ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên thú ở Việt Nam khá đa dạng và phong phú với 322 loài thuộc 43 họ và 15 bộ đã đƣợc ghi nhận và mô tả (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Trong số đó có 418 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các cấp đe dọa khác nhau trong Sách đỏ Việt Nam (2007), có 151 loài đang đƣợc Chính phủ nƣớc CHXHCN Việt Nam bảo vệ (Nghị định 32, 2006) và khoảng 5000 loài hiện đang đƣợc Công ƣớc quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã kiểm soát (CITES, 2015). Các loài thú có giá trị cao về mặt thực phẩm, dƣợc liệu và thƣơng mại nên là đối tƣợng săn bắt chủ yếu của thợ săn. Thực tiễn cho thấy, trƣớc những năm 1986, Việt Nam đƣợc coi là thiên đƣờng của nghề săn bắn.
Các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên là những khu vực có tài nguyên động vật rừng phong phú. Số lƣợng các loài thú hiện nay suy giảm rất mạnh ở ngoài tự nhiên và rất hiếm gặp. Không những vậy, số lƣợng các loài tuyệt chủng không ngừng tăng lên. Năm 1992, ở Việt Nam đã liệt kê đƣợc 365 loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng (Sách đỏ Việt Nam, 1992) thì đến năm 2007 số lƣợng các loài này đã là 418 loài, đặc biệt đã xác định đƣợc 4 loài tuyệt chủng hoàn toàn là loài Cầy rái cá (Sinogale Benenttii), Heo vòi (Tapirus indicus), Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatreensis), Bò xám (Bos Sauveli) và gần đây nhất là năm 2010, cá thể Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) cuối cùng đã xác định bị bắn chết tại Vƣờn Quốc gia Cát Tiên.
Không chỉ có số lƣợng các loài và kích thƣớc quần thể của các loài bị suy giảm mà vùng phân bố của các loài động vật cũng không ngừng bị thu hẹp bởi tình trạng khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ bừa bãi, lấn chiếm đất rừng để canh tác, khai thác tài nguyên khoáng sản. Rất nhiều loài trƣớc đây có vùng phân bố rộng ở nhiều khu vực trong cả nƣớc nhƣng đến nay việc mất loài cục bộ ở nhiều địa phƣơng đang báo động nguy cơ tuyệt chủng trong phạm vi cả nƣớc ngày càng cao. 1 Khu Bảo tồn thiên thiên (KBTTN) Phong Điền là khu rừng đặc dụng thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích 41. KBT Phong Điền đƣợc thành lập nhằm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, quần thể của các loài động vật quý hiếm, các loài đang bị đe dọa, các loài đặc hữu vùng núi thấp miền Trung.
Theo nghiên cứu sơ bộ về khu vực cho thấy, Phong Điền chứa đựng nguồn tài nguyên thú phong phú và đặc biệt là các loài thú quý hiếm nhƣ: Sao la (Pseudryx nghetinhensis), Sơn dƣơng (Capricornis sumatraensis), Nai (Cervus unicolor). Cũng giống nhƣ các Khu Bảo tồn khác tại Việt Nam, các loài động vật hoang dã nói chung và các loài thú nói riêng ở KBTTN Phong Điền đang chịu sức ép của tình trạng săn bắn, buôn bán trái phép đã và đang làm suy giảm nghiêm trọng số lƣợng quần thể của các loài, nhiều loài trƣớc đây còn số lƣợng nhiều nhƣng đến nay rất hiếm gặp. Tình trạng này nếu còn tiếp diễn thì nguy cơ mất loài của khu vực sẽ rất cao đặc biệt là các loài quý hiếm, các loài đặc hữu và các loài có giá trị. Trong khi đó, các nghiên cứu về tình trạng của các loài thú quý hiếm ở khu vực rất hạn chế.
Tính đến nay, KBTTN Phong Điền chỉ có 2 đề tài nghiên cứu về thú. Do đó, việc điều tra khảo sát xác định thành phần, tình trạng các loài thú quý hiếm tại Phong Điền là cấp thiết làm cơ sở cho việc bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và tình trạng của các loài thú quý hiếm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền - Thừa Thiên Huế”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm cung cấp những thông tin hữu ích phục vụ công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên thú quý hiếm tại khu vực nghiên cứu.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở xác định các loài thú quý hiếm Đa số các loài thú là những loài có giá trị về mặt thực phẩm, dƣợc liệu, thƣơng mại nên chúng là đối tƣợng khai thác chủ yếu của con ngƣời. Kích thƣớc quần thể của các loài và số lƣợng các loài thú không ngừng suy giảm nghiêm trọng ở ngoài tự nhiên và đƣợc cập nhật trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ thế giới (Redlist). Sách đỏ Việt Nam (2007) Sách đỏ Việt Nam (SĐVN) là tài liệu khoa học về tình trạng bảo tồn của các loài động thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng tại Việt Nam.
Tài liệu Sách đỏ Việt Nam đầu tiên đƣợc xuất bản vào năm 1992. Trong tài liệu này đã thống kê đƣợc 721 loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở các cấp độ khác nhau, trong đó có 356 loài động vật. Đến năm 2004, SĐVN lần thứ 2 đƣợc cập nhật về tình trạng các loài thú và đã xác định đƣợc 857 loài dộng thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng trong đó nhóm động vật có 407 loài đã tăng 51 loài so với năm 1992. Tài liệu Sách đỏ Việt Nam đƣợc cập nhật gần đây nhất là năm 2007.
Theo đó, hiện có 418 loài động vật đƣợc xác định đang bị đe dọa tuyệt chủng ở nƣớc ta. Nhóm thú đƣợc xác định là 90 loài cụ thể nhƣ sau: số loài tuyệt chủng hoàn toàn (EX): 4 loài bao gồm cầy rái cá (Sinogale Benenttii), Heo vòi (Tapirus indicus) Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatreensis), Bò xám (Bos Sauveli). Và mới đây nhất là loài Tê giác 1 sừng (Rhinoceros sondaicus) đã bị tuyệt chủng vào năm 2010. Loài bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW) là Hƣơu sao (Servus nippon).
Số loài rất nguy cấp (CR): 11 loài. Số loài sẽ nguy cấp (VU): 30 loài. Số loài ít nguy cấp (LR): 5 loài. 3 Số loài còn thiếu số liệu xếp bậc (DD): 8 loài.
Tổng hợp sự thay đổi về tình trạng các loài động vật Việt Nam đƣợc tổng hợp trong bảng 1.1: Tình trạng các loài động vật ở Việt Nam theo thời gian. TT Tên tài liệu Số lƣợng động vật 1 Sách đỏ Việt Nam (1992) 365 2 Sách đỏ Việt Nam (2004) 407 3 Sách đỏ Việt Nam (2007) 418 Nhƣ vậy, số lƣợng các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ở nƣớc ta không ngừng tăng lên theo thời gian, việc mất loài cũng không nằm ngoài xu hƣớng này. Trƣớc tình trạng trên, nƣớc ta cần có thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa về nguồn tài nguyên nƣớc nhà, đặc biệt là các loài có kích thƣớc quần thể nhỏ và phân bố hẹp. Sách đỏ thế giới Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên, viết tắt IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) Đƣợc thành lập tháng 10 năm 1948 sau một hội nghị quốc tế tại Fontainebleau, Pháp và hiện đặt trụ sở chính tại Gland, Thụy Sĩ.
IUCN còn có 62 chi nhánh ở các quốc gia khác. IUCN là kho tài liệu có mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái học và đánh giá tình trạng nguy cấp của các loài động vật quý hiếm trên thế giới. Đây là tài liệu quan trọng giúp xác định tình trạng nguy cấp của các loài thú quý hiếm trong nghiên cứu khoa học. Tài liệu IUCN cập nhật thông tin về tình trạng của các loài hàng năm.
Đến nay, tài liệu đã thống kê đƣợc hơn 79.800 loài động thực vật và côn trùng trên trái đất ở các mức độ đe dọa tuyệt chủng khác nhau. Các cập độ đánh giá trong IUCN đƣợc chia thành các cập nhƣ sau: 4 1. Nghị định 32 Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 là văn bản Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Nghị định đã phân chia thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 2 nhóm tùy theo mức độ nguy cấp và sự bảo vệ của pháp luật đối với các loài đó là: Nhóm I, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại.
Đƣợc chia thành 2 nhóm: IA bao gồm 15 loài thực vật rừng. IB Bao gồm 62 loài động vật rừng trong đó có 47 loài thú Nhóm II, hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thƣơng mại. Đƣợc chia thành 2 nhóm:IIA bao gồm 37 loài thực vật rừng. IIB bao gồm 89 loài động vật rừng trong đó có 26 loài thú.
Theo đó, NĐ32 đã xác định đƣợc 151 loài động vật trong đó có 73 loài thú quý hiếm. Tổng hợp về tình trạng của các loài động vật đƣợc Chính phủ nƣớc CHXHCN Việt Nam quản lý trong NĐ32 (2006) đƣợc trình bày trong bảng 1.2: Sự phân bố của các taxon lớp động vật trong NĐ32 (2006) STT Lớp Nhóm IB Nhóm IIB 1 Thú 47 26 2 Chim 13 30 3 Bò sát 2 20 4 Ếch nhái 0 1 5 Côn trùng 0 12 Tổng 62 89 Nguồn: NĐ32-CP(2006) 1. Nghị định 160 Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 là văn bản Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ. Nghị định này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.
Đây cũng là luật mới nhất hiện nay quy định về những hành vi săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép bị nghiêm cấm. Đồng thời Luật cũng quy định việc khai thác, động vật rừng phải đƣợc phép của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã. Nghị định đã đƣa 4 bảng danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ bao gồm: Danh lục thực vật 17 loài, danh lục động vật 83 loài trong đó có 49 loài thú, danh lục giống cây trồng 15 loài, danh lục giống vật nuôi 6 loài (bảng 1. Tổng hợp các loài động vật trong NĐ 32 STT Lớp Số lƣợng 1 Thú 49 2 Chim 22 3 Bò sát 12 6 1.
Công ước CITES Công ƣớc về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora – CITES) là bản hiệp ƣớc giữa các quốc gia thành viên về việc kiểm soát việc buôn bán, trao đổi các loài động thực vật hoang dã để tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn đến tình trạng tuyệt chủng. CITES bao gồm khoảng 5.000 loài động vật và 25.000 loài thực vật, chia làm 3 phụ lục: Phụ lục I bao gồm những loài bị nguy cấp bị đe doạ tuyệt chủng.