ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm quanh chóp mạn tính là một trong những bệnh răng miệng hay gặp và có thể gây ảnh hƣởng đến khả năng ăn nhai cũng nhƣ sức khoẻ toàn thân của ngƣời bệnh. Viêm quanh chóp mạn tính là ổ nhiễm trùng tiềm tàng, triệu chứng nghèo nàn dễ bị bỏ qua, khi biết thì đã nặng. Tiến triển của bệnh có thể dẫn đến viêm mô tế bào, viêm xƣơng hàm, viêm xoang, viêm nội tâm mạc, viêm thận, viêm khớp, sốt kéo dài, nhiễm khuẩn huyết. Theo Nguyễn Thanh Quang (2017) thì nguyên nhân gây viêm nhiễm vùng hàm mặt đa số xuất phát từ bệnh lý tuỷ - vùng quanh chóp 59.
Do đó vấn đề khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời bệnh lý quanh chóp là vô cùng cần thiết giúp cho bệnh nhân tránh đƣợc những biến chứng nguy hiểm sau này. Y học hiện đại ngày một phát triển luôn tìm tòi những phƣơng pháp điều trị hạn chế xâm lấn, giảm sự lo sợ của bệnh nhân và hiệu quả cao. Do đó ngày nay việc điều trị viêm quanh chóp mạn tính từ nhổ răng nguyên nhân đã dần chuyển sang điều trị bảo tồn bao gồm điều trị nội nha kết hợp phẫu thuật cắt chóp hoặc điều trị nội nha không phẫu thuật. Ngành Nha khoa hiện đại với sự nghiên cứu phát triển nhiều dƣợc chất mới để trám bít ống tuỷ và có tác dụng tốt với tổ chức mô quanh chóp.
Do đó vấn đề điều trị viêm quanh chóp mạn tính bằng phƣơng pháp nội nha không phẫu thuật đạt hiệu quả cao và có xu hƣớng ngày một phát triển hơn. Phƣơng pháp này không những khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của phƣơng pháp phẫu thuật là gây đau đớn cho bệnh nhân, đòi hỏi trang thiết bị, dụng cụ và phẫu thuật viên chuyên khoa mà còn tiết kiệm thời gian, kinh tế cho bệnh nhân, đặc biệt giữ đƣợc nhiều răng hơn. Trong 2 thập kỷ gần đây trên thế giới đã xuất hiện và đƣa vào sử dụng một loại vật liệu nội nha mới là Mineral Trioxide Aggregate, là một loại xi măng nội nha hỗn hợp với những ƣu điểm vƣợt trội nhƣ khả năng tƣơng hợp 2 sinh học đạt mức tối ƣu, cho phép tạo ra hàng rào chặn chóp tức thì, sau đó có thể trám bít ống tuỷ ngay, kích thích quá trình lành thƣơng tốt [16]. Do đó Mineral Trioxide Aggregate có thể giải quyết đƣợc những nhƣợc điểm mà các vật liệu trƣớc kia gặp phải.
Tại Việt Nam, Mineral Trioxide Aggregate đã đƣợc nhiều nhà lâm sàng khuyến khích sử dụng trong nội nha nhƣ Bùi Quế Dƣơng [3], Nguyễn Mạnh Hà [6], Trịnh Thị Thái Hà [8], Đào Thị Hằng Nga [16] và đƣợc Bộ Y Tế đƣa vào tài liệu hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị chuyên khoa Răng Hàm Mặt năm 2015 [1], và quy trình kỹ thuật Nhi Khoa về bệnh lý Răng Hàm Mặt năm 2017 [2]. Tuy nhiên những nghiên cứu trong nƣớc về việc sử dụng Mineral Trioxide Aggregate trong điều trị viêm quanh chóp mạn tính còn hạn chế, chƣa đủ hệ thống và chỉ rõ mức độ và thời gian lành thƣơng đối với các tổn thƣơng viêm quanh chóp mạn tính. Với mong muốn giúp cho các bác sĩ Răng Hàm Mặt tiếp cận các phƣơng pháp điều trị, vật liệu tiên tiến qua đó giúp bệnh nhân có đƣợc kết quả điều trị tốt nhất, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị nội nha ở bệnh nhân viêm quanh chóp mạn tính tại bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ (2017 – 2019)” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm quanh chóp mạn tính trên bệnh nhân đƣợc điều trị nội nha bằng Mineral Trioxide Aggregate tại khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2017 – 2019.
Đánh giá kết quả điều trị nội nha bằng Mineral Trioxide Aggregate ở bệnh nhân viêm quanh chóp mạn tính tại khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ năm 2017 – 2019. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu răng và mô quanh răng Cấu tạo của răng gồm men răng, ngà răng (mô cứng) và tuỷ răng (mô mềm). Men răng phủ mặt ngoài ngà thân răng, có nguồn gốc từ ngoại bì, là mô cứng nhất trong cơ thể, có tỷ lệ chất vô cơ cao (96%).
Trong đời sống men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi [11]. Ngà răng có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp hơn men (75%). Trong ngà có nhiều ống ngà chứa đuôi bào tƣơng của nguyên bào ngà. Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà.
Ngà răng ngày càng dày theo hƣớng về phía hốc tuỷ làm hẹp dần hốc tuỷ. Tuỷ răng là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tuỷ gồm tuỷ chân và tuỷ thân. Tuỷ răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm giác của răng. Trong tuỷ răng có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh.
Lỗ chóp răng là nơi mạch máu thần kinh đi vào và đi ra khỏi buồng tuỷ để nuôi răng. Khi chân răng phát triển lỗ chóp trở nên hẹp dần. Mặt trong lỗ chóp đƣợc lót bở một lớp xê măng dài 0.5 – 1mm trong ống tuỷ [7]. Mô quanh răng bao gồm xƣơng ổ răng, xê măng, dây chằng nha chu và nƣớu.
Xƣơng ổ răng là một xƣơng xốp, tạo thành một huyệt có hình dạng và kích thƣớc phù hợp với chân răng. Bề mặt ổ răng có nhiều lỗ thủng để cho các mạch máu và dây thần kinh từ xƣơng xuyên qua để nuôi dây chằng nha chu. Trên hình ảnh tia X phần xƣơng ổ chính danh trông cản tia hơn gọi là phiến cứng [11]. 4 Xê măng là mô liên kết không đồng nhất, khoáng hoá, bao bọc toàn bộ lớp ngà chân răng và một phần mặt trong ống tuỷ ở chóp răng khoảng 0.
Xê măng có cấu tạp 40 – 50% chất vô cơ (chủ yếu hydroxyapatite), 50 – 55% chất hữu cơ (chủ yếu collagen polysaccharide và protein) [20]. Nó neo giữ các bó sợi collagen của dây chằng nha chu vào bề mặt chân răng. Xê măng không chỉ giúp giữ răng vào xƣơng mà còn thực hiện các quy trình thích nghi và sửa chữa [7]. Dây chằng nha chu là những bó sợi liên kết, dày khoảng 0.25mm, một đầu bám vào xê măng, còn đầu kia bám vào xƣơng ổ chính danh, có nhiệm vụ giữ cho răng gắn vào xƣơng ổ răng, truyền cảm giác áp lƣc và truyền lực để tránh tác dụng có hại của lực nhai đối với răng và nha chu [11].
Nƣớu răng là phần niêm mạc miệng phủ lên xƣơng ổ răng (nƣớu dính) và cổ răng (nƣớu rời). Ngà Men Tuỷ Xê măng Xƣơng ổ răng Dây chằng nha chu Lỗ chóp răng Hình 1. Răng và mô quanh răng (Nguồn: Textbook of endodontics, năm 2014 [36]) 1. Bệnh lý vùng quanh chóp 1.
Phân loại Viêm quanh chóp (VQC) là bệnh lý tiếp theo của viêm tuỷ, hoặc cũng có thể từ đƣờng dây chằng nha chu tới [7]. Nguyên nhân có thể do nhiễm 5 trùng tuỷ răng, những sai lầm trong điều trị nội nha, chấn thƣơng khớp cắn hoặc dị vật nhét vào kẽ răng [23]. Phân loại bệnh lý vùng quanh chóp theo Nguyễn Toại Phân loại Chức năng Thực thể Viêm -Cảm giác răng trồi, -Gõ dọc (+) quanh cắn đau. chóp cấp -Đau dữ dội, lan toả -Sờ có thể đau.
vùng tai, mắt, thái - Lung lay. -Nƣớu răng viêm đỏ -Thử nghiệm tuỷ (-) hoặc (+). -X Quang: dây chằng nha chu có thể dày lên Áp xe -Tình trạng nặng - Gõ (+), Sờ đau quanh - Tiến triển nhanh từ - Răng lung lay, trồi cao. chóp cấp nhẹ đến sƣng nhiều - Có thể có sốt -X Quang: mô quanh chóp bình thƣờng Viêm -Thƣờng không có - Răng đổi màu.
quanh triệu chứng - Gõ (+), sờ đau. chóp mạn -Lỗ dò nƣớu vùng răng -Thử nghiệm tuỷ (-) tính nguyên nhân. - X Quang: vùng thấu quang quanh chóp Áp xe tái -Là đợt cấp của viêm -X Quang: vùng thấu quang quanh phát quanh chóp mạn tính chóp -Biểu hiện giống áp xe quanh chóp cấp (Nguồn: Giáo trình Răng Hàm Mặt Đại học Y Dƣợc Huế, năm 2008 [23]) 6 Theo Nguyễn Mạnh Hà (2010) [6], Trịnh Thị Thái Hà [7] VQC đƣợc chia làm 3 loại là VQC cấp tính, VQC bán cấp và viêm quanh chóp mạn tính (VQCMT). Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng viêm quanh chóp mạn tính Khi không có đợt VQC cấp tính hoặc bán cấp thứ phát thì các triệu chứng của VQCMT rất mờ nhạt, bệnh tạm thời ổn định về lâm sàng.
Các dấu hiệu lâm sàng khi khám đƣợc các tác giả quan tâm bao gồm lỗ dò mủ ở nƣớu chân răng, răng đổi màu, gõ dọc (+), thử nghiệm độ sống tuỷ không đáp ứng và tiền sử đau. Lỗ dò mủ ở nƣớu chân răng hoặc lỗ dò mủ ngoài da tƣơng ứng với răng tổn thƣơng. Lỗ dò có thể tồn tại liên tục hay tái phát từng đợt diễn tiến của bệnh. Khi bệnh ở giai đoạn ổn định lỗ dò mất và có thể để lại sẹo.
Đây là một dấu hiệu rất có giá trị để chẩn đoán VQCMT trên lâm sàng [6]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà trên 105 răng có tổn thƣơng VQCMT nhận thấy có 61.9% trƣờng hợp có lỗ dò [5]. Đổi màu xám ở men răng: tỷ lệ răng bị đổi màu mà chúng ta quan sát thấy đƣợc còn phụ thuộc nhiều yếu tố nhƣ nguyên nhân gây tổn thƣơng, ánh sáng ngoài trời hay ánh sáng, ngƣời khám, cách đánh giá, so sánh với răng bên hay răng cùng số bên đối diện. Bùi Lê Hồng Hạnh khảo sát về dấu hiệu đổi màu ở răng có sang thƣơng quanh chóp chiếm tới 32.
Gõ dọc (+): gõ theo đúng phƣơng pháp, gõ từ răng lành sau đó tới răng tổn thƣơng để bệnh nhân có điều kiện so sánh và cảm thấy hơi đau nhẹ. Theo nghiên cứu của Nguyên Hữu Long triệu chứng đau nhẹ khi gõ dọc chiếm 44. Gõ dọc (Nguồn: Textbook of endodontics, năm 2014 [36]) Tiền sử đau: khi có đợt cấp của VQCMT làm bệnh nhân sƣng đau, đây là lý do khiến bệnh nhân đi khám. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà [5] cho thấy có 79.8% có tiền sử đau rõ một hay nhiều lần trƣớc khi điều trị và 83.3% trƣờng hợp thỉnh thoảng thấy đau âm ỉ nhẹ tại răng nguyên nhân mà không có sƣng.
Ngoài ra khám răng nguyên nhân có thể thấy răng lung lay tuỳ theo mức độ. Ngoài ra còn thấy răng có lỗ sâu, núm phụ, mòn răng, lõm hình chêm, nứt gãy. Làm nghiệm pháp thử tuỷ thƣờng cho kết quả tuỷ đã chết.