. Trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã mô tả, có hai loài Hoàng đằng ở Việt Nam: 1. Fibraurea recisa Pierre (1885), Tên gọi Nam hoàng, Hoàng đằng, Hoàng liên nam, Vàng giang, Dây nam hoàng, Khau khem.
Phân bố: Thừa Thiên-Huế (Hồi Mít), Đà Nẵng (Liên Chiểu, Đà Nẵng), Quảng Nam (Đại Lộc, Trà My), Phú Yên (Sông Cầu), Khánh Hòa (Nha Trang), Kon Tum (Đắc Giây; Đắc Tin; Sa Thầy; Mo Ray), Lâm Đồng (Lạc Dƣơng; Đan Kia; Bảo Lộc; Pnom Sapoum). Dạng sống và sinh thái: Dây leo, thân to dài tới 20 - 25 m, cây ƣa sáng và ẩm, nhƣng cũng chịu đƣợc bóng. Thƣờng mọc rải rác trong rừng thứ sinh, ven nƣơng rẫy, ở độ cao tới 1000 m. Ra hoa tháng 1 - 3, có quả tháng 4-6.
Công dụng: Gỗ làm thuốc nhuộm vàng. Rễ làm thuốc bổ đắng, thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu. Còn dùng chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, viêm ruột, viêm dạ dày, kiết lỵ, viêm bàng quang, đái đƣờng, viêm ruột cấp tính, viêm kết mạc. Thân và lá sắc uống chữa đau lƣng.
Cây có chứa Palmatin. Fibraurea tinctoria Lour (1790), - F.chloroleuca Mies (1871), - Cocculus fibraurea DC (1817), Hoàng đằng, Nam hoàng liên, Nam hoàng nhuộm. c 6 Phân bố: Lâm Đồng (Di Linh), Đồng Nai (Biên Hòa). Còn có ở Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia.
Dạng sống và sinh thái: Dây leo, thân to, dài 8 - 10 m. Mọc rải rác trong rừng thƣa, nơi sáng. Ra hoa tháng 3 -8. Công dụng: Thân và rễ phơi hay sấy khô, tán bột, làm thành viên chữa lỵ, viêm ruột ỉa chảy, sốt rét, viêm tai, lở ngứa ngoài da.
Rễ bổ, lợi tiểu. Gỗ làm thuốc nhuộn vàng. Trong cây có chứa Palmatin. “Alkaloid là những hợp chất hữu cơ chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thường gặp trong thực vật và đôi khi trong động vật, thường có dược tính mạnh và có những phản ứng hoá học với một số thuốc thử chung của alkaloid” Dƣợc điển Việt Nam (2002) [3].
Hàm lƣợng alkaloid trong cây thƣờng rất thấp, từ một số trƣờng hợp nhƣ cây canhkina hàm lƣợng Alkaloid đạt 6 – 10 %, trong nhựa thuốc phiện có 20 – 30 %. Bình thƣờng một dƣợc liệu chứa 1 - 3 % Alkaloid đƣợc coi là hàm lƣợng khá cao. Trong cây, Alkaloid ít khi có trạng thái tự do (Alkaloid bazơ) mà thƣờng tồn tại ở dạng muối với axit hữu cơ nhƣ malat, oxalat, acetat… đôi khi có ở dạng muối của axit vô cơ, chúng tan trong dịch tế bào. Ở một số cây Alkaloid kết hợp với tanin với acid hay với đƣờng ở trong cây.
Điều đáng chú ý là hàm lƣợng alkaloid trong cây phụ thuộc nhiều vào yếu tố khí hậu, ánh sáng, chất đất, phân bón, giống cây và thời kỳ sinh trƣởng [3]. Trong tự nhiên Alkaloid phân bố ở cả trong thực vật và động vật nhƣng chủ yếu là ở thực vật. Trong cây một lá mầm đã tìm thấy khoảng 500 Alkaloit, trong khi đó ở cây hai lá mầm đã tìm thấy hơn 3600 chất. Ở thực vật hạt kín – Angiospermae sự phân bố Alkaloid có tính nhảy vọt theo Nguyễn Văn Đàn - Nguyễn Viết Trực (1985) [6].
Cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) là một trong những loài thực vật có chứa alkaloid đƣợc sử dụng rộng rãi.