Tổng quan luận án
Đột quỵ não là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, đứng hàng thứ ba tại Hoa Kỳ và là căn nguyên chủ yếu dẫn đến tình trạng tàn tật kéo dài ở người trưởng thành. Theo các số liệu dịch tễ học được tổng hợp trong luận án, đột quỵ gây ra hơn 157.000 trường hợp tử vong vào năm 2003 và khoảng 700.000 người bị đột quỵ lần đầu hoặc tái phát mỗi năm tại Hoa Kỳ; khoảng một phần ba bệnh nhân tử vong trong vòng 30 ngày và một phần ba chịu di chứng tàn tật vĩnh viễn. Đột quỵ nhồi máu não chiếm hơn 80% tổng số ca bệnh, trong đó có khoảng 20% đến 30% trường hợp bắt nguồn từ bệnh lý hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ. Trong nhóm bệnh nhân nhồi máu não lỗ khuyết, tỷ lệ hẹp động mạch cảnh ngoài sọ trên 50% chiếm khoảng 10%, còn ở nhóm bệnh nhân nhồi máu bán cầu không lỗ khuyết, có tới 41% trường hợp phát hiện tổn thương động mạch cảnh cùng bên.
Về phương diện can thiệp điều trị, bệnh lý hẹp động mạch cảnh bao gồm ba phương pháp chính: điều trị nội khoa tối ưu, phẫu thuật bóc tách lớp nội mạc động mạch cảnh (Carotid Endarterectomy - CEA) và đặt stent động mạch cảnh qua da (Carotid Artery Stenting - CAS). Các nghiên cứu đa trung tâm kinh điển như NASCET và ECST đã chỉ ra rằng điều trị nội khoa đơn thuần đem lại kết quả hạn chế đối với các tổn thương hẹp nặng có triệu chứng (tỷ lệ đột quỵ sau 2 năm trong nghiên cứu NASCET lên tới 26% và sau 3 năm trong nghiên cứu ECST là 16,8%). Mặc dù phẫu thuật CEA được coi là tiêu chuẩn vàng truyền thống, kỹ thuật này tồn tại những hạn chế nhất định như nguy cơ liệt các dây thần kinh sọ, biến chứng vết mổ vùng cổ, nhồi máu cơ tim chu phẫu và khó thực hiện ở những bệnh nhân có tổn thương giải phẫu phức tạp hoặc có nhiều bệnh lý nội khoa kết hợp. Sự phát triển của kỹ thuật can thiệp nội mạch với sự hỗ trợ của các dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc xa (Embolic Protection Devices - EPD) đã đưa đặt stent động mạch cảnh trở thành phương pháp tái thông mạch máu ít xâm lấn, được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận cho nhiều nhóm bệnh nhân, đặc biệt là nhóm có nguy cơ cao khi phẫu thuật mở.
Tại Việt Nam, bệnh lý hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ chưa được quan tâm và tầm soát đầy đủ; phẫu thuật CEA ít được tiến hành đại trà và còn thiếu các nghiên cứu quy mô lớn; kỹ thuật can thiệp đặt stent động mạch cảnh qua da cũng mới chỉ được triển khai tại một số trung tâm tim mạch can thiệp chuyên sâu. Xuất phát từ thực tiễn lâm sàng tại Khoa Tim Mạch Can Thiệp - Bệnh viện Chợ Rẫy (nơi đã bước đầu thực hiện trên 30 ca đặt stent động mạch cảnh ngoài sọ giai đoạn 2003–2010 với tỷ lệ biến cố chính chu phẫu và sau 1 năm đạt 3,3%), nghiên cứu sinh Trần Nguyễn Phương Hải đã thực hiện luận án tiến sĩ y học với đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng phương pháp can thiệp qua da" dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Võ Thành Nhân, bảo vệ tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 vào năm 2018.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nội dung:
- Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tổn thương động mạch cảnh ở bệnh nhân hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ.
- Đánh giá kết quả điều trị hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng phương pháp đặt Stent qua da.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán hẹp động mạch cảnh đoạn ngoài sọ, được thăm khám lâm sàng, đánh giá cận lâm sàng và thực hiện can thiệp đặt stent hoặc điều trị nội khoa theo dõi tại Khoa Tim Mạch Can Thiệp, Bệnh viện Chợ Rẫy.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống các cơ sở giải phẫu học, sinh lý bệnh, các công cụ chẩn đoán hình ảnh và các thử nghiệm lâm sàng đối chứng lớn trên thế giới cũng như tại Việt Nam liên quan đến bệnh lý hẹp động mạch cảnh ngoài sọ:
Các nghiên cứu quốc tế về điều trị nội khoa và phẫu thuật bóc tách nội mạc (CEA)
- Nghiên cứu điều trị nội khoa: Phân tích gộp của Antithrombotic Trialists' Collaboration trên 200.000 bệnh nhân thuộc 287 nghiên cứu ngẫu nhiên khẳng định vai trò của aspirin (liều 75–1500 mg/ngày) trong giảm biến cố mạch máu. Các thử nghiệm MATCH (7.599 bệnh nhân) và CHARISMA (15.603 bệnh nhân) chứng minh rằng điều trị kháng tiểu cầu kép kéo dài không đem lại lợi ích vượt trội so với đơn trị liệu ở bệnh nhân bệnh mạch máu não mạn tính nhưng lại làm tăng nguy cơ xuất huyết nặng. Các thử nghiệm kháng đông như SPIRIT, WARSS và WASID cho thấy warfarin không vượt trội hơn aspirin trong phòng ngừa đột quỵ không do thuyên tắc từ tim mà còn làm tăng tỷ lệ xuất huyết nội sọ và tử vong. Ngược lại, điều trị statin qua các nghiên cứu phân tích gộp của Cheung, Briel và thử nghiệm CAIUS (Pravastatin) cho thấy khả năng làm chậm tiến triển và làm thoái triển bề dày lớp nội - trung mạc (IMT).
- Thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh CEA và điều trị nội khoa: Nghiên cứu NASCET (theo dõi hẹp 70–99% có triệu chứng) cho thấy CEA giảm tỷ lệ đột quỵ cùng bên từ 26% xuống 9% sau 2 năm; ECST (2.518 bệnh nhân) ghi nhận tỷ lệ đột quỵ cùng bên sau 3 năm ở nhóm CEA là 2,8% so với 16,8% ở nhóm nội khoa. Ở nhóm không triệu chứng, các nghiên cứu ACAS và ACST chứng minh CEA giảm tỷ lệ đột quỵ 5 năm có ý nghĩa thống kê so với điều trị nội thuần túy (ACAS: 5,1% so với 11,0%).
Các nghiên cứu quốc tế về đặt stent động mạch cảnh (CAS)
- Kinh nghiệm sơ bộ: Từ kỹ thuật nong bóng qua da đầu tiên của Mullan và Kerber (1980), can thiệp nội mạch chuyển sang đặt stent tự nở kết hợp dụng cụ lọc bảo vệ thuyên tắc qua các báo cáo của Mark, Mathias, Diethrich (117 ca), Yadav (126 ca), Wholey (12.254 ca), Shawl (192 ca), Gupta (100 ca), Reimers (88 ca), Roubin (604 ca) với tỷ lệ thành công kỹ thuật chung đạt 99,2% và tỷ lệ đột quỵ chu phẫu 30 ngày ở mức 3,4%.
- Thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh CAS và CEA:
- Thử nghiệm SAPPHIRE (Yadav và cs, 2004) trên 334 bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật cao chứng minh CAS không thua kém CEA về tiêu chí gộp chính (tử vong, đột quỵ, nhồi máu cơ tim trong 30 ngày hoặc đột quỵ cùng bên từ 31 ngày đến 1 năm: CAS 12,2% so với CEA 20,1%, p=0,004).
- Thử nghiệm CREST (White và cs, 2014) trên 2.502 bệnh nhân (1.321 ca có triệu chứng) có nguy cơ phẫu thuật trung bình - thấp ghi nhận kết quả tương đương giữa CAS và CEA về tiêu chí chính sau 4 năm theo dõi (CAS: 8,6 ± 1,1% so với CEA: 8,4 ± 1,2%).
- Các thử nghiệm SPACE, EVA-3S và ICSS phản ánh vai trò cốt lõi của kinh nghiệm can thiệp và sự bắt buộc phải sử dụng dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc xa (EPD) để đảm bảo tính an toàn.
Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các công trình được công bố còn tương đối hạn chế:
- Lương Ngọc Trung và cộng sự (2011) báo cáo 2 trường hợp CEA tại Bệnh viện Tim Tâm Đức.
- Nguyễn Đức Hoàng và cộng sự (2015) công bố kết quả phẫu thuật CEA trên 59 bệnh nhân với tỷ lệ tử vong chu phẫu 30 ngày là 4,61%.
- Trương Khánh Hà và cộng sự (2016) báo cáo tại Bệnh viện Hữu Nghị về kết quả can thiệp đặt stent động mạch cảnh với tỷ lệ đột quỵ sau 12 tháng là 4,54%.
Vị trí của luận án: Công trình của tác giả Trần Nguyễn Phương Hải đại diện cho một nghiên cứu có hệ thống tại trung tâm can thiệp tim mạch lớn phía Nam (Bệnh viện Chợ Rẫy), đánh giá toàn diện các biến số lâm sàng, hình ảnh học đối chiếu giữa siêu âm Doppler và chụp mạch DSA, đồng thời cung cấp các chỉ số an toàn và kết quả theo dõi 1 năm của can thiệp CAS so sánh với điều trị nội khoa tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng các kiến thức chuẩn mực về giải phẫu hệ động mạch cảnh đoạn ngoài sọ, bao gồm nguyên ủy thân cánh tay đầu, động mạch cảnh chung (CCA), sự chia đôi tại bờ trên sụn giáp (ngang đốt sống C4–C5) thành động mạch cảnh ngoài (ECA với 8 nhánh bên) và động mạch cảnh trong (ICA gồm 4 đoạn: đoạn cổ, đoạn xương đá, đoạn xoang hang và đoạn trên sàng/dưới nhện).
Hệ động mạch cảnh ngoài sọ:
- Động mạch cảnh chung (CCA)
Cơ chế bệnh sinh được xác định là quá trình xơ vữa mạch máu tích tụ tại các vị trí dòng chảy xoáy (vùng chia đôi xoang cảnh), hình thành mảng xơ vữa chứa không bào lipid, fibrin, tiểu cầu và tế bào bọt, gây hẹp lòng mạch hoặc nứt vỡ tạo huyết khối thuyên tắc mạch máu não.
Luận án sử dụng các quy chuẩn đo đạc mức độ hẹp lòng mạch trên chẩn đoán hình ảnh:
- Phương pháp NASCET: Đo đường kính lòng mạch tại vị trí hẹp nhất chia cho đường kính đoạn xa bình thường của động mạch cảnh trong.
- Phương pháp ECST: Đo đường kính vị trí hẹp nhất chia cho đường kính ngoài ước tính của mạch máu tại chính vị trí hẹp.
- Phương pháp CC: Đo đường kính vị trí hẹp nhất so với đường kính động mạch cảnh chung.
| Mức độ hẹp theo NASCET (%) |
Tương đương theo ECST (%) |
Tương đương theo CC (%) |
| 30% |
65% |
65% |
| 50% |
75% |
75% |
| 60% |
80% |
80% |
| 70% |
85% |
85% |
| 80% |
91% |
91% |
| 90% |
97% |
97% |
Tiêu chuẩn siêu âm Doppler mạch máu được chuẩn hóa nhằm đánh giá vận tốc đỉnh tâm thu (PSV) của ICA, vận tốc cuối tâm trương (EDV) của ICA và tỷ số PSV ICA/CCA:
| Mức độ hẹp (%) |
PSV của ICA (cm/s) |
Mức độ của mảng (%) |
Tỷ số PSV của ICA/CCA |
EDV của ICA (cm/s) |
| Bình thường |
< 125 |
Không có |
< 2 |
< 40 |
| < 50% |
< 125 |
< 50 |
< 2 |
< 40 |
| 50 – 69% |
125 – 230 |
$\ge$ 50 |
2 – 4 |
40 – 100 |
| 70% – gần tắc |
> 230 |
$\ge$ 50 |
> 4 |
> 100 |
| Gần tắc hoàn toàn |
Biến đổi |
Thấy rõ |
Biến đổi |
Biến đổi |
| Tắc hoàn toàn |
Không phát hiện |
Lấp đầy lòng mạch |
Không áp dụng |
Không áp dụng |
Phân tầng nguy cơ cao đối với phẫu thuật CEA dựa trên hai nhóm tiêu chuẩn:
- Yếu tố nội khoa: Tuổi cao (>75 hoặc >80), suy tim NYHA III/IV, đau thắt ngực CCS III/IV, bệnh mạch vành $\ge$ 2 nhánh hẹp $\ge$ 70%, nhồi máu cơ tim trong vòng 30 ngày, phân suất tống máu EF $\le$ 30%, bệnh phổi nặng, suy thận nặng.
- Yếu tố giải phẫu: Tổn thương cao ngang hoặc trên mức đốt sống C2, tổn thương thấp dưới xương đòn, tiền sử xạ trị vùng cổ, cổ bất động, tắc hoàn toàn động mạch cảnh đối bên, liệt thanh quản, đã phẫu thuật mở khí quản hoặc đã mổ CEA/vùng cổ trước đó.
Phân loại lâm sàng thần kinh sử dụng thang điểm Rankin đánh giá mức độ tàn phế và định nghĩa nhóm bệnh nhân:
- Nhóm có triệu chứng: Bệnh nhân có tiền sử đột quỵ nhồi máu não, cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) hoặc mù thoáng qua cùng bên tổn thương trong vòng 180 ngày.
- Nhóm không có triệu chứng: Hẹp động mạch cảnh phát hiện qua tầm soát hoặc triệu chứng đã xảy ra trên 180 ngày.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng mô tả, tiến cứu có theo dõi dọc và so sánh kết quả điều trị.
- Kỹ thuật can thiệp CAS: Tiếp cận qua đường động mạch đùi với ống mở đường vào lòng mạch (sheath) kích thước 6–8 Fr; kiểm soát đông máu trong thủ thuật bằng heparin không phân đoạn nhằm duy trì thời gian đông máu hoạt hóa (ACT) từ 250 đến 300 giây; luồn ống thông chụp chọn lọc động mạch cảnh chung; sử dụng dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc đoạn xa (FilterWire EZ hoặc các loại tương đương); tiến hành nong bóng trước nếu cần, đặt stent tự nở (Nitinol hoặc Elgiloy như Carotid Wallstent) và nong bóng định cỡ sau đặt stent; thu hồi dụng cụ lọc; đóng đường vào mạch máu bằng dụng cụ đóng chuyên dụng. Bệnh nhân được duy trì phác đồ kháng kết tập tiểu cầu kép gồm Aspirin (uống liên tục suốt đời) và Clopidogrel 75 mg/ngày (ít nhất 1 tháng sau thủ thuật).
- Thu thập và xử lý số liệu: Thu thập theo bệnh án nghiên cứu mẫu thống nhất, đánh giá các biến cố chính chu phẫu trong 30 ngày (tử vong, đột quỵ, nhồi máu cơ tim) và biến cố theo dõi đến 1 năm (đột quỵ cùng bên, tỷ lệ tái hẹp trong stent đánh giá qua siêu âm Doppler, tử vong do mọi nguyên nhân). Số liệu được phân tích bằng các phần mềm thống kê y học chuyên dụng.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề và Mục tiêu nghiên cứu
Phần mở đầu xác lập cơ sở dịch tễ học của đột quỵ não và tỷ lệ hẹp động mạch cảnh ngoài sọ; phân tích những ưu điểm và hạn chế của ba phương pháp điều trị (nội khoa, CEA, CAS); nêu rõ tính cấp thiết của việc đánh giá can thiệp đặt stent động mạch cảnh qua da tại Việt Nam và đưa ra hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này trình bày chi tiết bốn mảng kiến thức lớn:
- Bệnh học động mạch cảnh: Giải phẫu cung động mạch chủ, hệ động mạch cảnh chung, cảnh ngoài, cảnh trong; diễn tiến tự nhiên của mảng xơ vữa từ giai đoạn âm thổi cảnh đến các cơn TIA, khiếm khuyết thần kinh phục hồi (RIND) và đột quỵ thực sự; các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển (tuổi, thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu).
- Các phương pháp chẩn đoán: So sánh giá trị của siêu âm Doppler mạch máu (đo IMT, PSV, EDV), cộng hưởng từ mạch máu (MRA với kỹ thuật 2D/3D TOF và MRA tiêm tương phản 3 chiều), chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT/CTA) và chụp mạch số hóa xóa nền (DSA - tiêu chuẩn vàng xác định hình thái giải phẫu, mức độ hẹp và tuần hoàn bàng hệ nội sọ).
- Các phương pháp điều trị: Tổng kết các thử nghiệm lâm sàng về thuốc kháng kết tập tiểu cầu (Aspirin, Clopidogrel, Ticlopidine qua nghiên cứu MATCH, CHARISMA), thuốc kháng đông (Warfarin qua nghiên cứu SPIRIT, WARSS, WASID), thuốc hạ lipid nhóm Statin (thử nghiệm CAIUS, các phân tích gộp); chỉ định, kỹ thuật và kết quả của phẫu thuật CEA (thử nghiệm NASCET, ECST, ACAS, ACST).
- Kỹ thuật đặt stent động mạch cảnh (CAS): Chỉ định theo khuyến cáo của AHA/ASA và các hiệp hội chuyên khoa năm 2011; phân tích các yếu tố nguy cơ làm tăng độ khó thủ thuật (quai động mạch chủ týp III, mạch máu xoắn vặn, vôi hóa nặng); dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc và các thử nghiệm lâm sàng so sánh CAS với CEA (SAPPHIRE, CREST, CAVATAS, CASES-PMS, SPACE, EVA-3S, ICSS).
Khuyến cáo can thiệp đặt stent động mạch cảnh (CAS) theo AHA/ASA và Đồng thuận đa hội:
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết:
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân (hẹp động mạch cảnh trong đoạn ngoài sọ có hoặc không có triệu chứng, có chỉ định can thiệp hoặc điều trị nội khoa) và tiêu chuẩn loại trừ (không đồng ý tham gia, chống chỉ định dùng thuốc cản quang hoặc thuốc chống đông/kháng tiểu cầu, tổn thương giải phẫu không thể can thiệp).
- Địa điểm và thời gian tiến hành tại Khoa Tim Mạch Can Thiệp, Bệnh viện Chợ Rẫy.
- Quy trình can thiệp CAS từng bước (chuẩn bị trước thủ thuật, kỹ thuật luồn ống thông, đo đạc tổn thương trên DSA, thả dụng cụ lọc EPD, định vị và bung stent tự nở, nong bóng tối ưu, kiểm tra mạch máu nội sọ, đóng đường vào động mạch đùi).
- Các tiêu chuẩn đánh giá kết cục: Tỷ lệ thành công kỹ thuật, biến cố tim mạch và mạch máu não chính chu phẫu trong 30 ngày (tử vong, nhồi máu cơ tim, đột quỵ thiếu sót thần kinh nặng/nhẹ) và theo dõi trung hạn sau 1 năm (tử vong, đột quỵ tái phát cùng bên, tỷ lệ tái hẹp trong stent xác định bằng siêu âm Doppler theo tiêu chuẩn vận tốc dòng chảy).
- Quy trình xử lý số liệu thống kê y học và cam kết tuân thủ đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 3 được cấu trúc theo các phần số liệu thực nghiệm:
- Đặc điểm chung và lâm sàng: Phân bố nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo tuổi, giới tính, tỷ lệ người cao tuổi; phân bố các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp (tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tiền căn hút thuốc lá); tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng (TIA, đột quỵ cũ, mù thoáng qua) so với nhóm không triệu chứng; phân bố mức độ tàn phế trước can thiệp theo thang điểm Rankin; tỷ lệ bệnh mạch vành và các bệnh lý nội khoa kết hợp.
- Đặc điểm cận lâm sàng và hình ảnh học tổn thương: Tỷ lệ các yếu tố nguy cơ phẫu thuật cao về mặt giải phẫu và nội khoa; mức độ hẹp động mạch cảnh trên siêu âm Doppler màu; vị trí tổn thương (đoạn gốc ICA, thân ICA, CCA), mức độ hẹp, chiều dài và đường kính tổn thương đo đạc trên chụp mạch DSA; phân tích đối chiếu, so sánh độ nhạy và giá trị chẩn đoán mức độ hẹp giữa siêu âm Doppler và chụp DSA.
- Kết quả thủ thuật và tính an toàn của CAS: Tỷ lệ thành công kỹ thuật đặt stent; đặc điểm trang thiết bị sử dụng (loại stent tự nở Elgiloy/Nitinol, kích thước stent, đường kính ống thông, loại dụng cụ bảo vệ thuyên tắc EPD); chiều dài đoạn đặt stent và đường kính lòng mạch tái lập sau can thiệp; các biến cố trong và ngay sau thủ thuật (tụt huyết áp, chậm nhịp tim do kích thích xoang cảnh, co thắt mạch máu).
- Theo dõi kết cục lâm sàng: Tỷ lệ biến cố chính chu phẫu trong vòng 30 ngày (tử vong, đột quỵ, nhồi máu cơ tim); tỷ lệ biến cố sau 1 năm theo dõi; tỷ lệ tái hẹp trong stent xác định trên siêu âm Doppler sau 1 năm; so sánh biến cố can thiệp giữa phân nhóm bệnh nhân có triệu chứng và không có triệu chứng; so sánh biến cố tim mạch và thần kinh sau 1 năm giữa nhóm được can thiệp đặt stent và nhóm điều trị nội khoa đơn thuần (phân tích theo các mức độ hẹp).
Chương 4: Bàn luận
Tác giả thảo luận và biện luận chuyên sâu các kết quả thu được:
- Phân tích cơ cấu bệnh nhân, sự tương đồng về yếu tố nguy cơ tim mạch và bệnh lý mạch vành đi kèm so với các y văn quốc tế.
- Bàn luận về tính chính xác của siêu âm Doppler trong thực hành lâm sàng đối chiếu với tiêu chuẩn vàng DSA, nhấn mạnh các thông số vận tốc PSV, EDV và tỷ số ICA/CCA.
- Đánh giá tính khả thi và tỷ lệ thành công của kỹ thuật can thiệp nội mạch CAS tại Bệnh viện Chợ Rẫy; so sánh tỷ lệ biến cố chu phẫu 30 ngày và biến cố sau 1 năm với các thử nghiệm quốc tế lớn như SAPPHIRE, CREST, CASES-PMS, CABANA, Joanna, Kosowski.
- Phân tích sự khác biệt về biến cố can thiệp giữa nhóm bệnh nhân có triệu chứng và nhóm không triệu chứng, khẳng định vai trò của việc sử dụng thường quy dụng cụ bảo vệ thuyên tắc EPD nhằm hạn chế tổn thương não chu phẫu.
- So sánh lợi ích vượt trội trong giảm biến cố mạch máu não sau 1 năm của nhóm đặt stent so với nhóm điều trị nội khoa thuần túy.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn
- Luận án cung cấp bộ số liệu lâm sàng, cận lâm sàng và đặc điểm hình thái tổn thương xơ vữa động mạch cảnh đoạn ngoài sọ trên quần thể bệnh nhân Việt Nam điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
- Xác lập và chứng minh giá trị đối chiếu giữa siêu âm Doppler mạch máu với chụp mạch DSA theo tiêu chuẩn NASCET trong điều kiện thực hành lâm sàng tại Việt Nam, làm cơ sở cho việc chỉ định can thiệp không xâm lấn bước đầu.
- Đánh giá có hệ thống quy trình kỹ thuật can thiệp đặt stent động mạch cảnh qua da sử dụng stent tự nở kết hợp dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc xa (EPD), chứng minh tỷ lệ thành công kỹ thuật cao và tính an toàn tương đương với các nghiên cứu đa trung tâm trên thế giới (như SAPPHIRE, CREST).
- Cung cấp bằng chứng theo dõi trung hạn 1 năm về tỷ lệ biến cố tim mạch chính, đột quỵ tái phát và tỷ lệ tái hẹp trong stent, làm rõ sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh nhân có triệu chứng và không có triệu chứng, cũng như khẳng định hiệu quả giảm biến cố đột quỵ của CAS so với điều trị nội khoa đơn độc.
Kiến nghị và đề xuất
- Đề xuất tăng cường tầm soát phát hiện sớm hẹp động mạch cảnh ngoài sọ bằng siêu âm Doppler trên các đối tượng có nguy cơ tim mạch cao (bệnh nhân bệnh mạch vành, người cao tuổi, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu hoặc có âm thổi vùng cổ).
- Khuyến nghị áp dụng rộng rãi phương pháp can thiệp đặt stent động mạch cảnh qua da có sử dụng dụng cụ bảo vệ thuyên tắc tại các trung tâm tim mạch can thiệp có đủ trang thiết bị và thủ thuật viên được đào tạo chuyên sâu, ưu tiên cho nhóm bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật mở cao hoặc tổn thương giải phẫu vùng cổ phức tạp.
- Tiếp tục duy trì phác đồ điều trị nội khoa tối ưu kết hợp kháng kết tập tiểu cầu và statin liều cao trước, trong và sau can thiệp để ngăn ngừa tái hẹp và biến cố xơ vữa toàn thân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được triển khai tại một trung tâm can thiệp duy nhất (Bệnh viện Chợ Rẫy), số lượng bệnh nhân còn giới hạn ở quy mô luận án đơn trung tâm và thời gian theo dõi kết cục lâm sàng dừng lại ở mốc 1 năm, chưa phản ánh đầy đủ tỷ lệ tái hẹp hoặc độ bền cấu trúc stent ở mốc 5–10 năm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn tại Việt Nam; kéo dài thời gian theo dõi dọc sau can thiệp từ 3 đến 5 năm; tiến hành các nghiên cứu so sánh đối đầu trực tiếp giữa CAS và CEA tại các cơ sở ngoại khoa - can thiệp tim mạch trong nước; đánh giá chi tiết hơn về mặt hiệu quả kinh tế y tế của can thiệp nội mạch so với điều trị nội khoa và phẫu thuật.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị thực tiễn cao đối với:
- Bác sĩ tim mạch can thiệp và điện quang can thiệp thần kinh: Cung cấp quy trình thao tác đặt stent động mạch cảnh từng bước, kỹ thuật sử dụng dụng cụ bảo vệ thuyên tắc EPD, cách lựa chọn kích cỡ stent/bóng nong và xử trí các biến động huyết động (tụt huyết áp, chậm nhịp tim) trong can thiệp.
- Bác sĩ nội thần kinh và nội tim mạch: Cung cấp cơ sở phân tầng nguy cơ bệnh nhân hẹp động mạch cảnh, tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh siêu âm Doppler đối chiếu DSA và phác đồ phối hợp thuốc kháng kết tập tiểu cầu, statin tối ưu.
- Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Nội tim mạch, Tim mạch can thiệp và Ngoại lồng ngực - mạch máu: Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu lâm sàng can thiệp, hệ thống tổng quan tài liệu các thử nghiệm quốc tế kinh điển và các tiêu chí đánh giá biến cố chu phẫu theo chuẩn quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những phương pháp nào để xác định mức độ hẹp động mạch cảnh trên hình ảnh học?
Luận án trình bày ba phương pháp đo đạc mức độ hẹp trên hình ảnh học gồm NASCET (so sánh đường kính lòng mạch tại vị trí hẹp nhất với đoạn xa bình thường của ICA), ECST (so sánh vị trí hẹp nhất với đường kính ngoài ước tính của mạch máu tại chỗ) và CC (so sánh vị trí hẹp nhất với đường kính CCA). Trong đó, NASCET và ECST được sử dụng phổ biến nhất, với sự tương quan tuyến tính (ví dụ hẹp 50% theo NASCET tương đương 75% theo ECST; hẹp 70% theo NASCET tương đương 85% theo ECST).
2. Các tiêu chuẩn xác định bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật CEA cao gồm những yếu tố nào?
Nguy cơ cao phẫu thuật CEA được phân chia thành hai nhóm:
- Bệnh lý nội khoa: Lớn tuổi (>75 hoặc >80 tuổi), suy tim NYHA III/IV, đau thắt ngực CCS III/IV, bệnh mạch vành hẹp $\ge$ 2 nhánh $\ge$ 70%, nhồi máu cơ tim trong vòng 30 ngày, phân suất tống máu EF $\le$ 30%, bệnh phổi nặng hoặc bệnh thận nặng.
- Tiêu chuẩn giải phẫu: Tổn thương hẹp nằm cao ngang hoặc trên mức đốt sống cổ C2, tổn thương thấp dưới xương đòn, tiền sử xạ trị vùng cổ, bất động cột sống cổ, tắc hoàn toàn động mạch cảnh đối bên, liệt dây thanh âm, mở khí quản hoặc đã từng phẫu thuật CEA/vùng cổ trước đó.
3. Phác đồ dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu và kiểm soát đông máu trong can thiệp CAS được quy định ra sao?
Trong quá trình làm thủ thuật can thiệp CAS, bệnh nhân được sử dụng Heparin không phân đoạn đường tĩnh mạch để duy trì thời gian đông máu hoạt hóa (ACT) trong khoảng 250–300 giây. Về điều trị kháng tiểu cầu, bệnh nhân dùng phác đồ kháng tiểu cầu kép gồm Aspirin (duy trì liên tục suốt đời) kết hợp với Clopidogrel (liều 75 mg/ngày trong thời gian tối thiểu 1 tháng sau can thiệp).
4. Dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc xa (EPD) có vai trò gì trong thủ thuật đặt stent động mạch cảnh?
Dụng cụ phòng ngừa thuyên tắc xa (như FilterWire EZ) được luồn qua vị trí tổn thương lên đoạn xa của động mạch cảnh trong trước khi tiến hành nong bóng và đặt stent. Dụng cụ này có vai trò giữ lại các mảnh vụn xơ vữa chứa lipid, fibrin, tiểu cầu và tế bào bọt bong tróc ra trong quá trình thao tác cơ học, ngăn ngừa chúng trôi lên tuần hoàn nội sọ gây tắc mạch não và nhồi máu não chu phẫu. Sau khi hoàn tất đặt stent và nong bóng, dụng cụ lọc cùng các mảnh thuyên tắc được thu hồi ra ngoài an toàn.
5. Khuyến cáo của AHA/ASA và các hiệp hội chuyên khoa chỉ định đặt stent động mạch cảnh cho những đối tượng nào?
Theo khuyến cáo năm 2011, can thiệp CAS được chỉ định:
- Nhóm có triệu chứng, nguy cơ phẫu thuật cao: Hẹp nặng động mạch cảnh (>70%) kèm vị trí giải phẫu khó tiếp cận bằng phẫu thuật hoặc có bệnh nội khoa nặng (Chỉ định Class IIa, Mức chứng cứ B).
- Nhóm có triệu chứng, nguy cơ phẫu thuật trung bình - thấp: Chỉ định thay thế CEA khi hẹp >70% trên hình ảnh không xâm lấn hoặc >50% trên chụp DSA với tỷ lệ biến cố đột quỵ/tử vong chu phẫu dự đoán <6% (Chỉ định Class I, Mức chứng cứ B).
- Nhóm không có triệu chứng, nguy cơ phẫu thuật cao: Cân nhắc tái thông dựa trên tuổi thọ và bệnh lý đi kèm (Chỉ định Class I, Mức chứng cứ C; ưu tiên CAS hơn CEA nếu giải phẫu cổ bất lợi theo Class IIa, Mức chứng cứ B).
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Trần Nguyễn Phương Hải là công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên sâu về đặc điểm bệnh học và kết quả can thiệp đặt stent động mạch cảnh đoạn ngoài sọ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ mối tương quan giữa các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, khẳng định tính an toàn, khả năng thành công kỹ thuật và hiệu quả phòng ngừa đột quỵ trung hạn của phương pháp can thiệp nội mạch có sử dụng dụng cụ bảo vệ thuyên tắc. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc ứng dụng, chuẩn hóa kỹ thuật can thiệp đặt stent động mạch cảnh trong chuyên ngành Nội tim mạch và Tim mạch can thiệp tại Việt Nam.