ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay đa dạng sinh học đang bị suy giảm, diện tích rừng bị thu hẹp kéo theo đó thành phần loài cũng bị đe doạ. Nhất là các loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam, NĐ 32, IUCN… số lượng của chúng ngày càng bị suy giảm, phân bố ngày càng bị thu hẹp dẫn đến khả năng mất nguồn gen quý hiếm. Các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ đã và đang rất nỗ lực hành động để bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của trái đất. Theo đánh giá “Việt Nam là 1 trong 16 nước có tính đa dạng sinh học (ĐDSH cao trên thế giới do đặc điểm về mặt vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, khí hậu … của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật.
Việt Nam còn là nơi giao thoa của các hệ động thực vật thuộc vùng Ấn Độ – Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđônêsia – Malaysia. Nhưng cũng là nơi tốc độ tàn phá thiên nhiên diễn ra mạnh m làm suy giảm tính đa dạng và phong phú của sinh vật. Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn cao vít nằm trên địa bàn ba xã Ngọc Khê, Ngọc Côn, Phong Nậm của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng với tổng diện tích gần 7600 ha, trong đó vùng lõi có 1600 ha. Việc sử dụng không hợp lý tài nguyên nguyên rừng đã gây ra những thiệt hại rất lớn về kinh tế và môi trường trong khu vực.
Những hoạt động này không những gây ảnh hưởng đến đời sống của quần thể Vượn cao vít mà còn tác động bất lợi đến môi trường sinh sống và phát triển của các loài thực vật quý hiếm tại đây. Đứng trước thực trạng đó để nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng đồng thời góp phần cho công tác bảo tồn loài Vượn cao vít tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thực vật quý hiếm tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn cao vít huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng”. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu thực vật nói chung và thực vật quý hiếm nói riêng đã được tiến hành từ rất lâu vào khoảng thế kỷ XV và XVI, xong đến thế kỷ XIX và XX là đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhất.
Trong các công trình nghiên cứu đó phải kể đến các công trình nghiên cứu như Thực vật chí Hồng Kông (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1948 – 1972), Thực vật chí Trung Quốc (1960 – 1985). Hiện nay nhằm hướng dẫn giúp đỡ nghiên cứu, đánh giá, phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học đã có nhiều tổ chức quốc tế được thành lập như Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN , Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), Tổ chức quốc tế bảo tồn các loài và các hệ sinh thái có nguy cơ trên phạm vi toàn cầu (FFI), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật nguy cấp (CITES ,…Bên cạnh đó hàng ngàn công trình nghiên cứu khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn cuộc hội thảo được tổ chức nhằm thảo luận, đưa ra quan điểm, về phương pháp luận và thông báo kết quả đạt được ở khắp nơi trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã tạo thành mạng lưới phục vụ cho công tác đánh giá nghiên cứu bảo tồn và phát triển. Điển hình như công trình của, FAO/UNEF (1975); nguồn gen và bảo tồn gen ở rừng nhiệt đới.
FAO (1993) về bảo tồn nguồn gen trong quản lý rừng nhiệt đới; Báo cáo nghiên cứu thí điểm phương pháp bảo tồn nguồn gen cây rừng. Hattermer, (1993); tuyển chọn đa dạng gen thực vật…. Năm 1990, WWF đã xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity). Năm 1991, Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn “Bảo tồn đa dạng sinh vật thế thế giới (Conserving the world’s biological diversity).
Năm 1992 – 1995, WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới, đó là cuốn “Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu (Global biodiversity assessment. Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai. Vấn đề về bảo tồn đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen quý hiếm đã trở thành chiến lược trên thế giới. Liên hợp quốc đã lựa chọn năm 2010 là năm quốc tế đa dạng sinh học.
Lần đầu tiên trong lịch sử, Đại hội đồng liên hợp quốc trong phiên họp lần thứ 65 tổ chức một cuộc họp cao cấp về đa dạng sinh học với sự tham gia của nguyên thủ quốc gia và chính phủ. Ngoài ra trong cuộc họp tại hội nghị các bên lần thứ 10 vào năm 2010 tại Nagoya, Nhật Bản, các nghị định thư đã được thông qua. Nghị định thư Nagoya đưa ra hai thỏa thuận ràng buộc mang tính quốc tế nhằm thực hiện các mục tiêu của Công ước. Trong khi nghị định thư Cartagena quy định về việc di chuyển các sinh vật biến đổi gen qua biên giới các nước, thì nghị định thư Nagoya thiết lập một khuôn khổ ràng buộc về mặt pháp lý cho việc tiếp cận các nguồn gen và chia sẻ lợi ích, đồng thời lên kế hoạch bảo vệ các loài trên thế giới.[24] Ngày 22 tháng 12 năm 2010, Liên Hiệp Quốc tuyên bố thập kỷ từ 2011 đến 2020 là thập kỷ Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học.
Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn nguồn gen quý hiếm nói riêng đã được bắt đầu nhìn nhận từ những năm 1958. Theo thống kê từ 1958 đến nay, có tới gần 100 văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam liên quan đến bảo tồn ĐDSH và các tài liệu hướng dẫn thi hành lần lượt được ban hành. Có thể nói đây là cơ sở pháp lý thực hiện bảo vệ ĐDSH. Tại thời điểm đó các chính sách và giải pháp bảo tồn ở Việt Nam được thừa kế bởi phương pháp bảo tồn của Đông Đức và ảnh hưởng trực tiếp của cá nhân chủ tịch Hồ Chí Minh.
Năm 1960, một đoàn khoa học cán bộ Việt Nam đã sang Đức để tham quan, nghiên cứu khoa học. Sau chuyến đi ông Nguyễn Tạo – Nguyên cục trưởng cục Lâm Nghiệp đã xuất bản bài viết “Bảo tồn thiên nhiên và mối quan hệ với quản lý bảo vệ rừng , đồng thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “rừng là vàng, nếu biết bảo vệ thì rừng rất quý. Lời nói của chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với những kinh nghiệm học hỏi từ nước Đức đã đóng vai trò quan trò quan trọng trong phát triển khung thể chế và bảo tồn đa dạng sinh học ở nước ta. Khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên ở Việt Nam là “Rừng cấm Cúc Phương , được thành lập theo quyết định số 72/TTg của Thủ tướng chính phủ vào năm 1962.
Từ đó đến nay số lượng và diện tích các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam không ngừng tăng lên; tính đến tháng 8/2010, cả nước có 30 vườn quốc gia và 115 khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài, rừng văn hoá lịch sử môi trường… Đồng hành cùng sự ra đời của các vườn quốc gia, khu bảo tồn, …thì những công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, phân bố, bảo tồn của các nhà khoa học trong và ngoài nước với các quy mô khác nhau cũng diễn ra. Điển hình như các công trình Bộ “Thực vật chí Đông Dương , Thái Văn Trừng (1978, tái bản năm 2000 đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ. (1965), dựa trên bộ “Thực vật chí Đông Dương đã thống kê được 5.190 loài, đồng thời tác giả còn phân tích cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật này. Bộ sách “Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 – 2000) và Bộ sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam (2001 – 2005).
Bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi, đã thống kê được các cây thuốc quý hiếm và nhiều bài thuốc quý của Việt Nam. Công trình nghiên cứu “Hệ thực vật Tây Nguyên đã công bố 3754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984). “Danh lục thực vật Phú Quốc của Phạm Hoàng Hộ (1985 đã công bố 793 loài thực vật có mạch trong diện tích 592 km². Cuốn “Từ điển thực vật thông dụng của Võ Văn Chi xuất bản năm 2004.
Cẩm nang “Cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam của Nguyễn Tập xuất bản tháng 6 năm 2007. Nghiên cứu của Lê Đình khả - Nguyễn Hoàng Nghĩa (1990 về bảo tồn nguồn gen cây rừng ở nước ta, các tác giải đã đưa ra 4 nhóm đối tượng cần được ưu tiên bảo tồn và 2 hình thức bảo tồn nguồn gen cây rừng là bảo tồn in- situ và bảo tồn ex-situ. Đồng thời các tác giả cũng đưa ra kết quả bảo tồn nguồn gen một số loài và kết quả xây dụng vườn thực vật. Đề tài nghiên cứu “Bảo tồn và phát triển 10 loài thực vật quý hiếm ở Vườn quốc gia Cúc Phương gồm các loài ; Vù hương (Cinnamomum balansae), Mun (Diospyros mun), Kim Giao (Podocarpus fleuryi), Trai Lý (Garcinia fagraeoides , Trương Vân (Toona surenel …đề tài đang nghiên cứu và đưu ra quy trình tạo giống kỹ thuật trồng rừng cho 10 loài.
Năm 1991 – 2002, Vườn quốc gia Ba Vì đã nghiên cứu bảo tồn các loài thực vật quý hiếm: Bách Xanh (Calocedus macrolepis), Thông Tre (Podocarpus meriifolius và Vàng Tâm (Manglietia fordiana. Đề tài đã nghiên cứu điều tra khảo sát, đánh giá mức độ đe doạ. Trên cơ sở đố đã được hỗ trợ cho việc bảo vệ hoặc lên phương án đưa ra giải pháp bảo tồn cho các loài nghiên cứu. Trần Ngọc Hải, “Du Sam đá vôi xuất bản 2012, đã làm rõ các đặc điểm về hình thái, sinh thái, tái sinh, bảo tồn của loài Du sam đá vôi…rất có ích cho các nhà quản lý, các nhà bảo tồn, các cán bộ nghiên cứu, cán bộ lâm sinh làm về bên bảo tồn và phát triển.