MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây chè (Camellia sinensis (L) O. Kuntze) là loại cây công nghiệp dài ngày, có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới, sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm. Tuy nhiên nhờ sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, cây chè đã được trồng ở nơi khá xa với nguyên sản của nó.
Hiện nay, trên thế giới có trên 60 quốc gia trồng chè, nhưng tập trung chủ yếu ở các nước châu Á và châu Phi. Nhu cầu về uống chè và tiêu thụ chè trên thế giới càng tăng bởi lẽ chè là thứ uống bổ dưỡng và có giá trị sinh học cao. Việt Nam là một trong những nước có điều kiện ưu thế về địa lý thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè. Hiện nay diện tích chè khoảng trên 100 ngàn ha trồng tập trung chủ yếu ở vùng núi, trung du phía Bắc và các tỉnh Tây Nguyên.
Cây chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành Nông nghiệp Việt Nam. Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc góp phần xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững. Năm 2013 cả nước xuất khẩu được gần 141 ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 229 triệu USD, trong những năm tới diện tích và sản lượng chè của Việt Nam tiếp tục tăng lên, vì thế cây chè ngày càng khẳng định vị trí của nó trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên ngành chè nước ta còn phát triển chậm so với tiềm năng cả về năng suất, chất lượng và giá trị xuất khẩu.
Năng suất còn thấp so với các n 2 nước trong khu vực và các nước trên thế giới như: Trung Quốc, Indônêsia, Ấn Độ, Srilanca…Nguyên nhân là do giống chưa tốt hoặc chưa chọn được các giống phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, các biện pháp kỹ thuật và sâu bệnh hại cây chè. Công ty Kolia có khoảng 18ha chè. Hiện nay công ty xây dựng hệ thống nhà xưởng sản xuất chè tại chỗ, thực hiện cấp giống, phân bón, hướng dẫn kĩ thuật cho nhân dân. Cùng với sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, cũng như hiểu rõ thế mạnh của địa phương, những năm qua huyện Nguyên Bình cũng luôn tạo điều kiện hỗ trợ người dân phát triển kinh tế, nhân rộng diện tích trồng chè.
Bên cạnh đó huyện cũng phối hợp với doanh nghiệp hỗ trợ, đào tạo kỹ thuật trồng chè, góp phần đưa sản phẩm chè Phia Đén thành sản vật mang thương hiệu của địa phương. Có thể thấy, trồng và phát triển diện tích trồng chè đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân vùng núi cao Phia Đén. Đặc biệt, việc tạo được mối liên kết trong sản xuất, hỗ trợ người nông dân trong việc tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế tại địa phương. Do vây em tiến hành đề tài: “nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học của một số giống chè tại công ty Kolia Cao Bằng” 1.
Mục đích - Yêu cầu 1. Mục đích của đề tài Đánh giá đặc điểm nông sinh học chủ yếu của các giống chè Kim Tuyên, PH8 và Phúc Vân Tiên ở giai đoạn kiến thiết cơ bản. Chọn được giống chè phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Yêu cầu của đề tài n 3 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của các giống chè Kim Tuyên, PH8 và Phúc Vân Tiên ở giai đoạn kiến thiết cơ bản tại Phia Đén, Nguyên Bình, Cao Bằng.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xác định lựa chọn giống chè phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Bổ sung dữ liệu khoa học về giống chè có triển vọng phù hợp với điều kiện sinh thái. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Xác định được giống chè giống chè có khả năng sinh trưởng phát triển tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng.
Sử dụng giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng chè và tạo mô hình trong nghiên cứu và đào tạo về cây chè. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Chè là cây trồng có giá trị kinh tế, chính vì vậy trong những năm gần đây cây chè luôn được quan tâm và đầu tư phát triển trên mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè, tăng thu nhập cho người sản xuất. Cây chè là một loại cây trồng mà đối tượng thu hoạch là búp (cơ quan sinh dưỡng) do vậy để có năng suất và chất lượng tốt cần lựa chọn các giống phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu của vùng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật, kích thích quá trình sinh trưởng tạo búp mới.
Trong nghiên cứu giống phù hợp với điều kiện sinh trưởng phát triển của vùng cần phải theo dõi một số chỉ tiêu của giống cho năng suất chất lượng nhất. Lựa chọn các giống chè phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng tác động đến sinh trưởng phát triển, đến năng suất, chất lượng chè. Phân loại cây chè Tên khoa học của cây chè được thống nhất là Camellia sinensis (L) O.Kuntze và có tên đồng nghĩa là Thea sinensis L.[27] Việc phân loại chè dựa vào các cơ sở sau : - Cơ quan sinh dưỡng: Loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình dạng và kích thước của lá, số đôi gân lá. - Cơ quan sinh thực: Độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phân nhánh của đầu nhụy cái.
- Đặc tính sinh hóa: Chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin, mỗi giống chè có hàm lượng tanin biến đổi nhất định (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [8]. Chè Camellia sinensis được chia làm 4 thứ: Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var.bohea) n 5 Đặc điểm: Cây bụi, thân thấp, phân cành nhiều, lá nhỏ dày, nhiều gợn sóng màu xanh đậm. Lá dài 3,5-6,5 cm có 6-7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều, búp nhỏ hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường, khả năng chịu rét ở nhiệt độ (120C-150C) phân bố chủ yếu ở miền Đông Nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng chè khác. Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var.marcophyla) Đặc điểm: Thân gỗ nhỏ, cao 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, lá to trung bình chiều dài 12-15cm, rộng 5-7 cm, màu xanh nhạt, bóng.
Răng cưa sâu không đều,đầu lá nhọn, trung bình có 8-9 đôi gân lá rõ. Năng suất cao, phẩm chất tốt, nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc). Chè Shan (Camellia sinensis var.Shan) Đặc điểm: Thân gỗ cao 6-10m, lá to và dài 15-18cm, có màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày. Tôm chè nhiều lông tơ trắng mịn trông như tuyết nên thích ứng ở điều kiện ấm, ẩm, địa hình cao.
Năng suất cao, phẩm chất tốt. Nguyên sản ở Vân Nam (Trung Quốc) miền Bắc Mianma và Việt Nam. Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica) Đặc điểm: Thân gỗ cao tới 17m, phân cành thưa, lá dài 20-30cm mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng lá hình bầu dục có trung bình 12-15 đôi gân lá. Rất ít hoa quả, không chịu được rét hạn.
Năng suất phẩm chất tốt. Trồng nhiều ở Ấn Độ, Mianma, Vân Nam (Trung Quốc) và một số vùng khác (Nguyễn Văn Hùng, 2006) [6]. Phân bố của cây chè Sự phân bố của cây chè phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu. Các kết quả nghiên cứu đều đì tới một kết luận chung: vùng khí hậu nhiệt đới là thích hợp cho cây chè.
Tuy nhiên do KH-KT ngày càng phát triển, đã lai tạo,chọn lọc nhiều giống chè khác nhau, và được trồng rộng rãi trên thế giới. Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [11], hiện nay chè được phân bố khá rộng từ 42độ vĩ Bắc Pochi (Liên Xô cũ) đến 27độ Nam Coriente (Achentina). n 6 Về điều kiện khí hậu, chè sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 15 – 20 độ C, tổng nhiệt độ hàng năm vào khoảng 8.000 0C, lượng mưa trung bình hang năm 1.000 mm, độ ẩm đất 70 – 80%. Sự phân bố chè theo những điều kiện tự nhiên khác nhau đã tạo nên những vùng chè có chất lượng khác nhau, tạo nên hương vị riêng của mỗi vùng.[7] Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [9], các vùng sản xuất chè chủ yếu ở Việt Nam: - Vùng chè Tây Bắc - Vùng chè Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn - Vùng chè Trung Du – Bắc Bộ - Vùng chè bắc Trung Bộ - Vùng chè Tây Nguyên 2.
Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới và trong nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới 2. Những kết quả nghiên cứu về giống chè Công tác chọn tạo giống trong chè có vai trò rất quan trọng. Việc chọn lọc, lai tạo giống mới không chỉ quyết định tới khả năng cho năng suất, chất lượng mà còn ảnh hưởng tới khả năng mở rộng địa bàn, chính vì vậy công tác nghiên cứu chè được quan tâm từ rất sớm.
Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [24]: In donexia bắt đầu trồng chè vào năm 1684 nhưng không thành công, đến năm 1872 mới thành công trên giống Asam nhập từ Srilanka. Đến nay Indonexia là một trong năm nước có diện tích trồng chè lớn trên thế giới, 20 năm trở lại đây họ đã tích cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đã có các dòng chè vô tính GMB-1, GMB-2, GMB-3, GMB-4, GMB-5 có sản lượng cao. Ấn Độ là nước đứng thứ hai trên thế giới về diện tích chè nhưng lại là nước đứng đầu thế giới về sản lượng chè. Có được thành tích trên do Ấn Độ luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới vào sản xuất.
n 7 Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ và cs (2000) [19] thì từ những năm 50 của thế kỷ 20 Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt trong đó có 102 giống chè được nhân giống bằng phương pháp vô tính. Đến năm 2009, Ấn Độ đã có trên 80% diện tích chè được trồng bằng giống tốt. Trong đó có trên 20% giống trồng bằng phương pháp giâm cành. Trung Quốc có lịch sử trồng chè từ rất sớm.
Đời nhà Tống, Trung Quốc đã có 7 giống chè tốt được chọn theo Phương pháp cá thể: Các giống Đại Bạch Trà, Thiết Quan Âm, Thủy Tiên,… đã có từ 200 năm nay là các giống triết canh do nhân dân tạo ra.[9],[18] Trong những năm 1950 – 1960 Trung Quốc luôn chú trọng công tác chọn tạo giống theo chiều sâu.