Luận án tiến sĩ: Đặc điểm nhân trắc và sự tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em người Kinh từ 7 đến 9 tuổi

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm nhân trắc và sự tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em người Kinh từ 7 đến 9 tuổi, cung cấp dữ liệu quan trọng về phát triển thể chất.

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Răng hàm mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

188
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số đặc điểm nhân trắc đầu mặt

1.2. Sự tăng trưởng của xương sọ

1.3. Sự tăng trưởng của nền sọ

1.4. Sự tăng trưởng của phức hợp mũi hàm trên

1.5. Sự tăng trưởng của xương hàm dưới

1.6. Sự tăng trưởng mô mềm vùng đầu mặt

1.7. Cơ chế tăng trưởng xương vùng đầu mặt

1.8. Tăng trưởng tại các đường khớp

1.9. Tăng trưởng sụn

1.10. Tăng trưởng do quá trình bồi đắp xương/ tiêu xương ở màng xương ngoài và màng xương trong

1.11. Sự tăng trưởng vùng đầu mặt theo ba chiều trong không gian

1.12. Sự dịch chuyển của xương vùng đầu mặt

1.13. Sự xoay của xương hàm và hướng mọc răng

1.14. Đặc điểm tăng trưởng vùng đầu mặt giai đoạn từ 7-9 tuổi

1.15. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng vùng đầu mặt

1.15.1. Các yếu tố toàn thân

1.15.2. Các yếu tố tại chỗ

1.16. Các phương pháp đánh giá tăng trưởng

1.16.1. Phương pháp so sánh giá trị các đặc điểm nghiên cứu được đo trên cơ thể sống, trên phim chụp sọ mặt và ảnh chuẩn hóa liên tiếp nhau

1.16.2. Phương pháp chồng hình kế tiếp nhau

1.17. Các phương pháp nghiên cứu sự tăng trưởng đầu mặt

1.17.1. Phương pháp đo trực tiếp trên cơ thể sống

1.17.2. Phương pháp đo trên ảnh chụp chuẩn hóa

1.17.3. Phương pháp đo trên phim X quang sọ mặt

1.18. Các nghiên cứu đặc điểm nhân trắc và sự tăng trưởng đầu mặt

1.18.1. Các nghiên cứu theo phương pháp đo nhân trắc đầu mặt trực tiếp

1.18.2. Các nghiên cứu theo phương pháp đo trên ảnh chuẩn hóa

1.18.3. Các nghiên cứu theo phương pháp đo trên phim sọ mặt

1.19. Một số đặc điểm về vị trí, dân cư nơi lấy mẫu nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Cách chọn mẫu

2.7. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.7.1. Thời gian nghiên cứu

2.7.2. Địa điểm nghiên cứu

2.8. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.9. Các bước thu thập số liệu nghiên cứu vùng đầu mặt

2.10. Phương tiện đo đạc

2.11. Lưu trữ số liệu đo đạc

2.12. Xử lý số liệu

2.12.1. Xử lý số liệu khi xác định đặc điểm cấu trúc vùng đầu mặt

2.12.2. Xử lý số liệu khi đánh đặc điểm tăng trưởng vùng đầu mặt

2.13. Sai số và cách khắc phục sai số

2.14. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

3.2. Phân bố theo giới

3.3. Phân bố phân loại khớp cắn theo Angle của mẫu nghiên cứu

3.4. Đặc điểm và chỉ số nhân trắc đầu mặt ở trẻ em người Kinh 7 tuổi

3.4.1. Đặc điểm và chỉ số đầu mặt bằng phương pháp đo nhân trắc trực tiếp

3.4.2. Đặc điểm và chỉ số đầu mặt bằng phương pháp đo trên ảnh chuẩn hóa

3.4.3. Đặc điểm và chỉ số đầu mặt bằng phương pháp đo trên phim sọ nghiêng

3.5. Đặc điểm tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em từ 7 đến 9 tuổi

3.5.1. Đặc điểm tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em từ 7 đến 9 tuổi bằng phương pháp đo nhân trắc trực tiếp

3.5.2. Đặc điểm tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em từ 7 đến 9 tuổi bằng phương pháp đo trên ảnh chuẩn hóa

3.5.3. Đặc điểm tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em từ 7 đến 9 tuổi bằng phương pháp đo trên phim sọ nghiêng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

4.2. Phương pháp nghiên cứu tăng trưởng

4.3. Một số hạn chế của nghiên cứu

4.4. Sự phân phối các đặc điểm nghiên cứu

4.5. Đặc điểm nhân trắc đầu mặt ở trẻ em 7 tuổi người Kinh tại Hà Nội

4.5.1. Đặc điểm sọ mặt đo trực tiếp

4.5.2. Đặc điểm sọ mặt đo trên ảnh chuẩn hóa thẳng và nghiêng

4.5.3. Đặc điểm sọ mặt đo trên phim sọ nghiêng

4.6. Đặc điểm tăng trưởng nhân trắc đầu mặt ở trẻ em từ 7-9 tuổi

4.6.1. Tăng trưởng sọ mặt khi đo trực tiếp

4.6.2. Tăng trưởng sọ mặt khi đo trên ảnh chuẩn hóa

4.6.3. Tăng trưởng sọ mặt khi đo trên phim sọ nghiêng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm nhân trắc và tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em người Kinh 7 9 tuổi

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm nhân trắctăng trưởng đầu mặt ở trẻ em người Kinh từ 7 đến 9 tuổi. Đây là giai đoạn quan trọng trong sự phát triển toàn diện của trẻ, đặc biệt là sự phát triển của cung răng và khuôn mặt. Nhân trắc học được sử dụng để đo lường các chỉ số như chiều rộng đầu, chiều dài đầu, chu vi vòng đầu, và các đặc điểm khác của vùng đầu mặt. Tăng trưởng đầu mặt được đánh giá thông qua sự phát triển của xương sọ, nền sọ, và các cấu trúc liên quan. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu quan trọng cho việc chẩn đoán và điều trị các vấn đề chỉnh hình răng mặt ở trẻ em.

1.1. Phương pháp nghiên cứu nhân trắc

Nghiên cứu sử dụng ba phương pháp chính để đánh giá đặc điểm nhân trắctăng trưởng đầu mặt: đo trực tiếp trên cơ thể sống, đo trên ảnh chuẩn hóa, và đo trên phim X-quang sọ mặt. Phương pháp đo trực tiếp cho phép thu thập dữ liệu chính xác về các kích thước vùng đầu mặt. Phương pháp đo trên ảnh chuẩn hóa và phim X-quang cung cấp thông tin chi tiết về cấu trúc xương và sự tăng trưởng. Các phương pháp này được áp dụng để đánh giá sự phát triển của xương hàm, nền sọ, và các cấu trúc mô mềm.

1.2. Đặc điểm tăng trưởng đầu mặt

Tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em người Kinh từ 7 đến 9 tuổi được đánh giá thông qua sự phát triển của xương sọ, nền sọ, và các cấu trúc liên quan. Nghiên cứu chỉ ra rằng giai đoạn này là thời kỳ quan trọng cho sự phát triển của cung răng và khuôn mặt. Sự tăng trưởng của xương hàm dưới, xương hàm trên, và các cấu trúc mô mềm được theo dõi và đánh giá. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng cho việc dự đoán chiều hướng tăng trưởng và điều trị chỉnh hình răng mặt.

II. Phương pháp và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên một mẫu gồm trẻ em người Kinh từ 7 đến 9 tuổi tại Hà Nội. Các phương pháp đo lường nhân trắctăng trưởng đầu mặt được thực hiện một cách hệ thống và chính xác. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tăng trưởng đáng kể về chiều rộng đầu, chiều dài đầu, và chu vi vòng đầu trong giai đoạn này. Ngoài ra, sự phát triển của xương hàm và các cấu trúc mô mềm cũng được ghi nhận. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu quan trọng cho việc đánh giá và điều trị các vấn đề chỉnh hình răng mặt ở trẻ em.

2.1. Kết quả đo nhân trắc

Kết quả đo nhân trắc cho thấy sự tăng trưởng đáng kể về chiều rộng đầu, chiều dài đầu, và chu vi vòng đầu ở trẻ em người Kinh từ 7 đến 9 tuổi. Các chỉ số này được đo lường bằng phương pháp trực tiếp và gián tiếp, cho thấy sự phát triển đồng đều của vùng đầu mặt. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về kích thước đầu mặt giữa các nhóm tuổi, cung cấp thông tin quan trọng cho việc đánh giá sự phát triển của trẻ.

2.2. Kết quả đánh giá tăng trưởng đầu mặt

Kết quả đánh giá tăng trưởng đầu mặt cho thấy sự phát triển đáng kể của xương hàm dưới, xương hàm trên, và các cấu trúc mô mềm. Sự tăng trưởng này được đánh giá thông qua các phương pháp đo trên ảnh chuẩn hóa và phim X-quang. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về chiều hướng tăng trưởng giữa các nhóm tuổi, cung cấp thông tin quan trọng cho việc dự đoán và điều trị các vấn đề chỉnh hình răng mặt.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về đặc điểm nhân trắctăng trưởng đầu mặt ở trẻ em người Kinh từ 7 đến 9 tuổi có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực chỉnh hình răng mặt. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu quan trọng cho việc chẩn đoán và điều trị các vấn đề liên quan đến sự phát triển của cung răng và khuôn mặt. Nghiên cứu cũng giúp dự đoán chiều hướng tăng trưởng của trẻ, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp sớm và hiệu quả. Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho các bác sĩ chỉnh hình răng mặt và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này.

3.1. Ứng dụng trong chỉnh hình răng mặt

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực chỉnh hình răng mặt. Các bác sĩ có thể sử dụng dữ liệu về đặc điểm nhân trắctăng trưởng đầu mặt để chẩn đoán và điều trị các vấn đề liên quan đến sự phát triển của cung răng và khuôn mặt. Nghiên cứu cũng giúp dự đoán chiều hướng tăng trưởng của trẻ, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp sớm và hiệu quả.

3.2. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao trong việc cung cấp dữ liệu về đặc điểm nhân trắctăng trưởng đầu mặt ở trẻ em người Kinh từ 7 đến 9 tuổi. Kết quả nghiên cứu giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về quá trình phát triển của trẻ, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp. Nghiên cứu cũng góp phần nâng cao chất lượng điều trị trong lĩnh vực chỉnh hình răng mặt.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm nhân trắc đầu mặt 1. Sự tăng trưởng của xương sọ Từ khi sinh ra, xương sọ là một xương xốp được bao bọc bởi màng xương, vào tuần thứ 8 thai kỳ, màng liên kết xương sọ phát triển về phía trước tạo thành vùng dạng mũi, kéo dài về phía sau tạo thành vùng dạng chẩm. Vào tuần thứ 12 thai kỳ, trung tâm cốt hóa đã xuất hiện trong cấu trúc màng liên kết lỏng lẻo, hình thành cấu trúc xương sọ, các mảng xương sọ liên kết với nhau bởi các thóp, dần dần các thóp cốt hóa trở thành xương sọ hoàn chỉnh (hình 1.1: Các thóp của xương sọ (Hình ảnh trích dẫn từ Proffit W.

R 21) Xương sọ tăng trưởng dựa vào hai hiện tượng: - Sự bồi đắp xương bề mặt: Xương sọ có hiện tượng bồi đắp xương ở mặt ngoài làm tăng thể tích khối lượng xương sọ, tuy vậy, do sự gia tăng khối lượng não bộ bên trong nên có hiện tượng tiêu xương sọ phía trong. Hai hiện tượng này giúp cho não bộ gia tăng thể tích theo ba chiều trong không gian nhưng không có sự gia tăng đáng kể khối lượng xương sọ. 4 - Sự tạo xương ở các đường khớp: Hiện tượng tạo xương từ mô liên kết tại các đường khớp xương làm cho xương phát triển theo các đường thẳng góc với khớp. Các đường khớp có ở ba chiều trong không gian nên sự tạo xương sọ tăng trưởng theo tất cả các hướng.

Vòm sọ được cấu tạo từ nhiều mảnh xương phẳng hình thành từ xương màng, không có tiền chất sụn. Sau khi sinh, sự tạo xương dọc bờ thóp diễn ra nhanh hơn làm cho các thóp mất đi những khoảng trống, chỉ còn các đường khớp. Tuy đường khớp có kích thước nhỏ nhưng sự bồi đắp mới góp phần vào sự tăng trưởng của vòm sọ 21,22. Sự tăng trưởng của nền sọ Hình 1.2: Các khớp sụn của nền sọ (Hình ảnh trích dẫn từ Sridhar Premkumar 22) Xương nền sọ cũng được hình thành từ sụn cốt hóa, sự tăng trưởng của nền sọ chủ yếu tại khớp sụn giữa hai xương bướm, giữa xương bướm và xương sàng, khớp xương bướm và xương chẩm, và vùng sụn ở mặt trong xương chẩm (hình 1.

Về cấu trúc mô học, phần sụn tăng trưởng giữa hai xương làm cho nền sọ phát triển theo hướng ngược nhau 22,23. Đường khớp sụn gồm các tế bào tăng sản ở giữa và nhóm tế bào sụn trưởng thành ở hai đầu sẽ được thay thế bởi xương. Sự tăng trưởng nền sọ phụ thuộc vào: Sự thay thế xương do tăng trưởng thùy não, do tăng trưởng và cốt hóa tại các đường khớp sụn và do quá trình sửa chữa vỏ não (hình 1.3: Đường khớp sụn (Hình ảnh trích dẫn từ Proffit W. Sự tăng trưởng của phức hợp mũi hàm trên Xương hàm trên hình thành từ xương màng, không có sự thay thế sụn nên xương hàm trên tăng trưởng theo hai quá trình: Hiện tượng bồi đắp tại đường khớp nối giữa xương hàm trên và nền sọ của xương sọ, sự bồi đắp và tiêu xương trên bề mặt xương hàm trên 24,25,26.

Xương hàm trên hình thành do hai xương bên phải và bên trái, mỗi bên gồm có: - Xương tiền hàm: Hai xương nối với nhau bằng đường khớp chính giữa. - Xương hàm trên: Khớp với xương tiền hàm bằng đường khớp cửa - nanh. Sự tăng trưởng của xương hàm trên theo ba chiều trong không gian: Theo chiều rộng: - Do tăng trưởng đường khớp tại các vị trí 22: + Đường khớp giữa: Có sự bồi đắp xương mới tại các đường khớp giữa hai mấu khẩu cái xương hàm trên, giữa hai mấu ngang xương khẩu cái. + Đường khớp chân bướm - khẩu cái.

+ Đường khớp xương sàng, xương lệ, xương mũi. - Do bồi đắp mặt ngoài thân xương hàm trên và sự tạo xương ổ răng do quá trình mọc răng xảy ra, đồng thời có sự tiêu xương ở mặt trong và ở giữa xương hàm tạo thành xoang hàm. Khi mới sinh, kích thước theo chiều rộng lớn nhất, nhưng tăng trưởng theo chiều rộng ít nhất và kết thúc sớm hơn theo chiều cao và chiều trước- sau (hình 1.4: Sự bồi đắp và tiêu xương ở bề mặt xương (Hình ảnh trích dẫn từ Proffit W. R 21) Theo chiều cao: Do sự tăng trưởng phối hợp của nhiều yếu tố như: - Sự phát triển của nền sọ, sự tăng trưởng của vách mũi (xương sàng, xương khẩu cái và xương lá mía).

Sự tăng trưởng tại các đường khớp xương: Khớp trán- hàm trên, khớp gò má- hàm trên, khớp chân bướm- khẩu cái. Sự phát triển xuống dưới của mấu khẩu cái xương hàm trên và mấu ngang xương khẩu cái. - Nhưng chủ yếu do sự tăng trưởng của xương ổ răng về phía mặt nhai. Vòm khẩu cái luôn luôn có hiện tượng bồi đắp xương mới ở mặt phía trong miệng và tiêu xương ở phía đối diện nên vòm khẩu cái không quá dày.

Theo chiều trước- sau: Toàn bộ cấu trúc bao gồm: Xương hàm trên, xương trán và cung tiếp di chuyển ra phía trước do: Sự di chuyển ra trước của nền sọ, sự tăng trưởng của hố não giữa. Sự tạo xương tại các đường khớp của xương vùng đầu mặt bao gồm: Vòm miệng- chân bướm, bướm- sàng, gò má- thái dương, đường khớp giữa xương bướm, đường khớp giữa hai xương hàm trên, xương hàm trên và xương gò má, xương hàm trên và mảnh ngang xương khẩu cái, đường nối xương tiền hàm và xương hàm trên. Ngoài ra, sự mọc răng vĩnh viễn làm cho xương hàm trên phát triển ra trước làm tăng chiều dài cung răng. Có sự bồi đắp xương mới ở mặt sau nền hàm để cung cấp chỗ cho răng hàm vĩnh viễn mọc, sự bồi đắp xương ở mặt ngoài và tiêu xương ở mặt trong lồi củ xương hàm trên tạo nên sự di chuyển ra sau của vỏ xương và xoang hàm trên (hình 1.5: Hiện tượng tiêu xương/bồi đắp xương của phức hợp xương hàm trên (Hình ảnh trích dẫn từ Proffit W.

Sự tăng trưởng của xương hàm dưới Khi mới sinh, xương hàm dưới ngắn, lồi cầu phát triển tối thiểu, chỉ có lớp sụn sợi và mô liên kết bao quanh xương hàm dưới. Sự tăng trưởng của xương hàm dưới dựa vào sự tăng trưởng màng và sụn, tế bào sụn phát triển tại các vùng chuyên biệt bao gồm: Lồi cầu, mỏm vẹt và góc hàm. Sự tăng trưởng dựa trên sự tăng trưởng sụn xương và sự bồi đắp - tiêu xương trên bề mặt xương 22,27.6: Các vùng sụn sợi và hướng tăng trưởng của xương hàm dưới (Hình ảnh trích dẫn từ Sridhar Premkumar 22) Xương hàm dưới là một xương đơn lẻ, xương di động duy nhất trong khối xương đầu- mặt, theo chức năng và sự phát triển chia làm sáu vùng nhỏ gồm 28: Thân xương, xương ổ răng, mỏm vẹt, góc hàm, lồi cầu và cằm. Tăng trưởng từng vùng phụ thuộc vào các yếu tố chức năng xung quanh như: Răng, hệ thống cơ nhai, lưỡi và khoang hầu.

Xương hàm dưới có sự phát triển đa dạng nhất về hình thái, những vị trí tăng trưởng chủ yếu như: sụn lồi cầu, bờ sau cành lên và gờ xương ổ răng (hình 1. Bồi đắp xương ở phía sau cân xứng với sự tiêu xương ở phía trước để giữ mức độ cân xứng của cành lên và có hiệu quả khi di chuyển ra phía sau 8 trong mối tương quan giữa xương hàm trên với xương hàm dưới. Quá trình bồi đắp/tiêu xương kéo dài đến mỏm vẹt, bao gồm khuyết xương hàm dưới và tiêu xương tăng dần ở sau ống răng dưới (hình 1.7) 22, sự chiếm chỗ phía sau của cành lên làm biến đổi xương cành lên cũ thành một phần phía sau thân xương hàm dưới, làm cho thân xương hàm dưới dài ra, cung cấp thêm chỗ cho quá trình mọc răng. Hiện tượng thay đổi thân xương hàm dưới ở phía trước làm thay đổi bó thần kinh đi qua lỗ cằm, lỗ cằm người trưởng thành di chuyển ra phía trước hơn so với lúc mới sinh 22,28,29.7: Hiện tượng bồi đắp xương/ tiêu xương ở xương hàm dưới (Hình ảnh trích dẫn từ Sridhar Premkumar 22) Quá trình tăng trưởng xương hàm dưới ảnh hưởng đến tầng dưới mặt theo ba chiều trong không gian: Theo chiều rộng: Tăng trưởng theo chiều rộng chủ yếu dựa vào quá trình tiêu xương ở mặt trong và bồi đắp xương ở mật ngoài, tuy nhiên góc giữa hai nửa bên trái và bên phải xương hàm dưới được giữ cố định trong quá trình tăng trưởng.

Có hiện tượng bồi đắp xương ở phía sau cành lên xương hàm dưới và tiêu xương ở bờ trước nhưng với tốc độ chậm hơn, do độ nghiêng của cành lên xương hàm dưới theo hướng từ trong ra ngoài nên làm xương hàm dưới phát triển theo chiều rộng nhiều hơn về phái sau (làm tăng kích thước chiều sâu). Theo chiều cao: Tăng trưởng theo chiều cao phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tăng trưởng của xương ổ răng, bồi đắp xương mới ở bờ dưới mặt ngoài xương hàm dưới, ở bờ trên cành lên xương hàm dưới. Tăng trưởng theo chiều cao hài hòa với sự tăng trưởng của xương hàm trên, xương sọ và xương ổ răng, cân đối giữa hai nhánh bên trái và bên phải của xương hàm dưới, cân đối trong sự ăn khớp của hai hàm răng. 9 Theo chiều trước sau: Sự tăng trưởng theo chiều trước sau chủ yếu phụ thuộc vào hiện tượng tăng trưởng ở cành lên (bồi đắp xương ở phía sau và tiêu xương ở phía trước) do đó, cũng làm tăng chiều sâu xương hàm dưới.

Do phía đầu lồi cầu nghiêng ra ngoài và ra sau, góc tạo bởi nhánh đứng và nhánh ngang xương hàm dưới nên sự tạo xương ở lồi cầu làm tăng kích thước nhánh đứng theo chiều trước sau nhiều hơn theo chiều cao. Chịu ảnh hưởng gián tiếp tiếp từ tăng trưởng của đường khớp nền sọ: Khớp giữa hai xương bướm, và khớp bướm- chẩm. Sự tăng trưởng mô mềm vùng đầu mặt Khi mới sinh, trẻ có khuôn mặt nhìn nghiêng lồi nhiều, từ 4 đến 8 tuổi, thay đổi ít, sau đó tăng trở lại sau 8 tuổi cho tới lúc trưởng thành. Do tăng trưởng của xương hàm dưới làm cho góc nhìn nghiêng giảm lồi khi trẻ lớn lên.

Vào lúc 9 tuổi, góc lồi ở nam là 175 0 và ở nữ là 174 0 22. - Sự tăng trưởng của mũi: Tăng trưởng diễn ra đều đặn từ 1 đến 18 tuổi, sự tăng trưởng mũi xuống dưới và ra trước. Xương chính mũi quy định hướng tăng trưởng, tăng trưởng của xương chính mũi nằm trong khối tăng trưởng chung của phức hợp xương hàm trên. Tăng trưởng xương mũi hoàn tất lúc 10 tuổi, sau đó tăng trưởng chỉ xảy ra ở sụn mũi và mô mềm vùng mũi 22.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm nhân trắc và tăng trưởng đầu mặt ở trẻ em người Kinh 7-9 tuổi là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc điểm nhân trắc học và quá trình tăng trưởng đầu mặt của trẻ em người Kinh trong độ tuổi từ 7 đến 9. Nghiên cứu này cung cấp những dữ liệu quan trọng về sự phát triển thể chất của trẻ, giúp các nhà khoa học, bác sĩ và nhà giáo dục hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ em Việt Nam. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho việc xây dựng các chương trình chăm sóc sức khỏe và giáo dục phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ em trong độ tuổi này.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu chuyên sâu khác trong lĩnh vực khoa học và y tế, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng PAHs trong trà cà phê tại Việt Nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người để hiểu rõ hơn về tác động của môi trường đến sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế Dung Quất, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cũng là một tài liệu đáng chú ý, cung cấp thông tin về chất lượng nước và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe và phát triển, bạn có thể khám phá 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng Việt của NCS Nguyễn Khắc Tấn, nơi cung cấp những góc nhìn đa chiều về các vấn đề khoa học và xã hội.