Đặt vấn đề Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén thuộc địa phận các xã Thành Công, Quang Thành, Phan Thanh, Vũ Nông, Hưng Đạo, Ca Thành và thị trấn Tĩnh Túc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, được xác lập tại Quyết định số 194/CT ngày 09 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc Quy định các khu rừng cấm, trong đó có rừng Phia Oắc – Phia Đén. Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén là nơi lưu giữ đa dạng sinh học cao và là nơi phục hồi, lưu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ nghiên cứu khoa học, phát triển dịch vụ, du lịch sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất đai chống xói mòn, rửa trôi, sạt lở đất, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững trong khu vực. Tuy nhiên, trong suốt thời gian dài chưa được quy hoạch nên chưa điều tra, đánh giá tổng hợp tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội của vùng, các chương trình, dự án về bảo tồn và phát triển bền vững chưa được thực hiện, những tác động bất lợi tới rừng, chặt phá rừng diễn ra ngày một mạnh hơn, đa dạng sinh học đã và đang bị suy giảm đáng kể cả về số lượng và chất lượng, nhiều loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Rừng trở nên nghèo về trữ lượng và tổ thành thực vật, khu hệ động vật đã bị xâm hại một cách nghiêm trọng trong thời gian dài từ năm 1986 đến nay.
Các loài thú lớn, các loài động vật đặc hữu không còn thấy xuất hiện. Do đó, việc quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén là rất cần thiết nhằm đánh giá chính xác thực trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đa dạng sinh học; xác định và khoanh vùng các hệ sinh thái, các loài động, thực vật quý hiếm, 2 đặc hữu đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Đề xuất các giải pháp, hoạch định công tác bảo tồn, bảo vệ những giá trị đa dạng sinh học. Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao.
Tuy nhiên Việt Nam cũng đang phải đối mặt với một thực trạng rất đáng lo ngại đó là sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường và tài nguyên đa dạng sinh học, đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật và cuối cùng là ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH ở Việt Nam đã tiến hành công tác bảo tồn và hiện nay cả nước có khoảng 128 khu bảo tồn. Mặc dù các loài thực vật được bảo tồn cao như vậy, nhưng những nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam hiện nay còn rất thiếu. Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả đặc điểm hình thái, định danh loài mà chưa đi sâu nghiên cứu nhiều về các đặc tính sinh học, sinh thái học, gây trồng và bảo tồn loài.
Để tìm hiểu một số loài động thực vật đó tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài cây Áo cộc (Liriodendron chinense) và cây Đuôi ngựa (Rhoiptelea chiliantha) để làm cơ sở cho việc bảo tồn các loài thực vật qúy hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng”. Mục tiêu - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cây Áo cộc (Liriodendron chinense) và cây Đuôi ngựa (Rhoiptelea chiliantha) tại khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng. - Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp bảo tồn loài cây Áo cộc và Đuôi ngựa.Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Việc nghiên cứu giúp em củng cố lại kiến thức đã học và bổ sung thêm được những kiến thức mới, những kinh nghiệm ngoài thực tế, giúp em có thể làm quen và hiểu thêm phần nào công việc của mình sau này.
Qua đó cũng giúp em làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học. Ý nghĩa thực tiễn - Là cơ sở khoa học để di chuyển một cách có kế hoạch các loài thực vật, tạo ra khu phân bố nhân tạo. - Nghiên cứu sự phân bố của thực vật còn giúp phần nào cho việc phân vùng địa lý tự nhiên làm cơ sở cho phân vùng kinh tế, phân vùng nông nghiệp, để khai thác sử dụng một cách hợp lý nhất điều kiện đất đai, khí hậu, nguồn thực vật sẵn có cho nông nghiệp, công nghiệp… - Biết được các quy luật phát triển, sự phân bố của các loài thực vật quý hiếm là cơ sở để khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên phục vụ cuộc sống con người và bảo vệ môi trường trong sạch cho trái đất. - Qua đề tài biết được mức độ tác động của con người tới loài cây từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn tránh sự suy giảm ĐDSH.
4 PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đang ngày càng suy giảm làm cho số lượng các loài động thực vật giảm từng ngày từng giờ, đặc biệt là các loài động, thực vật quý hiếm. Có những loài thực vật rất phong phú như Họ nhưng hiện nay một số loài trong họ vẫn có nguy cơ bị tuyệt chủng. Họ Đuôi ngựa (Rhoipteleaceae) là một trong số những họ thực vật đa dạng nhất của Việt Nam với tổng số gần 1000 nhưng hiện nay số lượng đó ngày càng suy giảm do vậy cần nâng cao công tác bảo tồn.
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), chính phủ Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái. Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation). + Tuyệt chủng ( EX) + Tuyệt chủng trong tự nhiên( EW) +Cực kì nguy cấp( CR) + Nguy cấp (EN) + Sắp nguy cấp (VU) + Sắp bị đe dọa + Ít quan tâm 5 +Thiếu dữ liệu + Không được đánh giá Dựa vào phân cấp bảo tồn loài sinh thái tại KBTTN Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng.
có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần loài sinh thái ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, những loài thực vật cần được bảo tồn gấp đó chính là cây Áo cộc và cây Đuôi ngựa tại khu bảo tồn, đây là cơ sở khoa học đầu tiên giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện đề tài. Đối với bất kì công tác bảo tồn một loài động thực vật nào đó thì việc đi tìm hiểu kĩ tình hình phân bố, hiện trạng nơi phân bố là điều cấp thiết nhất. Ở KBTTN Phia Oắc – Phia Đén tỉnh Cao Bằng, tôi đi tìm hiểu tình hình phân bố của loài cây Áo cộc và cây Đuôi ngựa, thống kê số lượng, tình hình sinh trưởng và đặc điểm sinh thái học của chúng tại địa bàn nghiên cứu. Đây là cơ sở thứ hai để tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Nhưng do giới hạn của đề tài và năng lực của bản thân còn hạn chế nên tôi chưa thể phân tích đánh giá một cách cụ thể mà chỉ tiến hành “tìm hiểu” và đánh giá khái quát để đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát triển loài. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam. Tình hình nghiên cứu trên thế giới.(1976) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái 6 học.
Công trình nghiên cứu của R. Plaudy (1987) [7] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến. Sách đỏ thế giới IUCN [2] (tiếng Anh là IUCN Red List of Threatened Species, IUCN Red List hay Red Data List) là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới. Danh sách này được giám sát bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources, IUCN).
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học dược sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các quy định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.ẩ Các nghiên cứu liên quan đến cây Đuôi Ngựa và Áo cộc:y công tác Đuôi ngựa hay đuôi chó hoặc roi tê [3] (danh pháp hai phần: Rhoiptelea chiliantha) là loài duy nhất trong chi Rhoiptelea. Hệ thống APG II xếp chi Rhoiptelea vào họ của chính nó là họ Đuôi ngựa – Rhoipteleaceae, tuy nhiên APG III không còn chấp nhận họ này và đưa chi Rhoiptelea vào Hồ đào (Juglandaceae). Loài này được phát hiện năm (1932) được tìm thấy tại miền nam Trung Quốc (Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam) và miền bắc Việt Nam.
Nó là một loại cây thân gỗ lá sớm rụng cao tới 20 m và đường kính thân cây tới 60 cm, nhìn bề ngoài rất giống với cây cơi(Pterocarya tonkinensis), với các lá kép hình lông chim, mọc so le, dài 15–40 cm với 9-11 lá chét, mỗi lá chét dài 6–9 cm, mép lá có răng cưa.