CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm di truyền của các tính trạng số lượng Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của một giống gia súc, gia cầm trong một điều kiện chăn nuôi cụ thể thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truyền và ảnh hưởng của những tác động xung quanh lên các tính trạng đó. Phần lớn các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng, sinh sản, sản xuất trứng, thịt, lông đều là các tính trạng số lượng.
Cơ sở di truyền học của các tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Tính trạng năng suất thường là các tính trạng số lượng như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng… Giá trị kiểu gen của một tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành. Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ nhưng tập trung lại thì có ảnh hưởng lớn đến tính trạng được nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen hoặc polygen.
Giá trị kiểu gen được phân theo ba thành phần như sau: G=A+D+I Trong đó: G: Giá trị kiểu gen (Genotype value). A: Giá trị cộng gộp (Additive value). D: Sai lệch do tác động trội lặn (Dominance deviation). I: Sai lệch do tương tác giữa các gen (Interaction deviation).
- Giá trị cộng gộp hay giá trị giống: là tổng các hiệu ứng của các gen có trong locus. - Sai lệch trội lặn: là sai lệch được sản sinh do tác động qua lại giữa các gen cùng alen ở trong cùng một locus, đặc biệt là các cặp alen dị hợp tử. e 4 Giá trị đo lường của một tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (phenotype value) của cá thể đó. Các giá trị có liên hệ với kiểu gen là giá trị kiểu gen (genotype value) và giá trị có liên hệ đến môi trường là sai lệch môi trường (environmental deviation).
Như vậy, có nghĩa là kiểu gen quy định một giá trị nào đó của cá thể và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hay hướng khác. Quan hệ trên có biểu thị như sau: P=G+E Trong đó: G: Giá trị kiểu gen. P: Giá trị kiểu hình. E: Sai lệch môi trường.
Ngoài kiểu gen, môi trường có ảnh hưởng lớn tới tính trạng số lượng và được chia làm hai loại sai lệch do môi trường là Eg và Es. - Eg: Sai lệch môi trường chung (General anvironmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường có tính chất thường xuyên và không cục bộ các cá thể vật trong nhóm vật nuôi. - Es: Sai lệch môi trường đặc biệt (Special anvironmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường có tính chất không thường xuyên và không cục bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Tóm lại, khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo từ hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau: P = A + D + I + Eg + Es Qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng ở cá thể, ta thấy rằng muốn nâng cao năng suất vật nuôi cần phải: + Tác động về mặt di truyền (G).
+ Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc. + Tác động vào hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng phối giống tạp giao. e 5 + Tác động về môi trường (E) bằng cách cải thiện điều kiện chăn nuôi như: thức ăn, thú y, chuồng trại… Trong chăn nuôi, các giống vật nuôi luôn nhận được từ bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó và được xem như là được nhân từ bố mẹ một khả năng di truyền; tuy nhiên, khả năng đó có phát huy tốt hay không còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của vật nuôi. Khi quan sát các tính trạng số lượng (cân, đo, đếm…) người ta thường xác định các tham số sau: + Số trung bình của các tính trạng (X).
+ Hệ số biến dị (Cv %). + Hệ số di truyền các tính trạng (h2). + Hệ số lặp lại các tính trạng (Rs). + Hệ số tương quan các tính trạng (r).
Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình của giống vịt 1. Đặc điểm ngoại hình Màu sắc của lông thủy cầm nói riêng và gia cầm nói chung là đặc điểm ngoại hình quan trọng để phân biệt giống, dòng. Các giống gia cầm hiện đại có màu lông đặc trưng, thuần nhất. Các giống gia cầm và thủy cầm hướng thịt thường có màu lông trắng tuyền hoặc màu sáng; các giống gia cầm hướng trứng thường có bộ lông sẫm màu hơn gia cầm hướng thịt.
Màu sắc độ bóng mượt của lông liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và sức sản xuất của gia cầm. Hình dáng của vịt để phân biệt tính năng sản xuất chuyên biệt của chúng. Vịt hướng thịt có hình dáng to, hình chữ nhật, dáng đứng thường gần song song với mặt đất, vịt hướng trứng thường có hình dáng nhỏ, gọn, thanh mảnh và dáng đứng thường tạo với mặt đất một góc gần 900. Sự mọc lông Tốc độ mọc lông cũng là một trong những đặc tính di truyền liên quan đến trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm.
Đây là một chỉ tiêu phản ánh tính thành thục tính dục. Biến dị di truyền về sự mọc lông cũng phụ thuộc vào giới tính. Những con trống mọc lông chậm, có 2 nhiễm sắc thể giới tính và do đó cả 2 yếu tố mọc lông chậm hơn con mái. Trong một dòng mọc lông nhanh thì những con mái lại mọc lông đều hơn con trống.
Điều này lại liên quan đến hoocmon, vì hoocmon có tác động ngược chiều với gen liên kết giới tính quy định sự mọc lông nhanh. Khả năng sản xuất của vịt 1. Tỷ lệ nuôi sống Tỷ lệ nuôi sống là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng thích ứng của vật nuôi đối với điều kiện ngoại cảnh và nó có ý nghĩa lớn đối với những giống được chuyển từ vùng này sang vùng khác. Sức sống của thủy cầm được tính bằng (%) của số con đầu kỳ so với cuối kỳ trong một khoảng thời gian nhất định.
Chọn giống theo sức sống có thể làm giảm tỷ lệ gây chết. Hệ số di truyền về sức sống của gia cầm nói chung thấp, chỉ từ 0,05 - 0,1. Chính vì vậy, để cải tiến tính trạng này dùng phương pháp chọn lọc theo gia đình mới có khả năng mang lại hiệu quả cao qua các thế hệ. Sức sống của thủy cầm được xác định theo các giai đoạn khác nhau: giai đoạn con, giai đoạn hậu bị đến trưởng thành và giai đoạn sinh sản đến hết kỳ sử dụng.
Đối với các dòng vịt nói chung và vịt trời nói riêng phản ánh khá đầy đủ khả năng thích nghi với môi trường sống. Nguyễn Đức Trọng và cs (2010) [36] tỷ lệ nuôi sống của vịt Cỏ là 98,95 %, tỷ lệ nuôi sống của vịt Triết Giang là 94,74 %. Khả năng sinh trưởng của vịt Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình sinh tổng hợp protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá e 7 quá trình sinh trưởng. Để đánh giá đặc điểm về khả năng sinh trưởng người ta hay dùng các chỉ tiêu khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng tương đối, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối, tốc độ mọc lông.
- Khối lượng cơ thể Powell (1985) [61] khối lượng cơ thể là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình sinh trưởng của vật nuôi, đây là chỉ tiêu có hệ số di truyền trung bình h2 = 0,33 - 0,76 và việc chọn lọc nâng cao khối lượng cơ thể là có hiệu quả. Khối lượng cơ thể phụ thuộc vào loài, giống và dòng, các giống vịt chuyên thịt có khối lượng cơ thể lớn hơn vịt kiêm dụng và vịt chuyên trứng, vịt dòng trống có khối lượng lớn hơn vịt dòng mái. - Tốc độ sinh trưởng Tốc độ sinh trưởng của vịt nói chung và vịt trời nói riêng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của khối lượng tăng lên trong một khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát, đơn vị tính là g/con/ngày, đồ thị biểu diễn có dạng parabol. Tốc độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ (%) tăng lên của khối lượng cơ thể ờ một giai đoạn nào đó so với khối lượng cơ thể của nó ở giai đoạn kế trước, đồ thị biểu diễn có dạng hyperpol, tốc độ sinh trưởng tương đối ở vịt cao nhất ở tuần đầu tiên, giảm dần ở các tuần tiếp theo.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm bao gồm: ảnh hưởng của dòng, giống, lứa tuổi và giới tính, phương thức chăn nuôi và chế độ dinh dưỡng, các yếu tố môi trường. - Ảnh hưởng của dòng, giống, lứa tuổi và giới tính + Dòng, giống: mỗi dòng hay giống, loài gia cầm có khả năng sinh trưởng khác nhau. Nguyễn Hồng Vĩ và cs (1997) [44] cho biết dòng vịt chuyên trứng Khaki Campbell có khối lượng cơ thể lúc 56 ngày tuổi đạt 1027 – 1102 g/con, khối lượng vào đẻ đạt 1420 g/con. Theo Nguyễn Đức Trọng và e 8 cs (2010) [37] khối lượng vịt kiêm dụng Đốm PL2 nuôi thương phẩm đến 10 tuần tuổi đạt 1790 g.
+ Tính biệt: nhiều thí nghiệm cho biết ở gia cầm cùng một giống, dòng, lứa tuổi nhưng nhu cầu năng lượng, protein, axit amin,. cho trao đổi chất cơ bản của gia cầm trống luôn cao hơn gia cầm mái trưởng thành. + Lứa tuổi: do mối tương quan giữa hai quá trình đồng hóa và dị hóa trong cơ thể ở mỗi giai đoạn là khác nhau nên khối lượng và kích thước các chiều đo ở mỗi thời điểm đó là khác nhau. Đây là cơ sở cho những tính toán cần thiết về thời gian nuôi dưỡng, khai thác khả năng sản xuất của gia cầm để đạt được mục đích kinh tế cao nhất cho chăn nuôi.
Khả năng sinh sản của vịt Khả năng sinh sản của vịt được thể hiện thông qua các tính trạng số lượng như tuổi đẻ, năng suất trứng, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ trứng có phôi và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng. * Tuổi đẻ Sự thành thục về tính là thời điểm các cơ quan sinh dục đã phát triển và hoàn chỉnh, độ thành thục của con mái được xác định qua tuổi đẻ quả trứng đầu tiên, tuổi đẻ này được tính toán dựa trên số liệu của từng cá thể vịt, do vậy nó phản ánh được mức độ biến dị của tính trạng, biết được vịt đẻ sớm hay đẻ muộn.