Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén được thành lập theo Quyết định số 194/CT ngày 09 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nằm trên địa bàn 6 xã (Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Vũ Nông, Hưng Đạo, Ca Thành) và thị trấn Tĩnh Túc thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Khu vực này sở hữu hệ thống cảnh quan núi cao đặc trưng với đỉnh Phia Oắc cao 1.931 m, đóng vai trò điều hòa khí hậu và bảo vệ nguồn nước đầu nguồn. Tuy nhiên, do thời gian dài chưa được quy hoạch và điều tra đánh giá tổng hợp, tài nguyên rừng tại đây chịu áp lực lớn từ nạn chặt phá rừng, săn bắt và khai thác trái phép, khiến cấu trúc rừng nghèo kiệt và đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng.
Trong số các loài thực vật nguy cấp, Bẩy lá một hoa (Paris polyphylla Sm., trong văn bản đề tài ghi là Paris poluphilall Sm.) là loài cây dược liệu quý hiếm thuộc nhóm bị đe dọa (Sách Đỏ Việt Nam 2007 xếp hạng Nguy cấp - EN A1c,d; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP xếp vào Nhóm II). Kể từ những năm 1990, loài cây này bị thu gom ráo riết để bán qua biên giới với giá trị kinh tế cao, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Trong khi đó, các nghiên cứu chuyên sâu về đặc tính sinh học, khả năng tái sinh và phân bố sinh thái của loài tại khu vực Phia Oắc - Phia Đén còn rất hạn chế.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 2 nhiệm vụ cụ thể:
- Xác định được một số đặc điểm hình thái và sinh thái loài Bẩy lá một hoa (Paris poluphilall Sm.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén.
- Từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Bẩy lá một hoa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây Bẩy lá một hoa (Paris poluphilall Sm.).
- Phạm vi không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện trong giai đoạn từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý:
- Khung phân loại thực vật: Khóa luận sắp xếp vị trí phân loại của loài theo hệ thống phân loại thực vật Takhtadian (Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta, Lớp Hành - Liliopsida, Bộ Củ nâu - Dioscoreales, Họ Trọng lâu - Trilliaceae, Chi Paris, Loài Paris poluphilall Sm.).
- Căn cứ pháp lý và tiêu chí bảo tồn: Áp dụng Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2006), Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (xếp loài vào Nhóm II - hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại), cùng hệ thống phân hạng bảo tồn của IUCN (EX, EW, CR, VU, LR/cd, LR/nt, LC, DD, NE).
- Lý thuyết sinh thái rừng: Đánh giá tổ thành tầng cây cao dựa trên phương pháp giá trị quan trọng (Importance Value Index - IVI) theo quan điểm sinh thái học của Thái Văn Trừng (1987), trong đó loài có IVI ≥ 5% được xem là có ý nghĩa sinh thái, nhóm loài chiếm trên 50% tổng số cá thể là loài ưu thế.
Phương pháp nghiên cứu thực tế và nguồn dữ liệu:
- Phương pháp kế thừa: Thu thập số liệu khí tượng, thủy văn, địa chất, thổ nhưỡng, bản đồ chuyên dụng và số liệu thống kê dân sinh kinh tế của huyện Nguyên Bình năm 2010.
- Điều tra theo tuyến: Thiết lập 6 tuyến điều tra xuất phát từ chân lên đỉnh núi, đi qua các trạng thái rừng. Cứ mỗi 100 m độ cao lập 1 ô tiêu chuẩn (OTC).
- Điều tra ô tiêu chuẩn (OTC): Lập tổng cộng 30 OTC điển hình ngẫu nhiên (diện tích 1.000 m², kích thước 20 m × 50 m) cách đường tuần rừng từ 50 m trở lên đối với tầng cây gỗ có đường kính $D_{1.3} \ge 8\text{ cm}$. Tại nơi địa hình dốc, lập ô diện tích 100–200 m² thay thế dọc theo đường đồng mức.
- Điều tra ô dạng bản (ODB): Trong mỗi OTC lập 5 ODB (diện tích 25 m², kích thước 5 m × 5 m, gồm 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở trung tâm) để kiểm kê cây tái sinh, đo đếm độ che phủ của tầng cây bụi và thảm tươi.
- Phương pháp xử lý số liệu lâm học:
- Chỉ số tổ thành $IVI_i (%) = (A_i + D_i + RF_i) / 3$; trong đó $A_i$ là độ phong phú tương đối, $D_i$ là độ ưu thế tương đối qua tiết diện thân $G_i$, $RF_i$ là tần suất xuất hiện tương đối.
- Mật độ tái sinh: $N/\text{ha} = (10.000 \times n) / S$ (với $n$ là số cây tái sinh, $S$ là diện tích ODB).
- Tần suất xuất hiện loài: $F_i = (\text{Số OTC xuất hiện loài} / \text{Tổng số OTC}) \times 100$.
- Đánh giá chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp: Tốt, Trung bình, Xấu.
- Điều tra phẫu diện đất: Đào phẫu diện và mô tả định tính các chỉ tiêu (độ dày tầng đất, màu sắc, kết cấu tơi xốp, tỷ lệ đá lộ đầu, độ che phủ thảm mục) tại các vị trí bắt gặp loài.
- Điều tra xã hội học và phỏng vấn: Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc phỏng vấn trực tiếp 30 người dân địa phương về tình hình khai thác, sử dụng, buôn bán và hiểu biết bản địa đối với loài Bẩy lá một hoa.
- Đánh giá tác động nhân sinh và vật nuôi: Thiết lập các điểm khảo sát dọc tuyến đường mòn từ làng vào rừng với cự ly 500 m/điểm, cho điểm theo thang từ 0 đến 3 (0–1: tác động ít, không liên tục; 1–2: tác động nhiều, chưa gây thiệt hại lớn; 2–3: tác động nhiều, gây thiệt hại lớn và liên tục).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày vị trí địa lý, tầm quan trọng sinh thái của Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, đồng thời phản ánh thực trạng tài nguyên rừng bị xâm hại từ năm 1986 đến nay. Phần này xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, chỉ ra ý nghĩa khoa học trong việc củng cố phương pháp nghiên cứu bảo tồn thực vật quý hiếm và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên lâm sản ngoài gỗ tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Phần này tổng thuật các tài liệu trong và ngoài nước:
- Tình hình nghiên cứu quốc tế: Trình bày nguồn gốc loài từ dãy Himalaya; ghi nhận của IUCN về khả năng nảy mầm tự nhiên kém của hạt; các nghiên cứu chiết xuất hóa thực vật từ thân rễ (hoạt chất saponin steroid, pariphyllin A, gracillin) có tác dụng ức chế tế bào khối u in vitro, kháng đột biến gen, chống loét dạ dày trên chuột và an thần, giảm đau (Paris polyphylla var. yunnanensis, P. thibetica).
- Nghiên cứu trong nước: Tổng kết phân loại chi Paris ở Việt Nam gồm 6–7 loài theo Nguyễn Thị Đỏ và Nguyễn Tiến Bân (2005); hiện trạng buôn bán qua biên giới từ thập niên 1990; các chương trình lưu giữ nguồn gen phối hợp giữa Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng với VQG Pù Mát, VQG Hoàng Liên Sơn (2013).
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu: Tọa độ địa lý từ $22^\circ31'44''$ đến $22^\circ39'41''$ vĩ độ Bắc, $105^\circ49'53''$ đến $105^\circ56'24''$ kinh độ Đông; 90% diện tích là núi trung bình cao $\ge 700\text{ m}$; khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa cận nhiệt đới núi cao, nhiệt độ trung bình năm 18°C (thấp nhất $-2^\circ\text{C}$ đến $-5^\circ\text{C}$, cao nhất 34°C), độ ẩm trung bình 84,3%, lượng mưa trung bình 1.592 mm/năm; hệ thống suối mật độ 2 km/100 ha; 4 nhóm đất chính; cơ cấu kinh tế trồng trọt chiếm 81,1%, chăn nuôi chiếm 18,9%; mật độ dân số 51 người/km², gồm 5 dân tộc với người Dao chiếm đa số (47,2%).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu là cây Bẩy lá một hoa (Paris poluphilall Sm.) và khung thời gian thực hiện (01/2015 – 05/2015). Xác định 6 nội dung nghiên cứu kỹ thuật; mô tả chi tiết phương pháp lập 6 tuyến điều tra, 30 OTC (1.000 m²) và các ODB (25 m²); nêu rõ các công thức toán học lâm học dùng để tính chỉ số IVI, mật độ tái sinh, tần suất xuất hiện; quy định thang điểm 0–3 đo lường mức độ tác động của con người và gia súc.
Phần 4: Kết quả phân tích nghiên cứu
Chương này phản ánh toàn bộ dữ liệu thực nghiệm qua 16 bảng thống kê chi tiết:
- Tình hình khai thác và hiểu biết của người dân: Khảo sát 30 người dân cho thấy 100% người dân khai thác loài để bán thương phẩm với giá 1.000.000 – 2.000.000 VNĐ/kg thân rễ củ; 66,67% (20 người) sử dụng làm thuốc gia đình. Người dân gọi bằng các tên bản địa: Thất diệp nhất chi hoa, Độc cước liên, Thiết đăng đài, Chi hoa đầu, Thảo hà xa; chưa ai có kỹ thuật hay kinh nghiệm gây trồng nhân tạo.
- Hình thái học loài: Thân khí sinh thảo đứng cao 20–70 cm (trung bình 54,65 cm), đường kính $D_{1.3}$ từ 0,5–2,5 cm (trung bình 1,7 cm). Thân rễ (củ) ngầm chia nhiều đốt ngắn, dài 5–40 cm, đường kính 2,5 cm, vết bẻ có chất bột màu vàng trắng hoặc xám vàng. Tầng lá giữa thân gồm 5–7 lá mọc vòng (thường gặp 7 lá), cuống lá 2,5–3 cm; phiến lá dài 14–19 cm (trung bình 16,3 cm), rộng 5–8,5 cm (trung bình 6,5 cm). Lá đài 5–10 cái (thường là 7), dài 2,5–5 cm (trung bình 3,9 cm), rộng 1–2,5 cm (trung bình 1,7 cm). Hoa đơn độc ở đỉnh ngọn, cuống hoa dài 15–30 cm, nhụy tím đỏ, bầu 3 ngăn, quả mọng/nang tím đen hoặc xanh chứa hạt vàng.
- Cấu trúc sinh thái lâm phần và phân bố: Trong 30 OTC điều tra, loài chỉ xuất hiện tại 3 OTC (ô 7 ở độ cao 1.445 m; ô 10 ở 1.318 m; ô 12 ở 1.277 m), đạt tần suất xuất hiện 10%. Loài chỉ phân bố trong đai cao 1.000–1.500 m thuộc trạng thái rừng tự nhiên phục hồi IIa và rừng IIIa1. Độ tàn che lâm phần nơi có loài phân bố dao động từ 0,4 đến 0,5 (trung bình 0,47; riêng tại các ODB bắt gặp loài là 0,4). Tầng cây cao đi kèm gồm các loài ưu thế: Dẻ, Kháo, Sếu, Thiết san giả, Re hương.
- Đặc điểm tái sinh và thảm thực vật dưới tán: 100% cá thể tái sinh ghi nhận được đều có nguồn gốc từ chồi thân ngầm sau mùa ngủ đông, hoàn toàn không phát hiện tái sinh hạt ngoài tự nhiên. 100% chồi tái sinh đạt cấp chất lượng Tốt. Mật độ tái sinh rất thấp, trung bình 320 cây/ha (ô 7: 160 cây/ha; ô 10: 240 cây/ha; ô 12: 560 cây/ha). Độ che phủ cây bụi trung bình là 10,3% (tại ODB có loài là 10%); độ che phủ thảm tươi trung bình 13,33% (tại ODB có loài từ 10%–15%).
- Đặc điểm phẫu diện đất: Đất thuộc loại mùn thô xám đen, tầng đất rất mỏng (dày 10–12 cm), kết cấu tơi xốp, tỷ lệ đá lộ đầu rất cao (72%–74%), độ che phủ thảm mục 50%–75%, phân bố tại các sườn dốc hướng Tây Bắc và Đông Bắc.
- Đánh giá tác động nhân sinh: Dấu vết gia súc chăn thả tác động mạnh nhất với điểm trung bình 1,813; tiếp đến là chặt cưa cây gỗ (1,568) và khai thác lâm sản ngoài gỗ (1,526); đốt phát rừng (0,785); các tác động khác (0,41).
- Đề xuất giải pháp: Hệ thống hóa thành 2 nhóm giải pháp bảo tồn (tuyên truyền, khoanh nuôi, cấm thả rông gia súc, xử phạt hành chính, hỗ trợ sinh kế) và phát triển (trồng thử nghiệm bán tự nhiên, cấp vốn dự án, chuyển giao kỹ thuật nhân giống).
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ các đặc trưng sinh học, hình thái, cấu trúc tổ thành tầng cao, mật độ tái sinh và các yếu tố môi trường đất đá lộ đầu. Chỉ rõ 3 tồn tại: thời gian theo dõi ngắn, địa hình núi hiểm trở khó tiếp cận toàn diện, tác giả chưa có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu thực địa. Đưa ra 5 kiến nghị cụ thể nhằm kéo dài thời gian theo dõi, giải quyết sinh kế cho cộng đồng vùng đệm, điều tra bổ sung trữ lượng và thử nghiệm nhân giống tại vườn hộ gia đình.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã thu thập và xử lý các chỉ tiêu sinh học, sinh thái của loài Bẩy lá một hoa tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, được tổng hợp trong bảng sau:
| Nhóm chỉ tiêu |
Thông số đo đếm / phân tích |
Giá trị ghi nhận trong khóa luận |
| Hình thái thân khí sinh |
Đường kính thân ($D_{1.3}$) Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) |
Nhỏ nhất 0,5 cm; Lớn nhất 2,5 cm; Trung bình 1,7 cm Nhỏ nhất 20 cm; Lớn nhất 70 cm; Trung bình 54,65 cm |
| Hình thái thân rễ (củ) |
Chiều dài thân rễ Đường kính thân rễ |
5 – 40 cm (nhiều đốt ngấn ngang, vết bẻ có bột vàng trắng/xám) Trung bình 2,5 cm |
| Kích thước lá |
Chiều dài phiến lá Chiều rộng phiến lá Số lượng lá / vòng lá |
14 – 19 cm; Trung bình 16,3 cm 5 – 8,5 cm; Trung bình 6,5 cm 5 – 7 lá (phổ biến nhất là 7 lá; cuống lá dài 2,5 – 3 cm) |
| Kích thước lá đài |
Chiều dài lá đài Chiều rộng lá đài |
2,5 – 5 cm; Trung bình 3,9 cm 1 – 2,5 cm; Trung bình 1,7 cm (số lượng 5 – 10 lá đài) |
| Phân bố & Tần suất |
Đai cao phân bố Trạng thái rừng Tần suất xuất hiện ($F_i$) |
1.277 m – 1.445 m (tập trung đai 1.000 – 1.500 m) Rừng tự nhiên phục hồi IIa và rừng IIIa1 10% (xuất hiện ở 3/30 OTC khảo sát) |
| Tái sinh tự nhiên |
Tỷ lệ nguồn gốc chồi / hạt Chất lượng tái sinh Mật độ tái sinh trung bình |
100% tái sinh chồi từ củ ngầm / 0% tái sinh hạt 100% đạt cấp Tốt (nhờ dinh dưỡng dự trữ từ củ) 320 cây/ha (ô 7: 160; ô 10: 240; ô 12: 560 cây/ha) |
| Sinh cảnh & Môi trường |
Độ tàn che tầng cây gỗ Độ che phủ cây bụi / thảm tươi Đặc điểm thổ nhưỡng |
Trung bình 0,47 (tại các ô có loài phân bố là 0,4) Cây bụi: 10,3%; Thảm tươi: 13,33% Đất mùn thô dày 10–12 cm; Đá lộ đầu chiếm 72%–74% |
| Khai thác & Tác động |
Tỷ lệ người dân bán / dùng thuốc Giá bán thân rễ trên thị trường Điểm tác động nhân sinh (0–3) |
100% khai thác để bán; 66,67% dùng làm thuốc gia đình 1.000.000 – 2.000.000 VNĐ/kg tươi Vật nuôi: 1,813; Chặt cưa: 1,568; Hái lượm LSNG: 1,526 |
Công thức tổ thành chung của tầng cây gỗ (CTTTC) tại các lâm phần xuất hiện loài Bẩy lá một hoa được xác định gồm:
$$14,37\text{ D} + 12,47\text{ K} + 10,25\text{ Se} + 9,54\text{ Dđ} + 9,04\text{ Xn} + 8,77\text{ Rh} + 7,94\text{ Tsg} + 6,60\text{ Ttln} + 6,09\text{ S} + 5,39\text{ Bv} + 9,27\text{ Lk}$$
(Trong đó: D: Dẻ, K: Kháo, Se: Sếu, Dđ: Dẻ đỏ, Xn: Xoan nhừ, Rh: Re hương, Tsg: Thiết san giả, Ttln: Thông tre lá ngắn, S: Sồi, Bv: Bời lời/loài đi kèm, Lk: Các loài khác).
Các giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất:
- Giải pháp bảo tồn: Tăng cường tuần tra, ngăn chặn việc thu gom thương mại củ Bẩy lá một hoa; lập phân vùng khoanh nuôi bảo vệ nghiêm ngặt các lâm phần tại đai cao trên 1.200 m; cấm thả rông trâu bò trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt nhằm hạn chế dẫm đạp làm gãy thân khí sinh; tăng cường chế tài xử phạt hành chính; quy hoạch ổn định đất nương rẫy và hỗ trợ sinh kế cho các bản người Dao, người H'Mông ven rừng.
- Giải pháp phát triển: Xây dựng các mô hình gây trồng thử nghiệm bán tự nhiên dưới tán rừng tự nhiên có độ tàn che 0,4; khuyến khích người dân bản địa tham gia nhân giống từ chồi thân rễ; đầu tư nguồn vốn khoa học công nghệ để chuyển giao quy trình kỹ thuật thuần hóa loài cây thuốc.
Đóng góp của khóa luận:
Cung cấp dẫn liệu thực tế về kích thước hình thái thân, lá, củ và các chỉ tiêu sinh thái định lượng (mật độ tái sinh, công thức tổ thành tầng cao, độ tàn che, tính chất mùn đá vôi) của loài Bẩy lá một hoa tại Phia Oắc - Phia Đén. Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng tái sinh tự nhiên hoàn toàn phụ thuộc vào thân ngầm và xác nhận loài đang đứng trước sức ép khai thác kiệt quệ do giá bán thương phẩm cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được văn bản nêu rõ:
- Thời gian nghiên cứu và thực địa ngắn (5 tháng, từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015), chỉ theo dõi được giai đoạn sinh trưởng mùa xuân - đầu hè, chưa thể theo dõi đầy đủ toàn bộ chu kỳ sinh học quanh năm (đặc biệt là giai đoạn rụng lá ngủ đông và quá trình hình thành hạt vào mùa thu).
- Điều kiện địa hình vùng núi Phia Oắc chia cắt mạnh, độ dốc lớn, đường sá đi lại khó khăn nên phạm vi khảo sát thực tế chưa bao quát hết toàn bộ các tiểu khu trong khu bảo tồn.
- Tác giả bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức thực tế còn hạn chế nên các đánh giá thổ nhưỡng mới dừng lại ở mô tả định tính phẫu diện đất ngoài thực địa, chưa tiến hành lấy mẫu phân tích hóa lý trong phòng thí nghiệm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cần tổ chức các chương trình theo dõi sinh trưởng liên tục nhiều năm trên phạm vi rộng hơn tại khu bảo tồn.
- Thực hiện điều tra chuyên đề bổ sung nhằm định lượng chính xác trữ lượng cá thể tự nhiên còn sót lại.
- Nghiên cứu sâu về sinh sản hữu tính (thử nghiệm xử lý phá ngủ nghỉ của hạt) và hoàn thiện quy trình nhân giống sinh dưỡng bằng đoạn thân rễ phục vụ bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ).
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu thực tế hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học thực vật và Dược liệu: Tham khảo phương pháp thiết kế tuyến điều tra đai cao, kỹ thuật lập OTC 1.000 m² kết hợp ODB 25 m², công thức tính toán chỉ số giá trị quan trọng IVI và phương pháp đánh giá tái sinh rừng tự nhiên.
- Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén và lực lượng Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng: Sử dụng dữ liệu về đai cao phân bố (1.277 – 1.445 m), tọa độ ô tiêu chuẩn và thang điểm tác động nhân sinh để khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt, ngăn chặn hoạt động đào bới thân rễ.
- Các đề tài nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ và bảo tồn nguồn gen: Kế thừa số liệu thực địa về tổ thành tầng cây gỗ đi kèm (nhóm loài Dẻ, Kháo, Sếu) và điều kiện vi khí hậu, thổ nhưỡng (độ tàn che 0,4; đất mùn thô trên đá vôi lộ đầu) để thiết kế mô hình trồng thử nghiệm dưới tán rừng.
Câu hỏi thường gặp
1. Đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Bẩy lá một hoa tại Phia Oắc - Phia Đén có điểm gì đặc biệt?
Qua điều tra tại các ô dạng bản, 100% cây tái sinh được ghi nhận đều có nguồn gốc từ chồi thân rễ ngầm mọc lên vào mùa xuân sau thời gian ngủ đông; không phát hiện thấy bất kỳ cá thể con nào tái sinh từ hạt. Nhờ nguồn dinh dưỡng dự trữ dồi dào trong thân ngầm, 100% số chồi tái sinh này đều đạt tiêu chuẩn sinh trưởng Tốt. Mật độ tái sinh tự nhiên của loài rất thấp, dao động từ 160 đến 560 cây/ha, trung bình đạt 320 cây/ha.
2. Loài Bẩy lá một hoa phân bố ở độ cao nào và trong trạng thái rừng nào tại khu bảo tồn?
Khảo sát 30 OTC cho thấy loài xuất hiện tại 3 ô tiêu chuẩn nằm ở các độ cao 1.277 m (ô 12), 1.318 m (ô 10) và 1.445 m (ô 7), thuộc đai cao từ 1.000 m đến 1.500 m (khí hậu á nhiệt đới núi cao). Về trạng thái rừng, loài chỉ phân bố rải rác trong rừng tự nhiên, cụ thể là trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt (IIa) và rừng nghèo/trung bình (IIIa1); không xuất hiện ở các đai cao dưới 1.000 m hoặc trong các trạng thái rừng trồng trúc sào, vầu.
3. Điều kiện đất đai và ánh sáng nơi loài sinh trưởng có đặc điểm gì?
Cây Bẩy lá một hoa phân bố ở những lập địa có độ tàn che tầng cây gỗ ở mức thấp đến trung bình (trung bình toàn lâm phần là 0,47; tại các ô dạng bản xuất hiện loài đạt 0,4). Độ che phủ của cây bụi thấp (10%) và thảm tươi từ 10% đến 15%. Về thổ nhưỡng, loài thích hợp sống trên loại đất mùn thô màu xám đen, tầng đất mỏng chỉ từ 10 đến 12 cm, đất tơi xốp xen kẽ trong các hốc đá với tỷ lệ đá lộ đầu rất cao (72% – 74%), độ che phủ thảm mục từ 50% đến 75% trên các sườn dốc hướng Tây Bắc và Đông Bắc.
4. Tần suất xuất hiện của cây Bẩy lá một hoa trong khu vực nghiên cứu là bao nhiêu?
Trong tổng số 30 OTC điều tra (mỗi ô 1.000 m²), tác giả chỉ ghi nhận sự hiện diện của loài tại 3 OTC (ô 7, 10 và 12). Tần suất xuất hiện tính toán được là 10%. Theo thang phân loại tần suất, mức 10% thuộc nhóm xuất hiện rất ít (0 – 25%), phản ánh số lượng cá thể ngoài tự nhiên tại khu bảo tồn còn rất hiếm.
5. Áp lực khai thác và tác động nhân sinh đối với loài tại khu bảo tồn diễn ra như thế nào?
Theo khảo sát 30 người dân địa phương, 100% người được hỏi đều tham gia khai thác thân rễ Bẩy lá một hoa để bán cho thương lái với giá rất cao (1.000.000 – 2.000.000 VNĐ/kg tươi) và 66,67% dùng ngâm rượu chữa bệnh. Đánh giá tác động dọc theo các tuyến đường mòn cho thấy dấu vết chăn thả vật nuôi là yếu tố gây xáo trộn mạnh nhất (điểm trung bình 1,813), tiếp theo là hoạt động chặt cưa cây gỗ (1,568) và khai thác lâm sản ngoài gỗ (1,526).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Văn Thắng đã phản ánh chi tiết các đặc điểm hình thái, đặc trưng sinh thái và hiện trạng tái sinh chồi của loài cây thuốc quý Bẩy lá một hoa (Paris poluphilall Sm.) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén. Nghiên cứu xác định loài chỉ phân bố rải rác ở đai cao 1.277 – 1.445 m, dưới tán rừng có độ tàn che 0,4 và nền đất mùn thô nhiều đá lộ đầu với mật độ tái sinh tự nhiên thấp (320 cây/ha). Các số liệu thực địa và hệ thống giải pháp được đề xuất là căn cứ xác thực phục vụ công tác quy hoạch, khoanh vùng bảo vệ nguồn gen lâm sản ngoài gỗ nguy cấp tại tỉnh Cao Bằng.