Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Nguồn gốc, phân bố và phân loại Chè Hoa vàng Chè Hoa vàng có tên khoa học là Camellia L., tên Việt Nam gọi là Trà Hoa vàng (Trà mi), thuộc Họ Theaceae (Họ chè), Chi Camellia L. Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan, vị trí phân loại của chi Camellia L.
có thể được tóm tắt như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta). Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Sổ (Dilleniidae) Bộ: Chè (Theales) Họ: Chè (Theaceae) * Đặc điểm phân bố chi Camellia L. *Trên thế giới Chi Camellia L. có khoảng 280 loài, phân bố chủ yếu ở nhiệt đới và á nhiệt đới, có nguồn gốc ở khu vực miền đông và miền nam châu Á, từ phía đông dãy Himalaya tới Nhật Bản và Indonesia.
- Châu Á: Ấn độ, Bangladesh, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Iran, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nhật Bản, Sri-lanka, Trung Quốc, Việt Nam. - Châu Phi: Burundi, Ethiopia, Kenya, Maritius, Nam Phi, Uganda. - Nam Mỹ: Argentina, Brazil, Ecuador, Peru. - Châu Đại Dương: Australia, New-Zeland.
- Châu Âu: Thổ Nhĩ Kỳ, Liên xô (cũ) Ở Trung Quốc, các loài Camellia đã được quan tâm bảo tồn và phát triển e 5 từ khá sớm. Đến nay có nhiều trung tâm bảo tồn và nghiên cứu phát triển Chè, trong đó có Chè Hoa vàng. Vườn ngân hàng gen Camellia ở Nam Ninh là nơi lưu giữ bộ sưu tập lớn nhất Chè Hoa vàng (Camellia chrysantha.Sealy) trên thế giới. Lưu giữ hơn 20 loài Camellia và 15 thứ Chè Hoa vàng (Camellia chrysantha) nhằm bảo tồn, nghiên cứu, lai tạo giống và nghiên cứu về trồng trọt.
Có 3,000 cá thể được lưu giữ, từ đó tạo ra 7,000 dòng lai từ cây bố mẹ là Chè Hoa vàng (Camellia chrysantha.Sealy) và các loài khác trong chi Camellia L. Có 6 loài trong bộ sưu tập được thu từ Việt Nam, gồm: C. murauchii Ninh & Hakoda, C. Ye Liang và C.
amplexicaulis (Pitard) Cohen-Stuart. Ngoài ra, còn nhiều vườn khác lưu giữ các loài và giống Camellia, bao gồm: Guilin Botanic Garden Yanshan - Quảng Tây (20 loài); The Jinhua International Camellia Species Garden - Chiết Giang (25 loài); The Fangcheng Golden Camellia Nature Reserve and Gene Bank - Quảng Tây (28 loài và giống Trà hoa vàng); Kunming Institute of Botany - Vân Nam (25 loài, trong đó có 8 loài từ Việt Nam), bao gồm: C. crassiphylla Ninh & Hakoda; C. cucphuongensis Ninh &Rosmann; C.
inusitata Orel, Curry & Luu (Trần Ninh và cs (2010))[9]. *Ở Việt Nam Việt Nam được các nhà khoa học xác định nằm trong trung tâm đa dạng sinh học của các loài Chè Hoa vàng được tìm thấy ở một số khu vực như Tam Đảo, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Tuyên Quang, Yên Bái, Cúc Phương … Đến nay đã xác định có 58 loài Camellia L., thuộc các nhóm: Chè, Hải đường, Trà mi, Sở (Trà dầu), trong đó có 27 loài Camellia L. có hoa màu vàng (Trần Ninh và cs (2010)) [9]. Danh mục các loài Camellia L.
có hoa vàng ở Việt Nam TT Tên Khoa Tên Việt Nam Phân bố 1. Camellia aurea Hung T. Chang Trà hoa vàng kim VN 2. Camellia crassiphylla Ninh & Hakoda Trà hoa vàng lá dày VN 3.
Camellia cucphuongensis Ninh & Trà hoa vàng Cúc VN 4. Camellia dalatensis Luong, Tran & Trà hoa vàng Đà Lạt VN 5. Camellia dilinhensis Ninh & V.Luong Trà hoa vàng Di Linh VN 6. Camellia dormoyana (Pierre) Sealy Trà hoa vàng Đo môi VN 7.Sealy Trà hoa vàng Tiên Yên VN, TQ 8.
Camellia flava (Pit.) Sealy Trà hoa vàng nhạt VN 9. Camellia chrysantha (Hu) Tuyama Trà hoa vàng VN, TQ 10.) Trà hoa Gilbert VN, TQ 11.Sealy Trà hoa vàng Hako VN 12.Sealy Trà hoa vàng Hàm Yên VN 13. Camellia hirsute Trà hoa vàng nhiều lông VN 14. Camellia huulungensis Rosmann & Ninh Trà hoa vàng Hữu Lũng VN 15.
Camellia impressinervis Hung T. Trà hoa vàng gân lõm VN, TQ 16. Camellia kirinoi Ninh Trà hoa vàng Kiri VN 17.Mo Trà hoa vàng da cam VN, TQ 18. Camellia murauchii Ninh & Hakoda Trà hoa vàng Murô VN 19.
Camellia megasepala Hung T.Chang & Trà hoa vàng Ba Bể VN, TQ 20. Camellia petelotii (Merr.) Sealy Trà hoa vàng Petelot VN 21. Camellia phanii Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Phan VN 22. Camellia quephongensis Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Quế Phong VN 23.
Camellia rosmannii Ninh Trà hoa vàng Yên Tử VN 24. Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda Trà hoa vàng Tam đảo VN 25. Camellia thanxaensis Trà hoa vàng Thần Sa VN 26. Camellia tonkinensis (Pit.) Cohen-Stuart Trà hoa vàng Bắc bộ VN 27.
Camellia tienii Ninh Hải đường hoa vàng VN 1.2 Đặc điểm thực vật học một số loài Chè Hoa vàng 1. Chè Hoa vàng ở Ba Vì - Hà Nội Chè Hoa vàng ở Ba Vì (Camellia tonkinensis) thuộc nhóm cây gỗ nhỏ, cao 3-5m, mọc rải rác trong rừng. Thân tròn, thẳng, có màu trắng nhờ, cành e 7 non và ngọn non có màu nâu đỏ. Cây sinh trưởng thường xuyên nhưng tốc độ chậm, có rễ cọc to và dài, ăn sâu.
Về hình thái, chè Hoa vàng Ba Vì có lá hình trái xoan dài, đầu lá nhọn, lá dài 9,5-14,5 cm, rộng 3,5-5,0 cm, lá đơn mọc cách không có lá kèm, lá non màu nâu đỏ và mọc chúc xuống rất đặc trưng. Hệ gân lá nổi cả 2 mặt, có 8-9 đôi, gân phụ hợp mép; phiến lá dày, cứng và dài, mép lá có răng cưa. Cây có hoa màu vàng tươi, hoa lưỡng tính, hoa to, đường kính hoa 6-8cm, hoa nở lâu tàn, có thể duy trì được 8-10 ngày. Mùa hoa từ tháng 10 đến tháng 12 (Trần Ninh và cs (2010))[9].
Chè Hoa vàng ở Sơn Động - Bắc Giang Chè Hoa vàng (Camellia euphlebia) phân bố tự nhiên tại Sơn Động là loài cây gỗ nhỏ, vỏ nhẵn màu xám mốc; lá có dạng hình trứng thuôn dài, mép lá có răng cưa dài, mặt trên lá nhẵn bóng, có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt, hơi ráp. Gốc lá hình nêm hay tù, đầu lá hơi nhọn, lá dài bình quân 9-15 cm, rộng 4-7 cm. Mỗi bên lá có 9-12 gân, gân lá hợp cách mép lá 0,2 - 0,6cm.; Hoa màu vàng tươi, đường kính hoa 5 - 6cm, hoa nở vào tháng 10 đến tháng giêng năm sau; số lượng hoa trên cây nhiều, hoa mọc ở đầu cành hay nách lá. Chè Hoa vàng ở Cúc Phương - Ninh Bình Chè Hoa vàng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương gồm 2 loài: Camellia cucphuongensis và Camellia flava.
Camellia cucphuongensis là loài cây gỗ nhỏ, cao 3-6m. Lá hình bầu dục dài 6-12cm, rộng 2,5-4,5 cm; đỉnh lá nhọn dài khoảng 1,5cm; gốc lá tròn hay hình nêm rộng; chất lá dày, bóng và dai; gân bên 7-9 cặp. Hoa màu vàng nhạt, có cuống dài 5-7 mm, có lông. Mùa hoa kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau.
Loài này ưa ẩm mọc trong các thung lũng của rừng nhiệt đới ở độ cao 300-400 m (khu vực gần hồ Mạc thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương) e 8 1. Chè Hoa vàng ở Tam Đảo - Vĩnh Phúc Chè Hoa vàng ở Vườn Quốc gia Tam Đảo gồm 2 loài là Camellia tamdaoensis và Camellia petelotii. Camellia tamdaoensis là loài cây gỗ nhỏ, cao 2-4 m. Lá hình bầu dục hẹp, gốc hình nêm, gân bên gồm 6-8 cặp.
Hoa màu vàng, mọc ở nách lá; cuống hoa ngắn 5-9 mm; cánh hoa 10-12 màu vàng, phủ nhiều lông mịn trắng ở cả hai mặt. Mùa ra hoa bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 1. Loài này mọc ở độ cao 300-500 m tại khu vực Tây Thiên. Camellia petelotii là loài cây gỗ nhỏ, cao 2-4 m.
Lá dày hình bầu dục hẹp; gốc lá dạng nêm hẹp; gân bên gồm 10-12 cặp. Hoa màu vàng, mọc ở đỉnh cành; cuống hoa dài 1-1,5 cm. Mùa ra hoa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Loài này phân bố ở độ cao 900-1100 m ở thung lũng ẩm trong rừng thường xanh.
Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính Nhân giống vô tính là phương pháp nhân lên hoặc tạo ra cá thể mới bằng phương pháp sinh sản vô tính. Hiện nay phương pháp nhân giống này được ứng dụng nhiều trong nhân giống cây ăn quả, cây trồng lâm nghiệp. Nhân giống bằng hom (cutting propagation) là một trong những phương pháp nhân giống vô tính. Đó là việc dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ.
Phương pháp nhân giống vô tính có nhiều ưu điểm: Giữ được những đặc tính di truyền của cây mẹ, cây giống sau trồng sớm ra hoa, thời gian nhân giống nhanh, các đột biến có lợi khó bị mất đi do không phải trải qua quá trình phân bào giảm nhiễm. Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, phương pháp nhân giống này vẫn còn bộc lộ một số nhược điểm sau : Cây mẹ truyền bệnh virus sang cho cây con, cây giống nhanh bị thoái hóa (sinh trưởng phát triển không đều, giảm giá trị thương phẩm), hệ số nhân thấp, cần số lượng lớn cây bố mẹ. e 9 * Cơ sở phát sinh phát triển cá thể Bất kỳ một loài sinh vật nào trong quá trình sinh trưởng và phát triển đều chịu sự điều hoà của bộ gen và bộ gen do môi trường xung quanh điều chỉnh. Trong bộ gen sẽ có những gen hoạt động theo điều kiện nhất định và được điều khiển nhịp nhàng theo môi trường với sự phát triển cá thể đặc trưng cho từng loài cụ thể.
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục. Khả năng ra chồi rễ ở các bộ phận cũng khác nhau, ở các bộ phận thuộc giai đoạn non trẻ khả năng ra rễ lớn hơn ở giai đoạn trưởng thành. Do vậy việc xử lí trẻ hoá là một biện pháp quan trọng trong nhân giống bằng hom ở những loài cây khó ra rễ * Sự hình thành rễ bất định Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định của một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để tạo thành cơ thể mới. Rễ bất định là rễ được sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của nó, trong hom giâm và chiết điều quan trọng là quá trình hình thành rễ bất định.
Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất xứ, có loại hom dễ ra rễ có loại hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ tốt hơn chồi nách, đặc biệt là cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây. Mỗi loài cây có một loại hom phù hợp riêng, tuỳ từng loài mà lấy hom ở tuổi, vị trí nào cho phù hợp (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)[6]. Có 2 loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh. - Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ.