ĐẶT VẤN ĐỀ Các giống vật nuôi bản địa là một phần quan trọng của đa dạng sinh học và có khả năng tiềm tàng đối với hướng sử dụng trong tương lai. Trải qua một quá trình phát triển lâu dài các giống bản địa ở nước ta đã thích nghi tốt với điều kiện sinh thái kinh tế địa phương, có sức chống bệnh cao, cho được các sản phẩm thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời gắn liền với văn hóa vùng miền tạo thành những hệ sinh thái bền vững. Huyện Bá Thước nằm về phía tây của tỉnh Thanh Hóa, địa danh Cổ Lũng không chỉ được biết đến với chiến thắng lịch sử thời kháng chiến chống Pháp mà còn nổi danh bởi giống thuỷ cầm đặc sản bản địa: giống vịt Cổ Lũng. Theo đồng bào địa phương, giống vịt này đã có từ hàng trăm năm nay, chủ yếu được nuôi tập trung ở xã Cổ Lũng và một số xã lân cận.
Thoạt nhìn, vịt Cổ Lũng gần giống như vịt Bầu. Tuy nhiên, giống vịt Cổ Lũng có đặc điểm riêng là cổ rụt, chân nhỏ, ngắn, cổ và đầu có lông khoang, con trống có lông đuôi xoăn, cổ xanh màu ánh biếc, sau 4 đến 5 tháng nuôi trung bình có thể đạt 1,5 – 2kg. Vịt Cổ Lũng ưa môi trường sạch sẽ, xương nhỏ, thịt nhiều nạc, thơm ngon. Mặc dù là giống vịt quý hiếm, nhưng do nhiều nguyên nhân, đàn vịt Cổ Lũng đang có xu hướng giảm dần về số lượng.
Để khắc phuc tình trạng này đã có nhiều đề tài, dự án với các qui mô khác nhau, từ cấp trung ương đến địa phương tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, các đề tài dự án mới chỉ mang tính chất thăm dò một số đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng của vịt Cổ Lũng mà chưa mô tả các đặc điểm sinh học chủ yếu quyết định khả năng sản xuất và đặc điểm miễn dịch của giống vịt này. Để khắc phục tình trạng trên cũng như phục vụ và khai thác nguồn gen giống vịt Cổ Lũng một cách khoa học và hợp lý thì cần có những nghiên cứu bổ sung thêm về các đặc điểm sinh học, các nghiên cứu đánh giá khả năng sinh sản. Với những lý do trên, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, hình thái đại thể và vi thể túi Fabricius vịt Cổ Lũng”.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Xác định được một số yếu tố ảnh hưởng đến tình hình nuôi vịt Cổ Lũng tại huyện Bá Thước 1 - Bổ sung dữ liệu đặc tính sinh học vịt Cổ Lũng. - Xác định được đặc điểm giải phẩu đại thể và vi thể của túi Fabricius ở vịt Cổ Lũng từ 3 đến 9 tuần tuổi. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. MỘT SỐ GIỐNG VỊT BẢN ĐỊA 2.
Vịt Đốm Theo Nguyễn Đức Trọng (2007) vịt Đốm có nguồn gốc ở tỉnh Lạng Sơn, được bà con dân tộc gọi là vịt Pất Lài. Vịt có màu lông cánh sẻ, con mái sáng màu, con trống sẫm màu, vịt có tầm vóc trung bình, khối lượng đạt 1,8-2,3 kg, thịt rất thơm ngon. Vịt có tuổi đẻ 22-23 tuần, năng suất trứng đạt 150-180 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 65-70g/ quả.
Vịt có khả năng thích nghi với phương thức chăn nuôi cổ truyền và chăn nuôi thâm canh. Vịt được khai thác theo 2 hướng: nuôi thịt và trứng. Tỷ lệ nuôi sống vịt Đốm đạt cao, giai đoạn vịt con đạt 94,67%, giai đoạn vịt hậu bị đạt 97,25%. Theo Nguyễn Đức Trọng (2011), tỷ lệ nuôi sống của vịt Đốm ở 3 giai đoạn cao, cao nhất ở giai đoạn vịt hậu bị đạt 95%, sau đó đến giai đoạn vịt con đạt 90,91%, giai đoạn vịt đẻ đạt 89,47%.
Vịt Cỏ Vịt Cỏ (hay còn gọi là vịt Tàu, vịt đồng) là giống vịt nhà có nguồn gốc ở Việt Nam, đây là một trong những giống vịt được nuôi phổ biến rộng rãi ở vùng nông thôn Việt Nam. Theo Văn Lệ Hằng (2006) cho biết chúng có nguồn gốc từ vịt trời, qua quá trình thuần hóa tự nhiên tạo thành giống vịt Cỏ thích nghi với đời sống chăn thả. Do không có tác động chọn lọc, nên giống vịt này đang bị pha tạp nhiều. Vịt Cỏ có tập tính theo đàn, di chuyển nhanh, tìm kiếm mồi giỏi, chịu đựng kham khổ, chống đỡ bệnh tật tốt, thuận lợi cho việc chăn thả trên đồng bãi.
Chúng cũng là một trong những biểu tượng của làng quê việt, nhất là quen thuộc ở những vùng sông nước. Vịt có lông màu vàng, có con màu xanh, màu cà cuống có chấm đen, có con đen nhạt. Vì bị pha tạp nhiều nên có nhiều màu lông khác nhau. Vịt có đầu thanh, mắt sáng, linh lợi, mỏ dẹt, khỏe và dài, mỏ thường có màu vàng, có con mỏ màu xanh cà cuống lấm chấm đen, có con màu tro.
Cổ dài, mình thon nhỏ, ngực lép. Chân hơi dài so với thân, chân thường màu vàng, có con màu nâu, một số con màu đen (những con này toàn thân có màu da xám). Những con màu lông khác thì có da trắng hơi vàng. Dáng đi nhanh nhẹn, kiếm mồi giỏi, tỷ lệ nuôi sống cao.
Khối lượng mới nở 42 g/con. Lúc trưởng thành con trống nặng 1,6 kg, con mái nặng 1,5 kg/con. Vịt Cỏ có khối lượng thấp, tỉ lệ thân thịt khoảng 50%, tỉ lệ 3 xương 15-16% ở vịt đã chéo cánh. Trọng lượng giết thịt lúc 75 ngày tuổi chỉ đạt 950 – 1100 g/con.
Trọng lượng vịt bỏ nội tạng đầu, chân chiếm 70% so với trọng lượng sống, trọng lượng thịt đùi là 15,2% và trọng lượng thịt ức là 8,8%. Con vịt Cỏ nặng chỉ chừng 1,2 - 1,4 kg, thịt có thơm ngon. Thịt vịt Cỏ ít mỡ,khi chín thịt có màu hồng nhạt, thịt thơm và béo ăn với nước mắm gừng chua chua ngọt ngọt mang lại cảm giác ngon miệng, kích thích vị giác và ngon miệng. Vịt Cỏ là món đặc sản, nhất là vịt Cỏ Vân Đình, hiện nay giống vịt Vân Đình đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Vịt Cỏ không có khả năng tích luỹ mỡ nhiều, khó béo nên người ta không vỗ béo. Ngoài ra, do vịt nhút nhát, không hiếu động, thực quản mỏng khi nhồi béo dễ vỡ, vì thế không nhồi béo và vỗ béo vịt Cỏ (Thái Hà và Đặng Mai, 2004). Vịt Cỏ có lông không thuần nhất, Một số lớn vịt có màu nâu xen lẫn màu nhạt gọi vịt "cà cuống". Một số lông màu trắng đục hoặc trắng pha đen, xám.
Do màu lông không thuần nhất nên ở miền nam vịt Cỏ được người nuôi chia làm nhiều loại khác nhau: Loại có màu lông trắng tuyền được gọi là vịt Tầu cò (Cỏ) (miền Nam); Lông trắng pha màu đen hay xám gọi là vịt Tầu nổ (hay vịt Huế); Vịt có lông xám có vằn như cà cuống gọi là vịt Tầu rằn. Lông xám có khoang trắng gọi là vịt Tầu phèn, màu đen (Tàu ô), có loại màu lông đen khoang cổ trắng, ngực trắng (vịt Tàu khoang)… Mỗi năm có thể đẻ từ 150 - 250 quả, tuỳ theo điều kiện nuôi dưỡng. Khối lượng trứng 65 g/quả, 70-80 ngày tuổi có thể giết thịt. Vịt có tốc độ mọc lông nhanh, nuôi theo phương thức chăn thả thì 65 – 75 ngày tuổi đã mọc đủ lông.
Trứng vịt Cỏ tương đối tốt, khối lượng trung bình 61,7 g, có vỏ màu trắng đục, đôi khi có màu xanh nhạt gọi là trứng "cà cuống"; vịt Cỏ đẻ từ 130 -160 trứng, ở những vùng có điều kiện đồng bãi tốt, vịt đẻ tới 170-190 quả/năm (8–12 kg trứng/năm). Vịt Cỏ bắt đầu rớt hột lúc 135 – 140 ngày tuổi, thể trọng lúc bắt đầu để là 1,2 – 1,4 kg/con; Tuổi bắt đầu giao phối của vịt đực 125 – 130 ngày và thể trọng là 1,3 – 1,5 kg/con. Tỷ lệ trứng có phôi đạt 94,3%, tỷ lệ trứng nở / phôi đạt 81,2%. Vịt Cỏ thích nghi với đời sống chăn thả hiện nay.
Do con người không có tác động chọn lọc, nên giống vịt này đang bị pha tạp nhiều. Vịt Cỏ phân bố phổ biến khắp mọi miền đất nước, chiếm 85% trong tổng đàn, tập trung nhiều ở các vùng lúa nước. Trong vòng 10 năm trở lại đây, vịt có xu hướng chủ yếu phân bố 4 ở Đồng bằng Bắc Bộ và ven biển miền Trung, ở các tỉnh phía Nam có số lượng vịt giảm dần và được thay thế bằng vịt Anh Đào. Ở vùng sông nước miền Tây, người ta hay ấn tượng về các món ăn được chế biến từ con vịt thả đồng.
Trong các món thì có hương thơm ngạt ngào của món vịt nấu chao. Người dân thường thả lang đàn vịt chạy khắp đồng, con nào con nấy say mồi mập ú. Gần như mọi nhà đều có nuôi đàn vịt, nhiều thì để bán trứng, bán thịt; ít thì để dùng trong các bữa tiệc, liên hoan. Lâu lâu, có khách đến thăm, dân quê tôi cũng bắt con vịt mang đi nấu chao trước để đãi khách.
Vịt Kỳ Lừa Vịt Kỳ Lừa là giống vịt kiêm dụng và có năng suất trung bình, có nguồn gốc ở vùng Kỳ Lừa, Lạng sơn. Trước đây, tại Kỳ Lừa có nhiều lò ấp trứng thủ công để nhân giống ra nhiều vùng xung quanh như Cao Bằng, Quảng Ninh … và bị lai tạp nhiều, đến nay số lượng vịt thuần chủng còn lại không còn nhiều. Vịt Kỳ Lừa có đầu hơi to, trán hơi dốc hơn so với vịt Cỏ. Mỏ có màu xám hoặc vàng, con đực có mỏ màu xanh nhạt hoặc xám đen.
Mắt sáng và lanh lợi. Cổ vịt Kỳ Lừa ngắn, ở con đực có màu lông xanh biếc, một số con có lông xanh xẫm óng ánh. Thân mình hơi rộng, không dài nên trông thân hình hơi ngắn. Cánh ngắn vừa phải.
Ngực khá sâu, bụng sâu và rộng vừa phải. Chân vịt ngắn, có màu xám hoặc vàng, một số có đốm nâu, đen. Theo Trọng Dũng (2012) màu sắc lông của vịt Kỳ Lừa không thuần nhất, đa số vịt có lông màu nâu thẫm hoặc xám nhạt, một số con lông đen tuyền hoặc trắng xỉn, một số con loang trắng đen hoặc trắng nâu. Vịt Kỳ Lừa có dáng đi lúc lắc sang hai bên, thân mình hơi dốc so với mặt đất.
Vịt nuôi đến 60-70 ngày nặng 1,3 - 1,5 kg, đến 85-90 ngày nặng 1,6-1,8 kg. Vịt Kỳ Lừa thường được bán thịt vào thời điểm này, tỉ lệ thân thịt so với khối lượng sống đạt trên 50%. Sản lượng trứng 110-120 quả/năm, khối lượng là 65-75 g/quả. Sau hai năm tuổi, con mái nặng 2,2 - 2,5 kg, con đực 2,8-3,0 kg.
Chất lượng thịt vịt Kỳ Lừa rất thơm ngon, cao hơn rất nhiều so với vịt Cỏ. Vịt Bầu Theo Nguyễn Đức Trọng (2007) vịt Bầu là giống vịt nội gồm có Bầu quỳ và Bầu bến. Vịt có màu lông chủ yếu là cánh sẻ, ngoài ra còn có một số màu như: 5 xám, lang trắng đen có cả đen và trắng trắng tuyền.