CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Để ngành chăn nuôi gia cầm nước ta phát triển nhanh chóng và bền vững, bên cạnh nhập khẩu các giống công nghiệp năng suất cao, chúng ta cần chú ý bảo tồn và phát triển các giống gà địa phương quý hiếm (Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Văn Lưu, 2006). Gà bản địa được biết đến với khả năng sản xuất thấp và trứng nhỏ. Tuy nhiên, chúng thích nghi tốt với các điều kiện môi trường khắc nghiệt và điều kiện nuôi dưỡng tại địa phương.
Một số giống gà được ưa chuộng sử dụng cho các mục đích tôn giáo, hoạt động văn hóa và giải trí và có thể được khai thác để xóa đói giảm nghèo ở nông thôn (Padhi, 2016). Đồng thời, thịt gà bản địa được người tiêu dùng đánh giá có hương vị đậm đà, săn chắc, ít chất béo và giàu chất dinh dưỡng (Jaturasitha et al., 2016; Sokołowicz et al. Đây là những đặc điểm cần được duy trì và cải thiện. Từ đó cho thấy việc chăn nuôi gà bản địa đóng một vai trò rất quan trọng, cung cấp nguồn protein có chất lượng cao từ thịt và trứng như là một nguồn thu nhập hỗ trợ cuộc sống của các hộ gia đình ở nông thôn.
Thêm vào đó, gà bản địa sở hữu nguồn gen khác biệt ảnh hưởng đáng kể đến tiềm năng sản xuất, khả năng sống sót và thích nghi của chúng, do đó các giống gà bản địa được xem là những vật liệu di truyền có giá trị. Các biến thể di truyền, là kết quả của việc thuần hóa, chọn lọc và nhân giống, trở nên phong phú về chủng loại và số lượng (Khobondo et al., 2005; Yadav et al. Tuy nhiên, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm chất lượng và số lượng nguồn tài nguyên di truyền, đồng thời làm thay đổi hoặc biến mất hoàn toàn một số tính trạng đặc trưng của các giống gà bản địa (Singh, 2009). Việt Nam là một trong những quốc gia có sự đa dạng về các giống gà bản địa với những đặc tính quý như sức kháng bệnh tự nhiên tốt, dễ nuôi, giá trị cao,… Gà bản địa được nuôi phổ biến bằng nhiều phương thức/hình thức/qui mô khác nhau và không thể thiếu được trong cơ cấu chăn nuôi và cơ cấu bữa ăn của người Việt.
Gần đây, các giống gà bản địa được các công ty/cơ sở giống chú ý nhiều hơn trong công tác lai tạo giống/dòng gà thả vườn/gà lông màu. Công tác bảo tồn và phát triển giống gà bản địa đã được các bộ ngành quan tâm và đầu tư (gà H’Mông, Chọi Bình định, Cáy Củm, Lông Xướt, Tiên Yên, Tàu Vàng, Liên Minh, Đông Tảo, Đa Cựa,…). Gà Nhạn Chân Xanh (NCX) thuộc nhóm giống gà Nòi Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có ngoại hình đặc biệt về màu lông và màu chân. Gà Nhạn Chân Xanh được nhiều người chăn nuôi quan tâm do bởi những đặc tính quý của gà bản địa và tính chiến đấu giỏi.
Tỷ lệ gà Nhạn Chân Xanh trong 1 quần thể gà Nòi rất thấp (~ 1,89%, Đỗ Võ Anh Khoa và Chung Hữu Nghị, 2018). Trước đây, chưa có bất cứ nghiên cứu nào về gà Nhạn Chân Xanh. Gần đây, gà Nhạn Chân Xanh được một số tỉnh quan tâm và đưa vào danh mục bảo tồn, trong đó có tỉnh Cà Mau (Đỗ Võ Anh Khoa và Chung Hữu Nghị, 2018). Thực tế, hiểu về gà Nhạn Chân Xanh đang còn hạn chế, ngay cả những điểm nổi bật nhất về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng, tập tính, năng suất sinh sản và đa dạng di truyền cũng chưa có nghiên cứu nào được thực hiện một cách đồng bộ và có hệ thống.
Ngay cả khả năng sinh trưởng và năng suất sinh sản cũng chưa được đánh giá một cách cụ thể, kích thước một số chiều đo cơ bản cũng chưa được xác định nên việc nuôi chúng như thế nào cũng chưa được xác định rõ ràng. Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu “Một số đặc điểm ngoại hình, tập tính và di truyền của gà Nhạn Chân Xanh” là rất cần thiết. Mục tiêu Nhận diện một số đặc điểm ngoại hình, tập tính, khả năng sinh trưởng, năng suất sinh sản và di truyền của gà Nhạn Chân Xanh, hỗ trợ cho công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen gà bản địa. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Cung cấp các thông tin đầu tiên về một số đặc điểm của gà Nhạn Chân Xanh, đồng thời làm phong phú thêm tính đa dạng sinh học và đa dạng di truyền của các giống gà bản địa, hỗ trợ phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen vật nuôi trong nền nông nghiệp bền vững tương lai.
Những đóng góp mới của đề tài - Mô tả được đặc điểm ngoại hình và một số tập tính của gà Nhạn Chân Xanh. - Bước đầu xác lập được mối quan hệ di truyền của gà Nhạn Chân Xanh với một số giống gà bản địa khác. Đồng thời, ghi nhận tần số kiểu gen/alen của gen MC1R đến tính trạng màu lông. Nội dung Nội dung 1.
Đánh giá đặc điểm ngoại hình, tập tính, khả năng sinh trưởng và năng suất sinh sản của gà Nhạn Chân Xanh. Đánh giá đa dạng di truyền của gà Nhạn Chân Xanh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình, tập tính, khả năng sinh trưởng và năng suất sinh sản của gà 2.
Đặc điểm ngoại hình 2. Màu sắc lông, mắt, mỏ Sự đa dạng về kiểu hình là một đặc điểm cho thấy sự thích nghi của sinh vật với môi trường sống của nó. Đặc điểm ngoại hình đặc trưng của các giống gà địa phương là rất đa dạng về màu sắc lông (McAinsh et al., 2004; Nguyễn Khánh Toán và ctv, 2016). Màu sắc lông đặc trưng cho từng giống gà và do một số gen quy định, phụ thuộc vào sắc tố.
Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do tốc độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin trong các tế bào lông. Sắc tố da được xác định bởi số lượng melanin được tổng hợp bởi các tế bào melanocytes ở biểu bì. Melanin được tổng hợp trong các melanosomes của tế bào melanocytes ở biểu bì. Các melanosomes trưởng thành sẽ được truyền đến các tế bào keratinocyt xung quanh.
Có hai dạng melanin biểu bì: eumelanin (màu nâu-đen) và pheomelanin (màu đỏ-vàng). Các bằng chứng về di truyền, sinh hoá và dược học đã chứng minh rằng tín hiệu từ MC1R là yếu tố chính miêu tả sự phát triển của sắc tố (Borovanský and Wiley, 2011). Màu lông thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong phân loại. Khi mới nở, gà con được phủ lớp lông tơ, dần dần được thay thế bằng lông cố định.
Gà mái mọc lông đều hơn gà trống cùng dòng. Màu lông do một số gen qui định và phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào. Tổ hợp giữa các gen tạo ra các màu sắc đa dạng không những về tổng thể mà còn ở những vùng khác nhau của cơ thể. Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do tốc độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin trong các tế bào lông.
Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom thì lông có màu vàng, xanh hoặc đỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng (Brandsch and Biilchel, 1978). Màu sắc lông không những là tín hiệu để nhận dạng con giống và cũng là một đặc điểm liên quan đến yếu tố thẩm mĩ theo khía cạnh người tiêu dùng, ví dụ, ở gà thịt thương mại màu lông trắng được ưa chuộng vì trên thân thịt rất sạch. Như vậy, chăn nuôi và các chương trình sản xuất cải tiến cho gà địa phương cũng nên kết hợp các mục tiêu sản xuất và sở thích của người tiêu dùng. Hơn nữa, sự xuất hiện kiểu hình đa dạng của gà địa phương cho thấy khả năng cải tiến của di truyền.
Để phân biệt những giống gà với nhau thường dựa vào các đặc điểm bên ngoài như: màu sắc lông, màu chân, kiểu mào… Hầu hết các báo cáo đều cho rằng quần thể gà địa phương có nhiều màu lông khác nhau. Ở gà Hồ, gà trống 3 có màu lông chủ yếu là mã mận và mã lĩnh; gà mái có màu lông mã nhãn và mã thó (Lê Viết Ly, 2001). Gà Hồ có màu lông rất đặc trưng cho phẩm giống và rất ổn định. Nhìn chung, gà Hồ có ngoại hình đẹp, to, chắc, khoẻ, chân to vừa phải, da chân màu vàng nhạt (da đỗ nành), mỏ màu vàng nâu.
Trên giống gà Mía, theo ghi nhận của Trịnh Xuân Cư và ctv (2003) cho thấy, màu lông đặc trưng cho giống là màu lá mía khô đối với con mái, màu lông đen xen kẽ cườm đỏ xẫm ở cánh và đuôi đối với con trống. Ở giống gà Chọi tại Bắc Ninh, theo ghi nhận của Trần Thị Kim Anh và ctv (2008) màu lông của gà Chọi đa số là màu đen (gà ô) và sự phân bố giữa con trống và con mái tương đối đồng đều (35,6-36,5%). Ở một nghiên cứu khác trên gà Chọi nuôi bán chăn thả tại Phú Thọ cho thấy, gà Chọi có màu lông và màu chân khá đa dạng. Cụ thể, gà trống có màu lông chủ yếu là màu tía, màu xám và màu đen; gà mái có màu lông nâu, xám, trắng, đen.
Tuy nhiên, màu lông trắng xuất hiện rất ít (2,5% ở gà trống và 23,91% ở gà mái) (Nguyễn Thị Liên và ctv, 2017). Ở ĐBSCL, gà Nòi được nuôi khá phổ biến ở các nông hộ, chiếm khoảng 70% trong các giống gà thả vườn (Nguyễn Mạnh Dũng và Huỳnh Hồng Hải, 2006). Gà Nòi thích nghi tốt với điều kiện nuôi chăn thả, ngoại hình và chất lượng thịt được người dân Nam Bộ ưa chuộng, có sức đề kháng cao và ít bệnh hơn so với một số giống gà thả vườn khác. Bộ lông thường gặp ở gà Nòi là màu chuối lửa, màu xám, màu hoa mơ hay màu đen xen lẫn vệt xanh biếc, lông đuôi đen, ở cổ và đùi thường trụi lông, da đỏ, tính hung hăng hiếu chiến (Lê Hồng Mận, 2007).
Đặc điểm ngoại hình của gà Nòi có chân cao, mình dài, cổ cao, mào kép màu đỏ tía, cựa sắc và dài, tích và dái tai màu đỏ, con mái màu xám (màu lá chuối khô) hoặc màu vàng, mỏ và chân màu chì, mắt đen có vòng đỏ (Nguyễn Thị Mai et al. Ngoài những kiểu hình trên, gà Nòi còn có kiểu màu lông trắng và chân xanh nên được người dân Nam Bộ gọi là gà Nhạn Chân Xanh, chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong quần thể gà Nòi. Gà Nhạn Chân Xanh rất hiếu chiến và dũng mãnh nên được nhiều người săn lùng.