Đặt vấn đề Na (Annona squamosa) là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao và được trồng khá phổ biến ở các vùng kinh tế của đất nước. Trong những năm gần đây, cây na đã trở thành một loại cây xoá đói giảm nghèo cho bà con vùng cao, vùng núi đá vôi. Cũng theo hướng đi này, huyện Võ Nhai – Thái Nguyên đã mở rộng diện tích trồng na năng suất, chất lượng cao và coi đây là hướng phát triển cây ăn quả chủ đạo của huyện. Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở phía Đông bắc của tỉnh Thái nguyên, cách trung tâm tỉnh Thái nguyên 37 km.
Hiện nay, huyện Võ Nhai có diện tích trồng Na rộng lớn trên 349ha đã đem lại hiệu quả kinh tế khá cao, tạo nguồn thu nhập lớn cho các hộ nông dân trồng Na. Cây na đã góp phần đáng kể vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm tăng giá trị sử dụng ruộng đất giúp tăng thêm thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân trong huyện, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi sinh. Tuy nhiên sản xuất na theo hướng hàng hóa tập trung đang gặp phải một số vấn đề như: Quả na chín tập trung, quả bé vẹo vọ, không đồng đều, người trồng chưa áp dụng quy trình kỹ thuật tốt vào thâm canh na. Hiệu quả sản xuất chưa tương xứng với tiềm năng của loại cây ăn quả này.
Do na trồng ở trên núi đá dốc, hiểm trở nên việc vận chuyển một lượng lớn phân hữu cơ hoặc các phân bón vô cơ riêng rẽ để bón cho cây theo quy trình gặp nhiều khó khăn. Sâu, bệnh hại cũng là một yếu tố cản trở lớn đến sản xuất na ở Võ Nhai. Những loại sâu, bệnh thường gặp ở vùng na Võ Nhai là các loài rệp sáp, nhện, bọ phấn, ruồi đục quả, bệnh muội đen, bệnh thán thư. Những loại sâu, bệnh này không chỉ làm cho cây bị chết, mà thường xuyên làm hạn chế tới sức sinh trưởng của cây, làm cho cây ra hoa đậu quả kém, h 2 năng suất thấp, đặc biệt là làm cho mã quả xấu, hoặc bị thối và khô héo không thể sử dụng được.
Từ những khó khăn nêu trên, để phát triển vùng na Võ Nhai thành vùng na sản xuất hàng hóa, bền vững, ổn định, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cần thiết phải áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật canh tác trên đất dốc, bón phân và sử dụng phân bón; phòng trừ sâu bệnh và sử dụng các chế phẩm điều tiết sinh trưởng để tăng năng suất chất lượng quả. Nhằm góp phần tháo gỡ các khó khăn trong sản xuất na hiện nay ở Võ Nhai – Thái Nguyên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất chất lượng na dai La Hiên – Võ Nhai.” góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất na theo hướng hàng hóa mang lại hiệu quả cao trong sản xuất na. Mục đích nghiên cứu Đánh giá đặc điểm nông sinh học của na dai Võ Nhai từ đó đưa ra các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng na tại Võ Nhai, Thái Nguyên. Bổ sung và góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc na cho người dân.
Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu, đánh giá các đặc điểm nông sinh học của giống na dai Võ Nhai Thái Nguyên - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến năng suất chất lượng na dai Võ Nhai Thái Nguyên 1. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đặc điểm nông sinh học của giống na trồng tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, Thái nguyên. - Đưa ra các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng của cây na. Ý Nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế, gắn lý thuyết với thực hành giúp sinh viên nâng cao được chuyên môn, hiểu được phương pháp và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Giúp sinh viên hiểu được phương pháp triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học. - Báo cáo đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên khi học tập tại khoa Nông học. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Sản xuất nông nghiệp của Việt Nam trong những năm gần đây nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến có sự chuyển hướng về kinh tế thị trường, sản xuất nông nghiệp thu được nhiều thành tích đáng kể.
Lương thực là vấn đề cơ bản của nước ta đã được giải quyết và người dân không phải lo lắng về an ninh lương thực, từ đó có điều kiện chủ động trong sản xuất và phát triển cây có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là lĩnh vực cây ăn quả. Cây ăn quả ngày càng phát triển tại các địa phương, đóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ. Tuy nhiên, khó khăn mà người sản xuất gặp phải là chưa có những nghiên cứu đồng bộ từ đặc điểm sinh vật học đến các biện pháp kỹ thuật cho từng loại cây cụ thể. Cây na được xếp vào cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng phát triển chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố nội tại và ngoại cảnh như đất đai, khí hậu, ánh sáng… mặt khác mỗi một vùng sinh thái cây na có những đặc điểm sinh vật học riêng.
Cần nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm cây na của từng vùng sinh thái để có những biện pháp kỹ thuật phù hợp. Na ở Võ Nhai, Thái nguyên là một trong những vùng sản xuất na nổi tiếng. Năng suất và chất luợng na ở đây cao hơn so với những vùng trồng na khác. Tuy nhiên, na Võ Nhai hiện nay có biểu hiện cây sinh trưởng kém, quả nhỏ, xanh cứng và nhiều sâu bệnh, một số diện tích cây đang cho thu hoạch bị chết hàng loạt, xảy ra trên cả hai loại đất trồng na tại đây: đất núi đá và đất bãi bằng.
Để hạn chế hiện trạng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của na dai Võ Nhai và một số tổ hợp phân bón nhằm tìm ra công thức về liều lượng phân bón, nồng độ phun GA3 thích hợp nhất để nâng cao năng suất và chất luợng. Nguồn gốc, phân loại và phân bố của cây na 2. Nguồn gốc và phân bố của cây na Cây na được coi là có nguồn gốc phát sinh từ vùng nhiệt đới châu Mỹ. Từ thế kỷ 16, các cây họ Na đã được nhập vào nhiều nước nhiệt đới khác và do tính thích nghi rộng hiện nay na được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.
Nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này chưa rõ do hiện nay nó được trồng khắp nơi nhưng các nhà thực vật học cho rằng nó là cây bản địa của các nước thuộc Trung và Nam Mĩ. Song trồng với quy mô lớn tập trung ở châu Á và chỉ phổ biến ở các nước nằm trong vĩ độ 20o Bắc - 30o Nam có khí hậu tương đối ẩm và khô nóng như: Thái Lan, Campuchia, Malaysia… và rất ít ở Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, na dai được trồng rộng rãi cả ngoài Bắc và trong Nam, còn na xiêm chỉ trồng trong Nam, ở miền Bắc chỉ mới trồng thí nghiệm. Ở nước ta nay có một số vùng trồng na khá tập trung có tiếng trong nước như: Na Chi Lăng ở Lạng Sơn, mãng cầu ta Bà Đen ở Tây Ninh, Ninh Thuận, Bà Rịa, Vũng Tàu, Na dai Huyền Sơn ở Lục Nam - Bắc Giang… 2.
Phân loại và các giống na hiện đang trồng Cây na thuộc chi Na (Annona), họ na (Annonaceae). Chi na có nhiều loài, ở Việt Nam có bốn loài là Na dai (Annona Squamosa), Na xiêm (Annona Muricata), Nê (Annona reticulata), Bình bát (Annona glabra). Trong đó chỉ có na dai, na xiêm được trồng tập trung với mục đích kinh doanh, còn nê thì trồng lẻ tẻ vài cây trong vườn, vì quả ăn được nhưng chất lượng kém. Bình bát cũng ăn được quả nhưng chất lượng còn kém hơn nữa, chủ yếu là cây mọc dại.
Phân loại theo yêu cầu sinh thái: - A. squamosa (na, mãng cầu ta): Khá chịu lạnh, cần khô và được trồng khá phổ biến ở các nước nhiệt đới ở độ cao 300 – 500m so với mặt nước biển. muricata (mãng cầu xiêm): Ưa nhiệt, ẩm nên chỉ trồng được ở các h 6 vùng nhiệt đới có nhiệt độ, độ ẩm cao. glabra (bình bát): Chịu mặn, ánh sáng nên được trồng ở vùng duyên hải nhiệt đới để làm cây chắn sóng, giữ đất hoặc làm gốc ghép, chọn tạo giống.
reticulata (nê): Được trồng ở vùng nhiệt đới có nhiệt độ không cao nhưng ẩm. được trồng để làm vật liệu tạo giống. Nhiều vùng còn gọi nê là na núi vì nó trồng ở vùng nhiệt đới cao. Tên gọi Mãng cầu hay Annona ở nước ta có sự khác nhau.
Ở miền Bắc gọi Annona Squamosa là na, gồm 2 loại là na dai và na bở, gọi Annona Muricata là mãng cầu, Annona glabra là bình bát, Annona reticulata là nê. Ở miền Nam chỉ khác là gọi Annona Squamosa là mãng cầu dai và gọi Annona Muricata là mãng cầu xiêm. Vị trí của cây na trong hệ thống phân loại thực vật: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Magnoliales Họ: Anonaceae Chi: Anona Loài: A. Squamosa Tên khoa học: Anona squamosa.
Hiện nay có khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở châu Phi, và các loài khác ở châu Á. Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ về giống na ở Việt Nam. Việc phân định các giống na thường dựa vào màu vỏ và độ chắc của cùi quả. Với mãng cầu xiêm (A.
muricata) ở miền Nam thường phân ra các h 7 giống sau: + Mãng cầu xanh: loại mãng cầu màu xanh, lá và quả đều màu xanh, khi quả chín vỏ quả có màu xanh nhạt. + Mãng cầu nâu: loại mãng cầu màu nâu, lá xanh đậm quả màu nâu. + Mãng cầu vàng: là loại mãng cầu mà lá và quả có màu vàng nhạt. Ở các tỉnh miền Bắc người ta phân biệt na (A.
squamosa) thành hai loại: Na dai và na bở dựa vào độ bở của cùi quả. + Na dai: Dễ tách bóc khỏi thịt quả, ít hạt nhiều thịt, thịt chắc, ngọt đậm và thơm ngon. Hạt nhỏ và hạt dễ tách khỏi thịt quả. Xu hướng hiện nay của người làm vườn là thích trồng loại na dai vì bán được giá cao, quả sau hái cất giữ được lâu hơn so với na bở.