ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là yếu tố quan trọng nhất của sinh quyển, có ý nghĩa vô cùng lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trƣờng.Việc hình thành các kiểu rừng có liên quan chặt chẽ giữa sự hình thành các thảm thực vật tự nhiên với vùng địa lý và điều kiện khí hậu. Điều tra xác định các loài thực vật và quần xã thực vật có giá trị bảo tồn là nhiệm vụ rất quan trọng đối với các nhà nghiên cứu thực vật. Các loài trong chi Hoa tiên (Asarum ) đều là dạng cỏ lâu năm, mọc thành từng đám nhỏ ở những nơi ẩm hoặc gần khe núi, ven đƣờng hoặc dƣới tán rừng kín thƣờng xanh.Vùng phân bố của chúng cũng chỉ những nơi có rừng núi cao nhƣ Lào Cai, Hà Giang Cao Bằng,Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh. Những năm gần đây loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) cũng bị khai thác nhiều để làm thuốc và bán sang Trung Quốc.
Bên cạnh đó những khu rừng nguyên sinh cũng bị tàn phá nhiều, nơi sống của loài Hoa tiên cũng giần bị thu hẹp nên tính đa dạng của loài Hoa tiên đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng. Chi Asarum ở Việt Nam có 7 loài.Trong đó đã có 3 loài biến hóa núi cao(Asarum balansae Franch) Thổ tế tân biến hóa(Asarum cau digerum Hance) và loài hoa tiên (Asarum glabrum Merr.), đƣợc đƣa vào Sách ĐỏViệt Nam (năm1996, 2007) và nghị định 32/2006 NĐ-CP của chính phủ. Những nghiên cứu trong nƣớc về loài hoa tiên hầu nhƣ chƣa có. Từ thực tế hiện trạng số lƣợng và trữ lƣợng loài Hoa tiên ngoài tự nhiên và các nguy cơ đe dọa tuyệt chủng rất cao.
Chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu bảo tồn sử dụng hợp lý loài Hoa tiên ở Việt Nam là vấn đề thời sự mang tính cấp thiết có nhiều ý nghĩa khoa học và mang tính thực tiễn cao. Xã Nậm Giải, huyện Quế Phong là một xã thuộc miền Tây xứ Nghệ, vùng núi giáp Lào nơi chứa đựng nhiều loài cây dƣợc liệu quý trong đó có loài Hoa tiên , đây là loài có giá trị nguồn gen và giá trị kinh tế rất cao. Theo kinh nghiệm ngƣời dân thì Hoa tiên có nhiều công dụng trong y học nhƣ là làm thuốc chữa bệnh, rễ thân dùng làm thuốc ho, hoa làm thuốc bổ.Tuy nhiên có xu hƣớng giảm 1 do biến đổi khí hậu và công tác bảo tồn ở đây chƣa đƣợc quan tâm. Do chúng ta chƣa biết rõ về khu vực phân bố và điều kiện sống của chúng ngoài tự nhiên nên khó khăn cho việc bảo tồn và phát triển loài.
Mặt khác tại Xã Nậm Giải huyện Quế Phong chƣa có công trình nào nghiên cứu về loài này. Xuất phát từ những lý do đó và để có những hiểu biết sâu hơn về sự phân bố của loài nhằm phục vụ cho việc bảo tồn nên tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và thực trạng bảo tồn loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) tại xã Nậm Giải, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An” 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Đặc điểm sinh thái Theo Sách Đỏ Việt Nam – phần Thực vật, 2007, thông tin về loài Hoa tiên đƣợc ghi nhận nhƣ sau: Tên Việt Nam: HOA TIÊN Tên Latin: Asarum glabrum Merr Họ: Mộc hƣơng Aristolochiaceae Bộ: Mộc hƣơng Aristolochiales Đặc điểm nhận dạng: Cây thảo sống nhiều năm, cao 20-30 cm. Thân rễ tròn có đốt, mang nhiều rễ phụ dài, có thể phân nhánh. Lá mọc so le, gồm 2-3 cái; cuống dài, nhẵn, khi non màu tía sau chuyển thành màu lục nhạt.
Phiến lá mỏng, hình tim nhọn đầu, 13-18 x 8-12 cm; gốc lá tạo thành 2 thuỳ, gần nhọn, cách xa nhau; mặt trên lá nhẵn, mặt dƣới có lông thƣa ở gân; mép nguyên. Hoa thƣờng chỉ có 1 cái, mọc ở kẽ lá, cuống hoa ngắn màu tím nâu, thƣờng mọc rủ xuống, nhƣng hoa lại hƣớng cong lên. Lá bắc 3, hình tam giác nhọn, tồn tại cùng với quả. Bao hoa màu nâu xám hình phễu hơi cong; đầu chia thành 3 thuỳ tam giác hay hình mác, họng màu tím nâu có vân trắng.
Nhị 12, chỉ nhị ngắn, màu đỏ tím; trung đới tròn đầu, vƣợt lên trên bao phấn. Quả phát triển trong bao hoa tồn tại, màu nâu xám nhạt. Hạt nhỏ, màu đen. Sinh học, sinh thái: Mùa hoa tháng 5-6, quả tháng 6-8.
Hạt phát tán gần, nên thấy cây con xung quanh gốc cây mẹ. Thân rễ đôi khi cũng đẻ nhánh con, có thể lấy để trồng. Cây đặc biệt ƣa ẩm, ƣa bóng; thƣờng mọc trên đất nhiều mùn dọc theo hành lang khe suối, dƣới tán rừng kín thƣờng xanh ẩm, ở độ cao 1000-1600 m.Tình hình nghiên cứu loài Hoa tiên trên thế giới Chi Hoa tiên hay còn gọi là chi Tế tân (Asarum L. Chi này phân bố rộng rãi ở châu Mỹ, châuÂu, châuÁ,với số lƣợng khoảng 70 loài.
Trên thế giới, hiện còn khoảng 90 loài thuộc chi Asarum L. tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á một vài loài ở khu vực Bắc Mĩ, một vài loài đặc hữu ở khu vực Châu Âu 39 loài ở Trung Quốc trong đó có 34 loài đặc hữu. Việt Nam có 7 loài thuộc chi Asarum L. Tại Trung Quốc thì chúng đƣợc phân bố ở Quảng Đông, Giang Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc.
Loài Hoa tiên hƣờng có giá trị y học rất cao, đƣợc dùng làm thuốc chữa bệnh ho, tê thấp, khó tiêu, đau bụng, bệnh đƣờng ruột. Lá tƣơi vò hoặc giã nát, đắp bó chữa trẹo chân, sái khớp. Không dùng cho phụ nữ có thai uống. Vùng Đông Nam Á đƣợc coi là trung tâm đa dạng và phong phú nhất của chi Hoa tiên (Asarum L.) Wu-Zheng-yi et al (2003) đã công bố trong thực vật chí Trung Quốc có 39 loài và 4 thứ thuộc chi Asarum L: Yong Wang et al.
(2004) đã bổ sung thêm một loài mới cho chi Asarum ở Trung Quốc là Asarum campiniflorum Wang Yong & Wang Q.nov…, nâng tổng số loài lên 40 loài. (1995, 2010) công bố chi Asarum L trên tạp chí Taiwania có 6 loài gồm (A.tiapingshanianum); Chang-tse Lu et al. (2010) đã bổ sung thêm 5 loài mới ở Đài Loan là A. satsumense, nâng tổng số lên 11 loài thuộc chi Asarum L.
Hwang Shu-mei và Wang siu Tak-Ping (1990) đã phát hiện loài mới thuộc chi Asarum và đặt tên là A. Cho đến nay, A.hongkongense là loài duy nhất của chi Asarum mới gặp phân bố tại Hồng Kong. Ohwi J (1965) đã thống kê có 4 loài Asarum caulesens Maxim, A. Cho đến 4 năm 1991, satake và Momyama (1982) và Sugawara T (1991) đã thống kê đƣợc 40 loài thuộc chi Asarum tại Nhật Bản.
Trong những nghiên cứu tiếp theo ,Sugawara T (1996) đã bổ sung thêm 2 loài mới A. Cho hệ thực vật của quốc gia này. Oh Byohung-Un và nnk (1997) đã công bố một loài mới là A.kim, nâng tổng số loài thuộc chi Asarum lên 7 loài và 3 thứ Ở Malaysia,hiện có 6 loài A. Ở Bắc Mĩ có 6 loài thuộc chi Asarum, trong đó có 2 loài khá phổ biến và có phân bố rộng: một loài ở phía đông (Asarum canadense) và một loài ở phía tây (Asarum caudatum), hai loài đặc hữu ở califonia (A.hartwegii); một loài khác đặc hữu ở Oregon (một tiểu Bang ở phía tây bắc Thái Bình Dƣơng của Hoa Kì ) là Asarum wagneri và một loài khác nữa (A.marmoratum) đƣợc trồng ở phía tây Oregon và phía bắc califonia, có 2 thứ là Asarum canadense var canadense và Asarum canadense var reflexum ở các Tiểu bang Carolinas,Virginia và Georgia thuộc vùng tây bắc Thái Bình Dƣơng của Hoa Kì.
Các công trình đề cập đến chi Hoa tiên (Asarum L.) nói chung và loài Hoa tiên nói riêng (Asarum glabrum Merr.) chủ yếu là các công trình nghiên cứu phân loại nhƣ Merril (1942) hay các công trình nghiên cứu về hóa sinh nhƣ :Tsukasa iwashina, Junichi kirachima (2000).Các công trình nghiên cứu đều cho thấy chi Hoa tiên (Asarum L.) thƣờng có tinh dầu với thành phần chính là metyl eugeno, myrsen. Các loài trong chi Hoa tiên còn chứa các hợp chất khác nhƣ Aristolochia acid, các secqterpen, sterol. Một số hợp chất glycosyl flagonoid.Trong đó có nhiều hoạt chất có tác dụng kháng khuẩn, kháng histamin và có khả năng chứa ung thƣ. Cho đến nay, các dẫn liệu về đặc điểm hình thái, sinh học và phân bố của loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) chỉ đƣợc đề cập đến qua các công trình 5 phân loại ở Trung Quốc.
Những nghiên cứu về hoạt tính sinh học của loài này trên thế giới hầu nhƣ chƣa có. Tình hình nghiên cứu về loài Hoa tiên tại Việt Nam. Ở Việt Nam các tài liệu nghiên cứu đã cho biết họ Mộc Hƣơng là một họ thực vật có từ 5 đến 7 chi và khoảng 400 đến 480 loài. Theo tài liệu Phạm Hoàng Hộ (1999), Nguyễn Tiên Bân (2003), Võ Văn Chi (2003) chi Hoa tiên (Asarum L.) ở Việt Nam có 7 loài, đó là các loài Biến hóa núi cao (Asarum blansae Franch), Biến hóa blume (Asarum blume Duch), Thổ tế tân (Asarum caudigerum Hance), Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) Tế hoa petelot (Asarum petelotii O.C Schmidt), Tế hoa mạng (Asarum reticulatum Merr.
Trong đó có 3 loài là Biến hóa núi cao (Asarum blansae Franch) phân hạng trong sách đỏ Việt Nam EN A1c,d và là yếu tố đặc hữu bắc bộ, đây đƣợc coi là loài nguy cấp và có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên trong tƣơng lai gần, quần thể suy giảm khoảng 50%, do suy giảm nơi cƣ trú và khai thác quá mức. Loài Thổ tế tân (Asarum caudigerum Hance) đƣợc phân hạng VU A1a,c,d và loài Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.) đây là loài sẽ nguy cấp đứng trƣớc nguy cơ sẽ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên trong một tƣơng lai gần, do suy giảm quần thể khoảng 20% vì suy giảm nơi cƣ trú và khai thác quá mức và là yếu tố đặc hữu Đông Dƣơng đƣợc đƣa và Sách Đỏ Việt Nam năm (1996, 2007) và nghị định 32/2006 NĐ-CP của chính phủ. Những nghiên cứu về các loài trong chi Hoa tiên hầu nhƣ chƣa có.Từ thực tế hiện trạng số lƣợng và trữ lƣợng các cá thể của loài Hoa tiên ngoài tự nhiên và nguy cơ đe dọa tuyệt chủng của chúng, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu các cơ sở khoa học để bảo tồn phục hồi và sử dụng bền vững tính đa dạng các loài của chi Hoa tiên ở Việt Nam là vấn đề thời sự mang tính cấp thiết và có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn cao. Trong một đợt nghiên cứu về đa dạng sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang vào năm (1996), Nguyễn Nghĩa Thìn đã phát hiện ra loài A.blansae tại khu vực bản Bung, xã Thanh Tƣơng.
6 Trần Đình Nghĩa (1997) cũng đã phát hiện loài này phân bố ở khu vực Tắt kẻ, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang. Theo nghiên cứu của GS.