ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng ngập mặn (RNM) đóng vai trò rất quan trọng việc giảm thiểu tác hại của sóng, bão lụt; điều hòa khí hậu, tích tụ các bon; ngăn ngừa xói mòn và mở rộng diện tích đất bồi; hạn chế xâm nhập mặn; phân hủy chất thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng cửa sông, ven biển; duy trì tính đa dạng sinh học và nguồn dinh dƣỡng giàu có đảm bảo cho sự phát triển của các loài sinh vật ngay trong RNM; duy trì nguồn lợi thủy sản tiềm tàng và là nơi nuôi dƣỡng các nguồn hải sản. Tổng diện tích RNM trên thế giới ƣớc tính khoảng 15,7 triệu ha, các nƣớc Đông Nam Á chiếm tới 30% tổng diện tích RNM toàn cầu (FAO, 2010) [29] Tại Việt Nam, RNM đƣợc xem là loại tài nguyên có giá trị cao, cung cấp nhiều dịch vụ hệ sinh thái quan trọng nhƣ lƣu trữ các bon, cung cấp gỗ củi, môi trƣờng sống cho nhiều loài sinh vật biển, giúp duy trì ổn định bờ biển và kiểm soát xói lở bờ biển. Tuy vậy diện tích RNM bị suy giảm mạnh theo thời gian từ 408. Sau 60 năm, từ năm 1943 đến 2003, RNM của Việt Nam đã giảm 4/5 diện tích.
Phong trào nuôi tôm, các dự án phát triển các khu công nghiệp và đô thị ven biển là một trong các nguyên nhân chính gây suy giảm diện tích RNM, nhất là từ năm 1985 đến nay (IUCN, 2012) [33]. Huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh trƣớc đây có tổng diện tích khoảng 6.000 ha RNM, hệ sinh thái RNM ở Tiên Yên đƣợc coi là điển hình của khu vực phía bắc Việt Nam. RNM tự nhiên tại địa phƣơng trƣớc đây có chất lƣợng rừng tốt, rất phong phú về số lƣợng loài cây và là nơi cƣ trú của các loài thủy sinh có giá trị kinh tế cao. Các khu RNM đã đem lại nguồn lợi phong phú và là nguồn tạo sinh kế tốt cho ngƣời dân địa phƣơng.
Tuy nhiên, từ năm 1992 nuôi trồng thủy sản đƣợc xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, nhiều diện tích RNM đã đƣợc cho thuê hoặc cấp cho các hộ dân trong 2 xã và các doanh nghiệp để tạo nên những ô, đầm nuôi trồng thủy sản. Cùng với việc phá rừng đắp đầm, nhân dân trên địa bàn còn khai thác cây làm củi, đẽo vỏ cây để nhuộm lƣới chài. đã làm diện tích RNM suy giảm rất nhanh cả về diện tích (50% - 60%) và chất lƣợng. Sau một thời gian sản xuất kinh doanh, do hiệu quả kinh tế thấp nên nhiều diện tích ô, đầm nuôi trồng thủy sản đã bị bỏ hoang (khoảng 1.
Do phƣơng thức quản lý và sử dụng chƣa thật hiệu quả, RNM đang chịu nhiều sức ép và những tác động tiêu cực. Ở nhiều nơi trong huyện, RNM tự nhiên đã và đang bị suy giảm cả về số lƣợng và chất lƣợng, trong khi diện tích rừng trồng ngập mặn tăng không nhiều. Vì vậy công tác quản lý, bảo vệ và mở rộng diện tích RNM tại các khu vực ven biển là nhu cầu cấp thiết và có nhiều ý nghĩa trong chắn sóng, lấn biển, duy trì các dịch vụ hệ sinh thái, bảo vệ khu vực ven biển khỏi các tai biến thiên nhiên, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đặc biệt là nƣớc biển dâng sẽ có những tác động tiêu cực, theo dự báo là rất mạnh tới Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng của công tác này là bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên, bảo vệ các giá trị môi trƣờng, đồng thời đáp ứng đƣợc nguyện vọng và nhu cầu của con ngƣời đối với nguồn lợi mà RNM đem lại, hƣớng tới phát triển bền vững.
Nhận thức đƣợc vai trò, ý nghĩa và đặc điểm sinh thái của RNM tại khu vực nghiên cứu, từ đó làm cơ sở khoa học để triển khai công tác quản lý, bảo vệ, phục hồi và nâng cao chất lƣợng RNM tự nhiên, mở rộng diện tích rừng trồng ngập mặn. Đặc biệt lợi dụng vào khả năng tái sinh tự nhiên của RNM có hiệu quả, bên cạnh việc đầu tƣ cho trồng rừng mới và tái trồng RNM, đồng thời đáp ứng mục tiêu thích ứng với BĐKH và phát triển rừng bền vững. Xuất phát từ thực tiễn trên, học viên chọn hƣớng nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình là “Nghiên cứu đặc điểm rừng ngập mặn tại huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh”. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ RỪNG NGẬP MẶN 1.
Trên thế giới Từ lâu các ngành khoa học đã quan tâm nghiên cứu về đất ngập mặn cũng nhƣ RNM trên nhiều lĩnh vực vì những giá trị to lớn về sinh học, sinh thái và kinh tế xã hội của vùng ven biển. Một số lĩnh vực đã đƣợc nghiên cứu nhƣ: 1. Nghiên cứu thực trạng, đặc điểm phân bố của rừng ngập mặn Nghiên cứu của Saenger. P, (2002) [37] RNM phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và vùng nhiệt đới của hai bán cầu (giữa vĩ độ 23 oN và 23oS), thƣờng ở bờ biển liên tục, chuỗi đảo chạy dài liên tục và dòng hải lƣu ấm đem theo mầm cây từ các vùng RNM phong phú đến khu vực lạnh hơn.
Rừng ngập mặn trên thế giới có phân bố ở 124 quốc gia và các vùng miền. Rừng ngập mặn chiếm khoảng 1% diện tích rừng trên bề mặt thế giới và xuất hiện ở khoảng 75% bờ biển nhiệt đới trên toàn thế giới. Nghiên cứu của FAO (2007) [28], thì tổng diện tích RNM của các vùng trên thế giới là 15. Vùng có nhiều RNM nhất là Châu Á chiếm 38,5% diện tích RNM của thế giới, vùng có ít nhất là Châu Đại Dƣơng chiếm 12,9 %.
Chi tiết xem Bảng bên dƣới: Bảng 1. Phân bố diện tích RNM trên Thế giới năm 2005 STT Vùng phân bố Diện tích (nghìn ha) Tỷ lệ (%) 1 Châu Á 5.160 20,7 3 Bắc và Trung Mỹ 2.263 14,9 4 Châu Đại Dƣơng 1.135ha diện tích RNM bị mất ở khu vực Nam Á, trong khi đó diện tích RNM trồng đƣợc khoảng 80.461 ha, nhƣ vậy diện tích trồng không bù đắp đƣợc cho diện tích RNM bị mất đi. Ngày nay, diện tích RNM đang ngày càng bị thu hẹp do tác động của biến đối khí hậu và sức ép dân số. Biến động diện tích RNM thế giới từ 1980 đến 2005 Biến động Biến động Biến động 1980 1990 từ 1980 đến 2000 từ 1990 đến 2005 từ 2000 đến Khu vực 1990 2000 2005 1000 1000 1000 1000 Giảm (%) Giảm (%) Giảm (%) ha ha ha ha Châu Phi 3.858 -305 -4,9 Bắc và Trung 2.263 -89 -3,8 mỹ Châu Đại 2.972 -40 -2,0 Dƣơng Nam Mỹ 2.
Báo cáo này đã chỉ ra rằng trong khoảng thời gian từ 1980 – 2005 diện tích RNM trên thế giới có nhiều biến động lớn cả về diện tích RNM (Bảng 1. Tổng số diện tích RNM trên toàn thế giới từ năm 1980 là 18,8 triệu ha, năm 1990 đã giảm xuống còn 16,9 triệu ha (giảm 9,9% so với năm 1980), năm 2000 đã giảm xuống còn 15,7 triệu ha (giảm 7% so với năm 1990), năm 2005 đã giảm xuống còn 15,2 triệu ha (giảm 3,2% so với năm 2000). Từ năm 1980 đến năm 2005 diện tích RNM trên thế giới giảm 3,6 triệu ha. Diện tích RNM giảm nhiều nhất là khu vực Châu Á, giảm 1,9 triêu ha so với năm 1980.
Cùng với sự suy giảm về diện tích thì chất lƣợng RNM cũng bị suy 5 giảm. Thì ƣớc tính tốc độ suy thoái RNM toàn cầu khoảng 0,16% - 0,39%/năm. Đặc biệt, khu vực Đông Nam Á có sự suy giảm RNM lớn nhất, với tốc độ khoảng 3,58% - 8,08%/năm. Những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm diện tích và chất lƣợng RNM do áp lực dân số cao, sự chuyển đổi quy mô lớn diện tích RNM sang nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), khu công nghiệp, khu chế xuất, đất nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng, khu đô thị và du lịch, cũng nhƣ ô nhiễm môi trƣờng và các thảm hoạ tự nhiên.
Nghiên cứu về đặc điểm thành phần loài, cấu trúc của rừng ngập mặn Nghiên cứu về đặc điểm thành phần loài, cấu trúc các quần xã thực vật RNM đã thu hút đƣợc sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà khoa học do các giá trị và vai trò của RNM đem lại, các nhà khoa học đã nghiên cứu về lĩnh vực này nhƣ: Mohammad Ali Zahed và cộng sự (2010)[34] đã nghiên cứu về hệ sinh thái RNM, nghiên cứu đã cho biết có hơn 60 loài cây ngập mặn thực thụ trên thế giới; trong đó quan trọng nhất là các chi Rhizophora, Avicennia, Bruguiera và Sonneratia. Tuy nhiên, chỉ có hai loài Đƣớc đƣợc tìm thấy trong rừng ngập mặn Iran, Avicennia marina (Forssk. (họ Avicenniaceae) và Rhizophora macrunata Lam. Perera và cộng sự (2013) [35] nghiên cứu của về thực vật RNM ở cửa sông Kala Oya thuộc bờ biển phía tây bắc Sri Lanka, đã xác định cấu trúc thực vật bằng cách sử dụng số liệu thu thập đƣợc về đa dạng loài thực vật, mật độ, vùng đáy, diện tích lá và chiều cao cây.
Sinh khối (tổng sinh khối trên và dƣới mặt đất) của cây ngập mặn đƣợc ƣớc lƣợng bằng phƣơng pháp tƣơng quan và năng suất sơ cấp tổng thể đƣợc tính bằng cách sử dụng chỉ số diện tích lá đo bằng cảm biến bức xạ mặt đất. Tổng cộng có 8 loài cây ngập mặn thực sự đã đƣợc phát hiện trong khu vực và mật độ cao nhất cho Rhizophora 6 mucronata (528 cây/ha), tiếp theo là Excoecaria agallocha (447 cây/ha) và Lumnitzera racemosa (405 cây/ha). Hema Gupta và M. Ghose (2014) [32] đã nghiên cứu cấu trúc và sinh khối RNM ở Đảo Lothian thuộc Khu dự trữ Sinh quyển Sundarbans.
21 loài thực vật, trong đó có 13 loài thực vật ngập mặn thực thụ và 8 loài tham gia đƣợc ghi nhận tại 40 điểm nghiên cứu phân bố ngẫu nhiên trên đảo. Nhìn chung, RNM ở đây đƣợc chi phối bởi các cây nhỏ; chỉ có 2,7% số cây có đƣờng kính thân vƣợt quá 10 cm và 2,6% vƣợt quá chiều cao 6 m. Mật độ cây dao động từ 4.723 cây/ha đến 23. Sinh khối trên mặt đất thấp và dao động từ 8,9 tấn/ha đến 50,9 tấn/ha.W (2004) [27] nghiên cứu cấu trúc và sinh khối cây ngập mặn ở một khu RNM lùn trong Vƣờn Quốc gia Everglades, Florida, nghiên cứu đã cho biết đặc điểm cấu trúc của RNM ở đây tƣơng đối đơn giản với chiều cao cây dao động từ 0,9 đến 1,2 mét và mật độ cây dao động từ 7.
Một quan hệ tuyến tính đƣợc phát triển để ƣớc lƣợng lá, nhánh, gốc rễ và tổng sinh vật trên mặt đất loài Rhizophora lùn. Tổng sinh khối trên mặt đất của loài này đƣợc ƣớc tính dao động từ 7,9 đến 23,2 tấn/ha. Rhizophora mangle đóng góp 85% tổng sinh khối cây trồng đứng., 1807, và Avicennia germinans đóng góp phần sinh khối còn lại.