ĐẶT VẤN ĐỀ Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 tại Hoa Kỳ và là nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật kéo dài. Đột quỵ gây ra hơn 157 000 trƣờng hợp tử vong năm 2003 và khoảng 700 000 ngƣời bị đột quỵ lần đầu hay tái phát mỗi năm. Trong đó, khoảng 1/3 bệnh nhân tử vong trong vòng 30 ngày và 1/3 bị tàn tật vĩnh viễn. Tần suất đột quỵ chiếm khoảng 2% tại châu Âu và Hoa Kỳ.
Nó gây ra gánh nặng kinh tế mỗi năm hơn 50 tỷ USD tại Hoa Kỳ và hơn 3 tỷ USD tại Canada [15], [58], [80]. Đột quỵ nhồi máu não chiếm hơn 80%, xuất huyết não chiếm khoảng 20%. Khoảng 20 – 30% đột quỵ là do hẹp động mạch cảnh ngoài sọ, trong khi đó hẹp động mạch nội sọ chỉ chiếm khoảng 5 – 10% đột quỵ. Trong những bệnh nhân nhồi máu não lỗ khuyết, tỷ lệ bệnh động mạch cảnh ngoài sọ (hẹp >50%) chiếm khoảng 10%, trong những bệnh nhân nhồi máu bán cầu (không lỗ khuyết), 41% có bệnh động mạch cảnh cùng bên [48].
Điều trị bệnh lý hẹp động mạch cảnh bao gồm 3 phƣơng pháp: điều trị nội khoa, phẫu thuật bóc tách lớp nội mạc động mạch cảnh, đặt stent động mạch cảnh. Trong đó, điều trị nội khoa có kết quả không cao với tỷ lệ đột quỵ là 26% sau 2 năm theo dõi trong nghiên cứu NASCET [37]; 16,8% sau 3 năm theo dõi trong nghiên cứu ECST [139]. Cho đến nay, phẫu thuật bóc tách lớp nội mạc động mạch cảnh vẫn là tiêu chuẩn vàng trong điều trị hẹp động mạch cảnh. Tuy nhiên, phẫu thuật bóc tách lớp nội mạc động mạch cảnh có bất lợi là có thể gây liệt thần kinh sọ và các biến chứng của cuộc mổ.
Ngoài ra, phẫu thuật bóc tách lớp nội mạc động mạch cảnh còn có thể gây ra các biến chứng nội khoa nhƣ nhồi máu cơ tim và không phải tất cả các bệnh nhân đều phù hợp với phẫu thuật. 2 Trong 2 thập niên qua, với sự tiến bộ mạnh mẽ của các kỹ thuật nội mạch bắt đầu với nong bóng động mạch cảnh (1980) rồi sau đó đặt stent động mạch cảnh kết hợp với các dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc, đặt stent động mạch cảnh đã đƣợc chấp nhận rộng rãi. Qua một loạt các nghiên cứu nhƣ CAVATAS (Carotid And Vertebral Artery Transluminal Angioplasty Study), SAPPHIRE [144] (Stenting and Angioplasty with Protection of Patients with High Risk for Endarterectomy), CASES – PMS [118] (Carotid Artery Stenting with Emboli Protection Surveillance Study). đặt stent động mạch cảnh đã đƣợc FDA (Cơ Quan Quản Lý Thuốc và Thực Phẩm Mỹ) chấp thuận nhƣ là một phƣơng pháp điều trị thay thế cho phẫu thuật bóc tách lớp nội mạc động mạch cảnh trong một số tình huống lâm sàng.
Tại Việt Nam, điều trị bệnh lý hẹp động mạch cảnh vẫn còn là một vấn đề chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Điều trị nội khoa cho hiệu quả không cao. Phẫu thuật bóc tách lớp nội mạc động mạch cảnh rất ít đƣợc thực hiện và chƣa có một nghiên cứu lớn nào. Đặt stent động mạch cảnh vẫn chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi và chƣa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này.
Tại khoa Tim Mạch Can Thiệp BV. Chợ Rẫy, từ năm 2003 đến năm 2010, chúng tôi đã thực hiện hơn 30 trƣờng hợp đặt stent động mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ với kết quả rất khả quan, tỷ lệ các biến cố chính (tử vong, nhồi máu cơ tim, đột quỵ trong vòng 30 ngày và đột quỵ cùng bên sau 30 ngày đến 1 năm) là 3,3%. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng phương pháp can thiệp qua da” tại Bệnh viện Chợ Rẫy nhằm mục tiêu sau: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tổn thương động mạch cảnh ở bệnh nhân hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ.
Đánh giá kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng phương pháp đặt Stent qua da. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. BỆNH LÝ HẸP ĐỘNG MẠCH CẢNH 1. Giải phẫu động mạch cảnh 1.
Cung động mạch chủ lên Bình thƣờng, động mạch thân cánh tay đầu, động mạch cảnh chung, động mạch dƣới đòn trái xuất phát từ mặt trên của cung động mạch chủ [34], [130]. ĐM cảnh P ĐM cảnh T ĐM đốt sống P ĐM đốt sống T ĐM dƣới đòn T ĐM dƣới đòn P ĐM thân cánh tay đầu Hình 1. Cung động mạch chủ lên “Nguồn: Cho L, Mukherjee D, 2006” [34] 1. Hệ thống động mạch cảnh ngoài sọ Động mạch cảnh chung Trên đa số bệnh nhân, động mạch cảnh chung trái xuất phát từ cung động mạch chủ, động mạch cảnh chung phải bắt nguồn từ động mạch thân cánh tay đầu.
Hai động mạch cảnh chung thƣờng chia đôi thành động mạch cảnh ngoài và cảnh trong tại bờ trên sụn giáp, ở khoảng liên đốt sống C4-5. 4 Động mạch cảnh ngoài Động mạch cảnh ngoài có 8 nhánh: giáp trên, hầu lên, lƣỡi, chẩm, mặt, tai sau, thái dƣơng nông, hàm trên trong, chủ yếu cung cấp máu cho phần bên ngoài của đầu. Thái dƣơng nông Tai sau Hàm trên trong ĐM cảnh ngoài Mặt Chẩm ĐM cảnh Lƣỡi trong Hầu lên Giáp lên ĐM cảnh chung Hình 1. Động mạch cảnh ngoài và các nhánh của nó “Nguồn: Thosapolt Limpijankit, 2008” [130] Động mạch cảnh trong Bình thƣờng, gốc động mạch cảnh dãn khoảng 2cm là nơi chứa xoang cảnh.
Động mạch cảnh trong cung cấp máu cho bán cầu não, mắt cùng bên, một phần trán và mũi [34], [130]. Động mạch cảnh trong chia thành 4 đoạn: 1. Đoạn cổ (hay trƣớc xƣơng đá): từ chỗ chia đôi động mạch cảnh chung đến xƣơng đá, không chia nhánh. Đoạn xƣơng đá: có dạng hình chữ L (xoay 900), đi qua xƣơng đá và không chia nhánh.
Đoạn xoang hang: đi qua xoang hang và cho nhánh màng não tuyến yên, động mạch xoang hang dƣới. Đoạn trên sàng hay dƣới nhện: đoạn này cho nhánh động mạch mắt và trên tuyến yên, thông sau, nhánh màng mạch trên và kết thúc bằng động mạch não giữa và não trƣớc. 5 ĐM não trƣớc Đoạn trên sàng Đm não giữa Đm não sau Đoạn xoang hang Đoạn xƣơng đá Đoạn cổ ĐM cảnh trong ĐM cảnh ngoài Hình 1. Động mạch cảnh trong “Nguồn: Thosapolt Limpijankit, 2008” [130] 1.
Dịch tễ học bệnh động mạch cảnh đoạn ngoài sọ và đột quỵ Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 tại Hoa Kỳ và là nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật kéo dài. Đột quỵ gây ra hơn 157 000 ca tử vong năm 2003 và khoảng 700 000 ngƣời bị đột quỵ lần đầu hay tái phát mỗi năm. Trong đó, khoảng 1/3 bệnh nhân tử vong trong vòng 30 ngày và 1/3 bị tàn tật vĩnh viễn. Đột quỵ gây ra gánh nặng kinh tế mỗi năm hơn 50 tỷ USD tại Hoa Kỳ và hơn 3 tỷ USD tại Canada [15], [80].
Trong đó, đột quỵ thiếu máu não cục bộ chiếm hơn 80%, đột quỵ xuất huyết não chiếm khoảng 20%. Khoảng 20-30% đột quỵ là do hẹp động mạch cảnh ngoài sọ, trong khi đó hẹp động mạch nội sọ chỉ chiếm khoảng 5-10% đột quỵ. Trong những bệnh nhân nhồi máu não lỗ khuyết, tỷ lệ bệnh động mạch cảnh ngoài sọ (hẹp >50%) chiếm khoảng 10%; trong những bệnh nhân nhồi máu bán cầu (không lỗ khuyết), 41% có bệnh động mạch cảnh cùng bên [48]. Yếu tố nguy cơ Động mạch cảnh có cấu trúc gồm 3 lớp nội mạc, trung mạc, ngoại mạc tƣơng tự nhƣ động mạch vành.
Vì vậy, bệnh lý xơ vữa của hẹp động mạch cảnh rất tƣơng tự bệnh lý xơ vữa của bệnh động mạch vành. Mảng xơ vữa thƣờng tích tụ tại những vị trí có dòng chảy xoáy nhƣ chỗ chia đôi. Nghiên cứu những chất thu đƣợc tại những dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc xa sau đặt stent động mạch cảnh cho thấy có những mảnh thuyên tắc nhỏ từ chỗ hẹp động mạch cảnh chứa các không bào lipid, fibrin, tiểu cầu và tế bào bọt. Do diễn tiến bệnh tƣơng tự nên những bệnh nhân bệnh mạch vành cũng có thể có hẹp nặng động mạch cảnh đi kèm [14], [15], [67].
Tuy nhiên, chỉ 5 – 10% bệnh nhân bệnh mạch vành có hẹp nặng động mạch cảnh. Có một số yếu tố liên quan đến sự phát triển xơ vữa động mạch cảnh và các biến chứng lâm sàng của nó. Tỷ lệ đột quỵ gia tăng dạng bậc thang theo tuổi. Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ đột quỵ tƣơng ứng với mức độ sử dụng.
Nguy cơ đột quỵ tăng gấp đôi ở những ngƣời hút thuốc lá nhiều so với những ngƣời hút thuốc lá ít, giảm rõ rệt trong vòng 2 năm ngƣng thuốc lá và trở về mức cơ bản sau 5 năm. Tăng huyết áp, đái tháo đƣờng, hội chứng chuyển hóa, nam giới, tăng cholesterol máu là những yếu tố nguy cơ làm tăng bệnh động mạch cảnh. Diễn tiến tự nhiên Diễn tiến của bệnh lý xơ vữa động mạch cảnh tƣơng tự nhƣ các giƣờng động mạch khác nhƣng mối liên quan giữa sự tiến triển của mảng xơ vữa và hẹp động mạch cảnh với đột quỵ và cơn thiếu máu não thoáng qua rất phức tạp [25]. Dấu chứng lâm sàng của xơ vữa động mạch cảnh là âm thổi động mạch cảnh.
Mặc dù âm thổi động mạch cảnh không phải là yếu tố tiên đoán hẹp nặng động mạch cảnh, nhƣng xuất hiện âm thổi làm tăng nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim và tử vong. Một khi tổn thƣơng xơ vữa động mạch cảnh 7 hình thành thì mức độ hẹp và triệu chứng đi kèm của nó là một yếu tố đặc hiệu hơn để tiên lƣợng nguy cơ đột quỵ. Nếu hẹp 60% động mạch cảnh không triệu chứng thì nguy cơ đột quỵ hàng năm là 2,1%. Nếu có thêm các triệu chứng nhƣ cơn thoáng thiếu máu não, nguy cơ đột quỵ (ngay cả hẹp trung bình động mạch cảnh) tăng cao và tăng dạng bậc thang với mức độ hẹp động mạch cảnh [15], [70], [147].
Sau khi có một cơn thoáng thiếu máu não, nguy cơ đột quỵ là 40% trong nghiên cứu Framingham và 2/3 trƣờng hợp xảy ra trong vòng 6 tháng sau cơn thoáng thiếu máu não. Trong nghiên cứu NASCET (North American Symptomatic Carotid Endarterectomy Trial), nguy cơ đột quỵ cùng bên sau 5 năm theo dõi trên những bệnh nhân hẹp động mạch cảnh có triệu chứng điều trị nội khoa là 18,7% nếu hẹp ≤ 50%, là 22,2% nếu hẹp 50-69% [18]; nguy cơ đột quỵ cùng bên sau 2 năm theo dõi trên những bệnh nhân hẹp nặng (70 – 99%) động mạch cảnh có triệu chứng là 26% [37]. Có mối tƣơng quan rõ rệt giữa mức độ hẹp và nguy cơ tử vong với nguy cơ tử vong tƣơng đối khi hẹp < 45% là 1,32; hẹp 45 – 74% là 2,22%; hẹp 75 – 99% là 3,24 [18].