Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén thuộc địa bàn huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng là khu vực có tính đa dạng sinh học cao với nhiều hệ sinh thái rừng tự nhiên đặc trưng của vùng núi đá vôi phía Bắc. Tuy nhiên, áp lực dân sinh từ các cộng đồng dân cư sinh sống trong và liền kề vùng lõi—với tỷ lệ nghèo đói cao, đời sống phụ thuộc chủ yếu vào canh tác nương rẫy và thu hái lâm sản ngoài gỗ—đã khiến tài nguyên thực vật rừng tại đây chịu nhiều quấy nhiễu. Tình trạng chặt phá rừng lấy gỗ, đốt nương làm rẫy và khai thác dược liệu tự do phục vụ nhu cầu thương mại của tư thương đã làm suy giảm nghiêm trọng diện tích sinh cảnh và quy mô quần thể của nhiều loài thực vật quý hiếm.
Trong số các loài cây bản địa có nguy cơ bị đe dọa, Bát giác liên (Podophyllum tonkinense Gagnep) là nguồn gen dược liệu đặc hữu có giá trị kinh tế và y học đặc biệt cao. Toàn cây, đặc biệt là thân rễ, chứa nhiều hoạt chất sinh học (trong đó có berberin và podophyllotoxin) được đồng bào bản địa và y học truyền thống sử dụng để giải độc, tiêu viêm, chữa rắn cắn, ung nhọt và sưng yết hầu. Do bị khai thác triệt để ngoài tự nhiên trong khi khả năng tái sinh hạn chế, số lượng cá thể loài này trong khu bảo tồn đã sụt giảm nghiêm trọng, đẩy loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cục bộ. Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Hoàng Quốc Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm thiết lập cơ sở dữ liệu sinh học phục vụ công tác quản lý và bảo tồn loài cây này.
Khóa luận xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định được các đặc điểm hình thái nổi bật của loài cây Bát giác liên (rễ, thân, lá, hoa và quả).
- Xác định được các đặc tính sinh thái và đề xuất một số biện pháp bảo vệ và phát triển loài cây Bát giác liên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Loài cây Bát giác liên (Podophyllum tonkinense Gagnep) phân bố trong rừng tự nhiên.
- Phạm vi không gian: Rừng tự nhiên thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tập trung khảo sát trên địa bàn xã Ca Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa, thu thập số liệu, phân tích và hoàn thiện khóa luận được tiến hành từ tháng 02/2015 đến tháng 05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên khung lý thuyết sinh thái học thực vật của Lê Mộng Chân (2000) và phương pháp đánh giá cấu trúc rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1987). Căn cứ phân loại và bảo tồn dựa trên tiêu chuẩn phân hạng của Sách đỏ Việt Nam (1992, 1996, 2007), Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng loài của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), cùng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước như Nghị định số 18/HĐBT (1992), Nghị định số 48/2002/NĐ-CP và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Khóa luận cũng kế thừa các tài liệu thực vật chí và dược liệu học của Lecomte (Thực vật chí đại cương Đông Dương) và Đỗ Tất Lợi (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa điều tra xã hội học lâm nghiệp và khảo sát thực địa lâm học chuyên ngành:
- Phương pháp phỏng vấn xã hội học: Ứng dụng kỹ thuật đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA/RRA), thực hiện 30 phiếu điều tra đối với các nhóm đối tượng: người dân từng khai thác và buôn bán cây thuốc, già làng am hiểu rừng bản địa, thầy thuốc đông y và cán bộ kiểm lâm địa bàn.
- Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 4 tuyến khảo sát chính theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, chạy dọc từ chân núi lên đỉnh núi đi qua các trạng thái rừng. Cứ chênh lệch 100 m độ cao bố trí 1 ô tiêu chuẩn (OTC). Cứ mỗi cự ly 100 m dọc theo tuyến chính, mở các tuyến phụ hình xương cá sang hai phía với bề rộng khảo sát 10 m để kiểm tra sự biến đổi của đai thực bì.
- Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập tổng cộng 30 OTC ngẫu nhiên đại diện cho các trạng thái rừng. Diện tích mỗi OTC chuẩn là 1.000 m² (kích thước 20 m × 50 m); tại các vị trí địa hình hiểm trở, diện tích ô được điều chỉnh thành 100 m² đến 200 m² có cùng độ cao để thay thế tương đương.
- Điều tra cấu trúc và sinh thái:
- Độ tàn che: Đo tại 5 điểm trên mỗi OTC (tương ứng vị trí các ô dạng bản), tính giá trị trung bình cộng.
- Tầng cây cao: Thống kê tên loài, đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), tính tiết diện thân ($G$), độ phong phú tương đối ($A_i$), độ ưu thế tương đối ($D_i$), tần số xuất hiện tương đối ($RF_i$) và chỉ số giá trị quan trọng ($IVI_i = [A_i + D_i + RF_i] / 3$). Những loài có $IVI \ge 5%$ được xác định là có ý nghĩa sinh thái.
- Tái sinh tự nhiên: Bố trí 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (5 m × 5 m) tại 4 góc và trung tâm của mỗi OTC (tổng diện tích 125 m²/OTC). Xác định số lượng, nguồn gốc tái sinh (hạt/chồi), mật độ quy đổi theo héc-ta ($N/ha = [n / S_{đt}] \times 10.000$), chất lượng cây con (tốt, trung bình, xấu) và công thức tổ thành tái sinh ($K = [N_i / N] \times 10$).
- Tầng cây bụi và thảm tươi: Dùng thước dây đo cắt dọc hai đường chéo của ODB để tính tỷ lệ che phủ trung bình, kết hợp ghi nhận thành phần loài ưu thế và chiều cao bình quân.
- Phẫu diện đất: Đào và mô tả tầng mùn $A_0$, tầng đất mặt $A$ và tầng đất tích tụ $B$ về các chỉ tiêu: độ dày tầng, màu sắc, độ ẩm, độ xốp, thành phần cơ giới và tỷ lệ đá lộ đầu/đá lẫn.
- Đánh giá tác động nhân sinh và vật nuôi: Trên các tuyến khảo sát, cứ mỗi cự ly 500 m lập một ô tiêu chuẩn 400 m² để ghi nhận các dấu hiệu tác động gồm: cưa chặt cây lấy gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ, đốt/phát quang làm rẫy, dấu vết chăn thả gia súc (giẫm đạp, cọ xát, ăn lá, phân) và các tác động khác theo thang điểm quy ước.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam và thực trạng suy thoái đa dạng sinh học do áp lực nghèo đói của cư dân miền núi. Phần này chỉ rõ giá trị dược liệu đặc thù của loài Bát giác liên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn gen tự nhiên, từ đó xác lập mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chi Podophyllum (họ Berberidaceae). Tác giả khái quát các phân loại quốc tế từ công bố năm 1753 của Linnaeus, phân bố của các loài liên quan như Podophyllum peltatum tại Bắc Mỹ, Dysosma tại Trung Quốc, cũng như hoạt chất podophyllotoxin dùng trong y dược. Tại Việt Nam, chương tổng quan hệ thống hóa các mốc chính sách lâm nghiệp và văn bản pháp lý về bảo tồn (Sách đỏ Việt Nam 1992, 1996, 2007; các Nghị định 18/HĐBT, 48/2002/NĐ-CP, 32/2006/NĐ-CP), các công trình nghiên cứu thực vật học của Lê Mộng Chân và Đỗ Tất Lợi. Phần cuối trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế – xã hội của xã Ca Thành: diện tích tự nhiên 8.714 ha, địa hình núi đá vôi hiểm trở, nhiệt độ trung bình năm 22°C (cao nhất 36°C, thấp nhất 0°C), dân số 449 hộ chia làm 11 xóm (chủ yếu là dân tộc Tày, Mông, Dao), tỷ lệ hộ nghèo chiếm 51,22% và 97% lao động làm nông nghiệp với tập quán canh tác lạc hậu phụ thuộc vào nương rẫy.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả đối tượng Bát giác liên phân bố trong rừng tự nhiên xã Ca Thành; xác lập 6 nội dung nghiên cứu trọng tâm từ điều tra xã hội học, phân loại bảo tồn, đặc điểm hình thái (rễ, thân, lá, hoa, quả), đặc tính sinh thái học lâm phần, đánh giá tác động ngoại cảnh đến đề xuất giải pháp. Tác giả trình bày chi tiết toàn bộ quy trình thiết kế kỹ thuật lâm sinh: cách thức lập 4 tuyến điều tra, quy cách 30 OTC (1.000 m²), mạng lưới ô dạng bản (25 m²), hệ thống công thức toán học tính toán chỉ số quan trọng $IVI$, công thức tổ thành cây gỗ và tổ thành tái sinh, cùng quy trình mô tả phẫu diện đất rừng.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Chương này công bố toàn bộ dữ liệu định lượng thu thập được qua 13 bảng số liệu và 6 hình ảnh thực địa:
- Hiểu biết bản địa và giá trị sử dụng: Người dân nhận biết cây qua tên gọi Bát giác liên, nhận thức được giá trị làm thuốc trừ phong, tiêu viêm, giải độc, trị rắn cắn và mụn nhọt; nhận diện đúng sinh cảnh ưa bóng, ẩm ven khe suối và núi đá vôi. Tuy nhiên, người dân hoàn toàn chỉ thu hái tự nhiên bán cho tư thương chứ chưa có kỹ thuật gây trồng tại nhà.
- Vị trí phân loại học: Loài thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), bộ Mao lương (Ranunculales), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), chi Podophyllum, loài Podophyllum tonkinense Gagnep. Tên khác: Quỷ cừu, Cước diệp, Độc diệp nhất chi hoa, Độc cước liên. Cấp bảo tồn: Nguy cấp (EN A1a,c,d) theo Sách đỏ Việt Nam 2007.
- Hình thái học: Cây thảo nhiều năm cao 30–50 cm. Thân rễ thô đường kính 3–5 mm chia nhiều đốt, thân đứng tròn màu xanh đậm, nhẵn không lông, mang 1–2 lá. Thân khí sinh lụi vào mùa đông, tái sinh chồi từ thân ngầm vào đầu xuân. Đo đếm 100 lá cho kết quả: chiều dài lá bình quân 25,96 cm, chiều rộng lá bình quân 28,07 cm; phiến có 6–8 thùy nông hình tam giác hoặc trứng rộng, mép lá có răng cưa nhỏ, cuống lá đính gần giữa phiến, có 4–9 gân nổi rõ ở mặt dưới. Hoa màu đỏ tím, 5–8 hoa mọc rủ xuống từ gốc lá; cuống hoa có lông; 6 lá đài có lông, 6 cánh hoa dài 2 cm, 6 nhị, bầu thượng. Quả mọng hình trứng/bầu dục, chứa nhiều hạt, vỏ quả non màu xanh nhạt.
- Đặc điểm sinh thái học:
- Độ tàn che trung bình của 3 OTC xuất hiện loài là 0,52 (52%).
- Tầng cây cao tại 3 OTC gồm các loài ưu thế: OTC 2 có Bọoc bịt, Han đổng, Gọt sành hồng công, Dương đào ($CTTT = 40.13\ Lk$); OTC 18 và 19 có ưu thế của Vầu kết hợp với Thôi chanh, Lòng mang, Chò đái, Sồi trắng, Xoan nhừ, Bồ đề, Dẻ.
- Tái sinh tự nhiên: Loài chỉ xuất hiện tái sinh ở 2 OTC (18 và 19). Tái sinh từ hạt chiếm ưu thế tuyệt đối với 90% (7 cây), tái sinh chồi chỉ chiếm 10% (1 cây). Mật độ tái sinh đạt bình quân 320 cây/ha (OTC 18 đạt 400 cây/ha; OTC 19 đạt 240 cây/ha). Chất lượng tái sinh: 10% tốt, 63,35% trung bình và 26,65% phẩm chất xấu.
- Tầng cây bụi và thảm tươi: Độ che phủ cây bụi thấp (5,2% – 10%, bình quân 6,86%), gồm các loài Đơn nem, Ba gạc, Mua, Tỳ bà, Tai trâu. Độ che phủ thảm tươi đạt 20% – 26% (bình quân 23,67%), gồm Guột, cỏ che ve, dương xỉ lá dừa, rau chua, cỏ rác.
- Thổ nhưỡng: Phân bố trên đất đá vôi nhiều mùn, tầng $A_0$ dày 1–2 cm, tầng $A$ dày 20–30 cm (xám vàng đến xám nâu, ẩm, xốp viên), tầng $B$ dày 30–40 cm (nâu vàng, ẩm, xốp viên). Tỷ lệ đá lộ đầu cao (20% – 95%), đá lẫn tầng $A$ từ 5% – 10%, tầng $B$ từ 20% – 30%; thành phần cơ giới cát pha nhiều đá lẫn.
- Phân bố: Tần suất xuất hiện cực thấp, chỉ gặp ở 3/30 OTC ($F = 10%$). Loài chỉ phân bố ở đai cao từ 800 m đến 1.200 m (cụ thể: OTC 19 ở 970 m, OTC 18 ở 1.029 m, OTC 2 ở 1.156 m), tập trung tại sườn và chân núi đá vôi tương đối bằng phẳng thuộc trạng thái rừng Vầu gỗ và rừng gỗ lá rộng phục hồi ($IIIa_1$).
- Tác động nhân sinh: Thống kê trên 6 tuyến điều tra cho thấy hoạt động chăn thả vật nuôi đạt điểm tác động cao nhất (1,813 điểm), tiếp theo là chặt cưa cây gỗ (1,568 điểm), khai thác lâm sản ngoài gỗ (1,526 điểm), đốt và phát quang nương rẫy (0,785 điểm) và các tác động khác (0,410 điểm).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng hóa các đặc điểm hình thái, sinh thái học và áp lực môi trường của loài Bát giác liên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén thông qua các bảng số liệu trích xuất từ văn bản:
| Hạng mục khảo sát |
Chỉ tiêu định lượng |
Giá trị ghi nhận |
| Kích thước lá ($n = 100$) |
Chiều dài bình quân Chiều rộng bình quân |
25,96 cm 28,07 cm |
| Độ tàn che tầng cây cao |
OTC 2 OTC 18 OTC 19 Bình quân 3 OTC |
0,52 (52%) 0,46 (46%) 0,58 (58%) 0,52 (52%) |
| Đặc tính tái sinh |
Nguồn gốc tái sinh hạt Nguồn gốc tái sinh chồi Mật độ tái sinh bình quân Chất lượng tái sinh (Tốt / TB / Xấu) |
90,0% 10,0% 320 cây/ha 10,0% / 63,35% / 26,65% |
| Độ che phủ thảm thực bì |
Độ che phủ cây bụi trung bình Độ che phủ thảm tươi trung bình |
6,86% (từ 5,2% đến 10,0%) 23,67% (từ 20,0% đến 26,0%) |
| Đặc điểm phân bố |
Tần suất xuất hiện ($3/30$ OTC) Biên độ độ cao ghi nhận thực tế Trạng thái rừng phân bố |
10,0% 970 m – 1.156 m (đai 800 – 1.200 m) Rừng Vầu gỗ và Rừng gỗ $IIIa_1$ |
Mức độ tác động ngoại cảnh (Thang điểm trung bình 6 tuyến) |
Dấu vết vật nuôi chăn thả Chặt cưa cây gỗ lớn Khai thác lâm sản ngoài gỗ Đốt, phát quang rừng |
1,813 điểm 1,568 điểm 1,526 điểm 0,785 điểm |
Từ kết quả nghiên cứu thực địa, tác giả đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài:
- Kiểm soát nghiêm ngặt tình trạng chăn thả rông gia súc và ngăn chặn hành vi chặt phá cây gỗ tầng cao nhằm duy trì độ tàn che tối thiểu từ 0,5 đến 0,6 và giữ ẩm cho tầng thảm mục.
- Ngăn cấm triệt để việc khai thác tự do cây Bát giác liên tự nhiên, kiểm soát các đường mòn và hoạt động của thương lái thu mua dược liệu.
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo tồn cho cộng đồng địa phương (đặc biệt là đồng bào Mông và Dao sống ven vùng lõi); xây dựng mô hình bảo tồn ngoại vi (ex-situ), nghiên cứu kỹ thuật nhân giống từ hạt và thử nghiệm gây trồng bán tự nhiên dưới tán rừng vầu gỗ.
Về mặt đóng góp, đây là công trình nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về hình thái cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản, đặc tính sinh thái lập địa (độ cao, đất phẫu diện, độ tàn che) và hiện trạng tái sinh tự nhiên của loài Bát giác liên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, bổ sung dữ liệu thực tế cho công tác quản lý tài nguyên gen thực vật đặc hữu của tỉnh Cao Bằng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự nhận định và giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu ngắn (từ tháng 02/2015 đến tháng 05/2015) nên đề tài mới chỉ ghi nhận được giai đoạn ra hoa (tháng 3–5) và quả non, chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ quả chín (tháng 5–8) và quá trình phát tán hạt tự nhiên trong điều kiện thực địa.
- Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung trên địa bàn một xã (xã Ca Thành), chưa bao phủ toàn bộ diện tích của Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén.
- Năng lực và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài chỉ tiến hành tìm hiểu và đánh giá khái quát các chỉ tiêu sinh thái lập địa và hình thái học, chưa có điều kiện phân tích định lượng thành phần hóa sinh hoặc hàm lượng hoạt chất dược liệu (berberin, podophyllotoxin) theo từng bộ phận cây.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định bao gồm:
- Mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ các xã thuộc vùng đệm và vùng lõi của khu bảo tồn để xác lập bản đồ phân bố chi tiết của loài.
- Tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học sinh sản, tỷ lệ nảy mầm của hạt trong điều kiện tự nhiên và nhân tạo.
- Thử nghiệm các phương pháp nhân giống vô tính (tách thân rễ) và hữu tính (gieo ươm từ hạt), xây dựng quy trình kỹ thuật gây trồng loài Bát giác liên dưới tán rừng tự nhiên nhằm phục vụ mục tiêu bảo tồn kết hợp khai thác bền vững.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với sinh viên, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật và Dược liệu học. Công trình cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về quy trình điều tra thực địa lâm sinh, từ kỹ thuật lập tuyến khảo sát độ cao, thiết lập mạng lưới ô tiêu chuẩn kết hợp ô dạng bản, đến cách thức tính toán các chỉ số sinh thái học cấu trúc rừng ($IVI$, công thức tổ thành tái sinh $K$, mật độ $N/ha$).
Đối với các nhà nghiên cứu thực vật và cán bộ ban quản lý các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên miền núi phía Bắc, tài liệu cung cấp bộ dẫn liệu gốc đáng tin cậy về đặc điểm sinh cảnh ưa bóng, cấu trúc đất phẫu diện trên núi đá vôi và các mối đe dọa sinh cảnh của loài Bát giác liên, làm cơ sở khoa học để xây dựng các phương án bảo tồn nguồn gen nguy cấp cấp địa phương và quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận xếp loài cây Bát giác liên vào vị trí phân loại và thứ hạng bảo tồn nào?
Loài được phân loại thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), bộ Mao lương (Ranunculales), họ Hoàng liên gai (Berberidaceae), chi Podophyllum, loài Podophyllum tonkinense Gagnep. Theo Sách đỏ Việt Nam (2007), loài được xếp vào nhóm thực vật đang nguy cấp ở cấp bảo tồn EN A1a,c,d.
2. Kích thước hình thái lá và hoa của Bát giác liên được đo đếm trong khóa luận đạt bao nhiêu?
Qua đo đếm 100 lá cây thực tế, chiều dài lá bình quân đạt 25,96 cm và chiều rộng lá bình quân đạt 28,07 cm; phiến lá có từ 6 đến 8 thùy nông với 4 đến 9 gân nổi ở mặt dưới. Hoa có màu đỏ tím, gồm từ 5 đến 8 hoa mọc rủ xuống ở gốc lá, mỗi hoa có 6 lá đài phủ lông, 6 cánh hoa dài 2 cm và 6 nhị.
3. Loài Bát giác liên phân bố ở độ cao nào và trong trạng thái rừng nào tại khu bảo tồn?
Cây phân bố ở đai cao từ 800 m đến 1.200 m trên địa hình sườn và chân núi đá vôi tương đối bằng phẳng. Cụ thể tại 3 ô tiêu chuẩn phát hiện loài: OTC 19 ở độ cao 970 m, OTC 18 ở 1.029 m và OTC 2 ở 1.156 m. Loài chỉ xuất hiện trong trạng thái rừng Vầu gỗ (OTC 18, 19) và rừng gỗ lá rộng phục hồi $IIIa_1$ (OTC 2), hoàn toàn vắng mặt ở các trạng thái rừng khác.
4. Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài tại khu vực khảo sát diễn ra như thế nào?
Loài tái sinh chủ yếu bằng hạt với tỷ lệ chiếm 90% (7 cây), trong khi tái sinh chồi chỉ chiếm 10% (1 cây). Mật độ tái sinh tự nhiên rất thấp, chỉ đạt bình quân 320 cây/ha. Về chất lượng cây tái sinh: cây đạt phẩm chất trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất với 63,35%, cây chất lượng xấu chiếm 26,65%, và cây chất lượng tốt chỉ chiếm 10%.
5. Hoạt động nào của con người và vật nuôi gây tác động lớn nhất lên sinh cảnh của loài?
Dựa trên đánh giá định lượng tại 6 tuyến điều tra, tác động do chăn thả vật nuôi chiếm điểm số cao nhất (1,813 điểm), theo sau là hoạt động chặt cưa cây gỗ rừng (1,568 điểm) và khai thác lâm sản ngoài gỗ (1,526 điểm). Các tác động này làm suy giảm tầng tán che, phá vỡ cấu trúc thảm mục và làm tổn thương trực tiếp đến quần thể Bát giác liên.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hoàng Quốc Anh đã phản ánh một cách khoa học và hệ thống về đặc điểm hình thái học, đặc tính sinh thái lập địa và hiện trạng tái sinh nghèo nàn của loài cây Bát giác liên (Podophyllum tonkinense Gagnep) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén. Nghiên cứu khẳng định Bát giác liên là loài cây thảo quý hiếm có phân bố rất hẹp (tần suất bắt gặp chỉ 10%), ưa bóng dưới độ tàn che 0,52 ở đai cao 800–1.200 m trên núi đá vôi, và đang chịu sức ép nghiêm trọng từ việc chăn thả gia súc cùng nạn khai thác gỗ, dược liệu tự phát. Toàn bộ hệ thống số liệu định lượng trong khóa luận là cơ sở thực chứng quan trọng để các cơ quan chức năng xây dựng chiến lược khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt và xúc tiến nghiên cứu nhân giống nhân tạo nhằm bảo tồn bền vững nguồn gen thực vật nguy cấp này.