Tổng quan nghiên cứu

Sa tạng chậu (Pelvic Organ Prolapse - POP) là một bệnh lý phức tạp liên quan mật thiết đến ba chuyên khoa: Phụ khoa, Tiết niệu và Hậu môn - Trực tràng. Theo thống kê y văn quốc tế của Hunskaar, khoảng 41% phụ nữ sau mãn kinh gặp tình trạng sa các cơ quan vùng đáy chậu ở nhiều mức độ khác nhau. Báo cáo dịch tễ học của Jokhio trên 5.064 phụ nữ mãn kinh ghi nhận tỷ lệ mắc sa tạng chậu là 10,3%, trong đó các trường hợp sa mức độ nặng ở độ 3 và độ 4 chiếm tới 37,8%. Bệnh lý này gây tổn thương giải phẫu tầng sinh môn nghiêm trọng, dẫn đến tình trạng ứ trệ nước tiểu, viêm loét niêm mạc cổ tử cung do cọ sát và làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Phương pháp phẫu thuật kinh điển trước đây chủ yếu là cắt tử cung ngã âm đạo, tuy nhiên phương pháp này không giải quyết triệt để căn nguyên dãn hệ thống dây chằng nâng đỡ sàn chậu, khiến tỷ lệ sa mỏm cắt tái phát sau mổ lên tới 61,5% - 70,3%. Vào tháng 4 năm 2019, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chính thức thu hồi giấy phép sử dụng mảnh ghép tổng hợp qua ngã âm đạo do tỷ lệ biến chứng lộ mảnh ghép, đau khi giao hợp và nhiễm trùng tăng cao. Phẫu thuật nội soi đặt mảnh ghép Prolene cố định tử cung và bàng quang vào mỏm nhô xương cùng đã trở thành giải pháp tiêu chuẩn vàng ít xâm lấn. Luận văn chuyên khoa cấp II của tác giả Nguyễn Chí Quang, dưới sự hướng dẫn khoa học của Bác sĩ CKII Dương Mỹ Linh tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (giai đoạn từ tháng 02/2019 đến tháng 05/2020), được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị của kỹ thuật này trên 31 bệnh nhân sa tạng chậu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống giải phẫu sàn chậu DeLancey cùng cơ chế nâng đỡ ba tầng cấu trúc: tầng I (treo đỉnh tử cung - âm đạo vào mỏm nhô và xương cùng qua hệ thống dây chằng tử cung - cùng), tầng II (đỡ thành bên và thành trước âm đạo qua cung gân mạc chậu) và tầng III (nâng đỡ đáy chậu qua khối cơ nâng hậu môn). Hệ thống mạc mu - cổ tử cung và vách âm đạo - trực tràng giữ vai trò cốt lõi ngăn ngừa tình trạng thoát vị tạng chậu.

Hệ thống phân loại định lượng mức độ sa tạng chậu (POP-Q) theo đồng thuận quốc tế năm 1996 của Hội Niệu học Quốc tế (ICS) và Hội Niệu Phụ khoa Hoa Kỳ (AUGS) được ứng dụng làm tiêu chuẩn đánh giá giải phẫu. Hệ thống này đo đạc 9 điểm mốc giải phẫu gồm 3 điểm thành trước (Aa, Ba, C), 3 điểm thành sau (Ap, Bp, D) và 3 khoảng cách (Gh, Pb, Tvl). Luận văn áp dụng phân loại POP-Q chuẩn và POP-Q rút gọn (tập trung vào 4 điểm mốc Ba, C, Bp, D) để xác định các mức độ sa từ độ 1 đến độ 4. Bên cạnh đó, thang điểm thị giác VAS (Visual Analog Scale) từ 0 đến 10 điểm được dùng để đo lường mức độ đau sau phẫu thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang tiến cứu, thực hiện tại Khoa Phụ sản Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 02/2019 đến tháng 05/2020 (thời gian theo dõi 15 tháng). Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (Z = 1,96), sai số cho phép d = 0,05 và tỷ lệ thành công tham chiếu từ y văn của Zhang Ping đạt 98% (p = 0,98), xác định cỡ mẫu tối thiểu là 31 bệnh nhân.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng cho toàn bộ bệnh nhân nhập viện được chẩn đoán sa tạng chậu có triệu chứng ở độ 2, độ 3 hoặc độ 4 theo phân độ POP-Q, đồng ý tham gia phẫu thuật và cam kết tái khám định kỳ ở thời điểm 1 tháng và 3 tháng sau mổ. Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các trường hợp có chống chỉ định phẫu thuật nội soi, bệnh lý tim mạch nặng, đái tháo đường mất kiểm soát, ung thư phụ khoa hoặc sa trực tràng đơn thuần.

Toàn bộ quy trình phẫu thuật nội soi do một phẫu thuật viên duy nhất thực hiện nhằm chuẩn hóa kỹ thuật: sử dụng hệ thống 4 trocar, bộc lộ mỏm nhô xương cùng, bóc tách khoang bàng quang - âm đạo trung bình 6 cm, cố định mảnh ghép Prolene kích thước 15 x 15 cm cắt hình chữ Y ngược vào thành trước âm đạo bằng dụng cụ Protak 5 mm, treo cố định đầu trên vào mỏm nhô bằng chỉ Prolene số 1 và phủ kín toàn bộ phúc mạc. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Stata 14. Phân tích thống kê sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. Phép kiểm Chi bình phương và kiểm định chính xác Fisher được lựa chọn để phân tích các biến định tính có tần số quan sát nhỏ, đảm bảo tính chuẩn xác cho các phân tích lâm sàng chuyên sâu với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích đặc điểm dịch tễ và nhân khẩu học trên 31 bệnh nhân ghi nhận độ tuổi trung bình là 61,8 ± 8,9 tuổi (nhỏ nhất 36 tuổi, lớn nhất 78 tuổi). Nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi chiếm ưu thế vượt trội với 67,8% (21 trường hợp), nhóm 45-60 tuổi chiếm 29,0% (9 trường hợp) và nhóm dưới 45 tuổi chỉ chiếm 3,2% (1 trường hợp). Về tình trạng kinh nguyệt, phụ nữ mãn kinh trên 10 năm chiếm 48,4% (15 trường hợp), mãn kinh dưới 10 năm chiếm 38,7% (12 trường hợp) và nhóm còn hành kinh chiếm 12,9% (4 trường hợp). Bệnh nhân cư trú tại khu vực nông thôn chiếm 61,3% (19 trường hợp) và 51,6% làm nghề nông nghiệp (16 trường hợp).

Tiền sử sinh sản ghi nhận số lần sinh con trung bình là 4,0 lần (dao động từ 1 đến 8 lần), trong đó nhóm sinh từ 4 lần trở lên chiếm 67,7% (21 trường hợp). Tỷ lệ bệnh nhân có tình trạng thừa cân và béo phì (chỉ số khối cơ thể BMI ≥ 23 kg/m²) chiếm 83,9%, cụ thể béo phì (BMI ≥ 25 kg/m²) chiếm 45,2% (14 trường hợp) và thừa cân chiếm 38,7% (12 trường hợp).

Về mặt lâm sàng, lý do chính khiến bệnh nhân đến khám là tự sờ thấy khối sa ra ngoài âm hộ chiếm 74,2% (23 trường hợp), tiểu khó chiếm 16,1% (5 trường hợp) và cảm giác trằn nặng vùng bụng dưới chiếm 9,7% (3 trường hợp). Triệu chứng rối loạn tiểu tiện xuất hiện ở 70,9% bệnh nhân, bao gồm tiểu không tự chủ khi gắng sức chiếm 32,2% (10 trường hợp), tiểu gấp không tự chủ chiếm 22,6% (7 trường hợp) và tiểu không tự chủ hỗn hợp chiếm 16,1% (5 trường hợp). Khám thực thể trước mổ ghi nhận 71,0% bệnh nhân bị khô teo âm đạo đơn thuần (22 trường hợp) và 16,1% kết hợp vừa khô teo vừa loét cổ tử cung (5 trường hợp). Đánh giá mức độ sa tạng chậu theo thang điểm POP-Q trước mổ cho thấy 100% bệnh nhân ở mức độ nặng, trong đó sa độ 3 chiếm 77,4% (24 trường hợp) và sa độ 4 chiếm 22,6% (7 trường hợp).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện lâm sàng khẳng định mối liên hệ nhân quả rõ rệt giữa quá trình lão hóa, suy giảm nồng độ nội tiết tố estrogen sau mãn kinh kéo dài (>10 năm), tình trạng sinh đẻ nhiều lần (≥4 lần) và áp lực ổ bụng gia tăng mạn tính ở bệnh nhân béo phì với sự thoái hóa của hệ thống mô liên kết nâng đỡ sàn chậu. Đa số phụ nữ nông thôn làm việc nặng nhọc, mang tâm lý e ngại nên thường chỉ đến cơ sở y tế khi khối sa đã tiến triển đến độ 3 hoặc độ 4 (chiếm toàn bộ 100% mẫu nghiên cứu).

Kết quả điều trị bằng phẫu thuật nội soi đặt mảnh ghép cố định mỏm nhô ghi nhận tính an toàn và hiệu quả giải phẫu vượt trội. So sánh với các nghiên cứu trong nước, thời gian phẫu thuật và kiểm soát mất máu tương đồng với kết quả của Châu Khắc Tú tại Bệnh viện Từ Dũ (thời gian mổ 125,6 phút, lượng máu mất 30,2 ml, điểm đau VAS ngày thứ nhất là 3,6 điểm và ngày thứ ba giảm còn 1,6 điểm) và Nguyễn Bá Mỹ Nhi (tỷ lệ thành công 100%). Khi đối chiếu với các công bố quốc tế của Akladios (thời gian mổ 239 phút, tỷ lệ thành công 93,7%), Mustafa (thời gian mổ 179 phút, thành công 96%) và Hoshino (thời gian mổ 140 phút, thành công 94%), kỹ thuật mổ nội soi của nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy khả năng phục hồi giải phẫu của điểm Ba và điểm C về vị trí sinh lý bình thường mà không ghi nhận biến chứng thủng tạng hay lộ mảnh ghép sau 3 tháng theo dõi. Dữ liệu lâm sàng trước và sau mổ có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột phân bố đa tầng và bảng đối chiếu các chỉ số POP-Q để thể hiện rõ nét mức độ hồi phục giải phẫu của sàn chậu.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình sàng lọc và phân loại POP-Q tại tuyến y tế cơ sở: Sở Y tế và các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh cần tổ chức tập huấn kỹ năng thăm khám sàn chậu định kỳ cho 100% bác sĩ sản phụ khoa tuyến huyện, hoàn thành trong giai đoạn 2024 - 2025. Mục tiêu giảm tỷ lệ phát hiện muộn ở giai đoạn sa độ 3 và độ 4 từ mức 100% hiện nay xuống dưới 40%, tạo điều kiện áp dụng các biện pháp can thiệp bảo tồn sớm như tập cơ sàn chậu và đặt vòng nâng Pessary.
  2. Ban hành hướng dẫn phẫu thuật nội soi cố định mỏm nhô chuẩn quốc gia: Hội Phụ sản Việt Nam phối hợp cùng các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành xây dựng và phê duyệt phác đồ kỹ thuật nội soi đặt mảnh ghép Prolene cố định tử cung - bàng quang vào mỏm nhô trước quý 4 năm 2025. Phác đồ cần quy định chi tiết kỹ thuật bóc tách an toàn khoang bàng quang - âm đạo sâu tối thiểu 6 cm và kỹ thuật khâu phủ phúc mạc kín hoàn toàn để duy trì tỷ lệ thành công trên 95% và tỷ lệ lộ mảnh ghép dưới 1%.
  3. Mở rộng đào tạo phẫu thuật nội soi sàn chậu chuyên sâu: Các trung tâm đào tạo y khoa sau đại học cần đưa kỹ thuật cố định mỏm nhô bằng mảnh ghép vào chương trình đào tạo phẫu thuật nội soi nâng cao, đào tạo tối thiểu 50 phẫu thuật viên sản phụ khoa thành thạo kỹ thuật khâu nội soi mỗi năm trong giai đoạn 2024 - 2027.
  4. Đẩy mạnh truyền thông giáo dục sức khỏe phụ nữ mãn kinh: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) và Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh triển khai chương trình truyền thông về chăm sóc sức khỏe sàn chậu, hướng dẫn bài tập Kegel đúng kỹ thuật, hướng tới tiếp cận ít nhất 80% phụ nữ mãn kinh tại khu vực nông thôn trong giai đoạn 2024 - 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Bác sĩ chuyên khoa Sản phụ khoa và Phẫu thuật viên Tiết niệu - Sàn chậu: Tài liệu cung cấp quy trình kỹ thuật phẫu thuật nội soi đặt mảnh ghép Prolene hình chữ Y cố định vào mỏm nhô, kỹ thuật phẫu tích tránh tổn thương đám rối mạch máu trước xương cùng và bàng quang.
  2. Học viên sau đại học (Bác sĩ Chuyên khoa II, Chuyên khoa I, Bác sĩ Nội trú và Thạc sĩ Y học): Nguồn tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng, cách thu thập và phân tích số liệu dịch tễ học sàn chậu, cùng việc ứng dụng hệ thống thang điểm POP-Q và bảng câu hỏi rối loạn tiểu tiện.
  3. Lãnh đạo bệnh viện và Nhà quản lý chất lượng y tế: Cơ sở thực tiễn để phê duyệt danh mục kỹ thuật ít xâm lấn, đầu tư trang thiết bị phẫu thuật nội soi hiện đại và xây dựng đơn vị niệu phụ khoa chuyên sâu.
  4. Điều dưỡng chuyên khoa Phụ sản và Chuyên viên Phục hồi chức năng: Tài liệu tham khảo hữu ích để xây dựng quy trình chăm sóc hậu phẫu, đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS và tư vấn vệ sinh, dinh dưỡng, vận động cho bệnh nhân sau phẫu thuật sàn chậu.

Câu hỏi thường gặp

1. Phẫu thuật nội soi cố định mỏm nhô có ưu điểm gì vượt trội so với phẫu thuật mở bụng?
Phẫu thuật nội soi giúp phẫu thuật viên quan sát rõ nét các cấu trúc giải phẫu vùng chậu dưới độ phóng đại cao, giảm thiểu nguy cơ tổn thương đám rối tĩnh mạch trước xương cùng. Phương pháp này giảm thiểu sang chấn mô mềm, kiểm soát lượng máu mất dưới 50 ml, hạ thấp điểm đau VAS hậu phẫu và rút ngắn thời gian nằm viện xuống còn 3 - 4 ngày.

2. Tại sao FDA cấm đặt mảnh ghép qua ngã âm đạo nhưng vẫn cho phép mổ nội soi cố định mỏm nhô?
Mảnh ghép đặt qua đường âm đạo tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng và lộ mảnh ghép cao do tiếp xúc trực tiếp với vi khuẩn chí âm đạo. Ngược lại, phẫu thuật nội soi ngã bụng đặt mảnh ghép trong khoang vô khuẩn sau phúc mạc và được phủ kín phúc mạc hoàn toàn, giúp cố định vững chắc tử cung vào cấu trúc xương mỏm nhô với tỷ lệ biến chứng lộ mảnh ghép gần như bằng 0%.

3. Thang điểm POP-Q rút gọn có giá trị thực tiễn như thế nào trong lâm sàng?
Thang điểm POP-Q rút gọn tập trung đo đạc 4 điểm mốc chính (Ba, C, Bp, D) thay vì 9 điểm mốc phức tạp. Phương pháp này giúp bác sĩ lâm sàng đánh giá nhanh chóng mức độ sa của tầng trước, đỉnh và tầng sau âm đạo trong vòng 2 - 3 phút nhưng vẫn duy trì độ chính xác tương đương thang điểm kinh điển, tạo sự thống nhất khi theo dõi sau mổ.

4. Những yếu tố nguy cơ chính nào dẫn đến sa tạng chậu mức độ nặng trong nghiên cứu?
Nghiên cứu chỉ ra ba yếu tố nguy cơ hàng đầu: tuổi cao sau mãn kinh kéo dài (chiếm 87,1% phụ nữ mãn kinh trong mẫu nghiên cứu), tiền sử sinh đẻ nhiều lần với số lần sinh trung bình 4 lần (67,7% sinh từ 4 lần trở lên) và tình trạng thừa cân - béo phì với chỉ số BMI ≥ 23 kg/m² chiếm 83,9%.

5. Bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi treo mỏm nhô cần lưu ý điều gì khi hồi phục?
Bệnh nhân có thể vận động nhẹ nhàng sau 24 giờ khi điểm đau VAS giảm xuống mức nhẹ. Người bệnh cần kiêng mang vác vật nặng trên 5 kg và kiêng quan hệ tình dục trong vòng 6 - 8 tuần đầu để mảnh ghép Prolene tích hợp hoàn toàn vào các cấu trúc dây chằng và xương cùng, đồng thời tái khám định kỳ vào tháng thứ 1 và tháng thứ 3 để kiểm tra vị trí giải phẫu.

Kết luận

  • Luận văn chuyên khoa cấp II của tác giả Nguyễn Chí Quang cung cấp bằng chứng lâm sàng thuyết phục về tính khả thi, an toàn và hiệu quả tái tạo giải phẫu của phẫu thuật nội soi đặt mảnh ghép Prolene cố định tử cung - bàng quang vào mỏm nhô tại Việt Nam.
  • Tình trạng sa tạng chậu nặng (độ 3 và độ 4 chiếm 100%) tập trung chủ yếu ở phụ nữ lớn tuổi (>60 tuổi chiếm 67,8%), sinh đẻ nhiều lần (≥4 lần chiếm 67,7%) và thừa cân béo phì (83,9%).
  • Triệu chứng lâm sàng điển hình gồm khối sa ngoài âm đạo (74,2%), rối loạn tiểu tiện không tự chủ (70,9%) và tổn thương khô teo niêm mạc âm đạo (71,0%).
  • Kỹ thuật phẫu thuật nội soi giúp bảo tồn tử cung, giảm đau nhanh chóng theo thang điểm VAS, không ghi nhận biến chứng tổn thương bàng quang hay lộ mảnh ghép trong giai đoạn theo dõi hậu phẫu ngắn hạn.
  • Đề xuất các cơ sở y tế chuyên khoa phụ sản tuyến tỉnh và trung ương nhân rộng quy trình kỹ thuật này trong giai đoạn 2024 - 2026. Quý đồng nghiệp và bạn đọc có thể liên hệ thư viện Đại học Y Dược Cần Thơ hoặc Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu.