Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu và sinh lý thực quản 1.1 Giải phẫu Hình 1.1: Giải phẫu học thực quản [30] 1. Động mạch chủ 3-4. Cơ hoành Thực quản (TQ) là đoạn ống cơ có chiều dài khoảng 25-30cm, chạy từ hầu nơi sụn nhẫn ở đốt cổ thứ 6 đến tâm vị với giới hạn trên là viền trong cơ thắt thực quản trên đến viền trên cơ thắt thực quản dưới.
Đường đi và liên quan của thực quản được mô tả theo kinh điển [3], [30]: - Ở cổ, thực quản bắt đầu trên đường giữa nhưng hơi lệch sang trái khi tới lỗ trên của lồng ngực. Khí quản và tuyến giáp nằm ngay trước thực quản, các đốt sống cổ dưới và mặt trước đốt sống ở sau thực quản còn ở hai bên thực quản liên quan với động mạch cảnh chung và thần kinh thanh quản quặt ngược. 4 Bờ trái thực quản còn liên quan động mạch dưới đòn và phần tận cùng của ống ngực. - Phần ngực của thực quản lúc đầu đi qua trung thất trên rồi đi qua trung thất sau, hơi chếch sang trái ở lỗ trên lồng ngực, nó trở lại đường giữa khi ở ngang mức đốt sống ngực 5 rồi từ đây lại tiếp tục đi xuống dưới, ra trước và sang trái để tới lỗ thực quản cơ hoành.
Về liên quan từng phía của TQ ngực được biết theo thứ tự sau: - Ở bụng: dài 2-3cm từ lỗ cơ hoành đến lỗ tâm vị, sau khi đi qua lỗ thực quản của cơ hoành, TQ tới nằm trong rãnh TQ ở mặt sau thùy trái của gan và được phúc mạc che phủ mặt trước và mặt trái. Phía sau TQ là trụ trái cơ hoành. * Phân đoạn - Thực quản cổ: là đoạn đầu của thực quản, xuất phát từ bờ dưới của sụn nhẫn (ngang mức đốt sống cổ C6) đến hõm ức (ngang mức đốt sống ngực T1), cách cung răng trên khoảng 18cm) [3], [30]. - Thực quản ngực: + Đoạn trên: đi từ hõm ức đến carina khí quản (ngang mức đốt sống ngực T5), nằm ở trung thất trên, cách cung răng trên từ 18-23cm.
+ Đoạn giữa: là nửa trên của đoạn thực quản đi từ carina đến đường Z, nằm ở trung thất sau, cách cung răng trên từ 24-32cm. + Đoạn dưới: là nửa dưới của đoạn thực quản từ carina đến đường Z, cách cung răng trên từ 32-40cm. - Thực quản bụng: là đoạn thực quản còn lại, nằm dưới đường Z. * Các chỗ hẹp sinh lý của thực quản: Có 4 chỗ hẹp sinh lý của thực quản tương ứng với [3], [30]: - Cơ thắt nhẫn hầu (là chỗ hẹp nhất, cách cung răng trên 15cm).
- Cung động mạch chủ (cách cung răng 22cm). - Phế quản gốc trái (cách cung răng trên 27cm). * Các lớp của thực quản Thành thực quản được cấu tạo gồm 4 lớp tính từ ngoài vào [3], [30]: - Lớp vỏ bọc: bao bên ngoài phần TQ trên cơ hoành bởi tổ chức liên kết tạo thành cân, có tác dụng giữ thực quản tại chỗ và liên kết với các tổ chức lân cận. Ở phần thực quản dưới cơ hoành, lớp vỏ và lớp thanh mạc giống như ở dạ dày.
- Lớp cơ: là lớp dày nhất, khoảng 0,5-2,2mm, gồm hai lớp, cơ vòng ở trong và lớp cơ dọc ở ngoài. Lớp cơ của thực quản ở 1/3 trên thuộc loại cơ vân, 1/3 giữa là hỗn hợp cơ trơn và cơ vân, 1/3 dưới thuộc loại cơ trơn. - Lớp dưới niêm mạc: được tạo bởi mô liên kết thưa, bên trong có các tuyến thực quản chính. Lớp cơ niêm là những tế bào cơ trơn xếp thành lớp mỏng.
Phía trên tâm vị 1,5-2cm biểu mô thực quản hoàn toàn giống với niêm mạc dạ dày, được ngăn cách với biểu mô phía trên của thực quản bằng một đường răng cưa không đều gọi là đường Z. - Lớp niêm mạc: dày 0,5-0,8mm gồm 2 lớp nhỏ: Lớp biểu mô phủ: ở trên, là lớp biểu mô lát tầng không sừng hóa, phía dưới là mô liên kết thưa có những vùng lồi lên phía trên tạo thành nhú. Dưới mô liên kết là tổ chức đệm có sợi tạo keo, sợi chun, tế bào sợi, tuyến thực quản, tế bào lympho rải rác, các nang bạch huyết nhỏ vây quanh đường bài xuất tuyến. Sinh lý học thực quản Hai chức năng chính của TQ là vận chuyển thức ăn từ miệng xuống dạ dày và ngăn dòng chảy ngược của các chất chứa trong dạ dày ruột.
Chức năng vận chuyển được hoàn thành bởi các co nhu động. Dòng chảy ngược được ngăn lại bởi hai cơ thắt của TQ, vẫn đóng giữa các lần nuốt. Sự đóng mở tâm vị cũng phụ thuộc vào 2 cơ thắt, van Gubaroff và góc Hiss [3]. 6 - Cơ thắt thực quản trên: cơ thắt trên TQ có một trương lực co cơ ổn định trong lúc nghỉ.
Bằng cách đo áp lực người ta thấy vùng này có áp lực cao nhất. Bình thường áp lực ở đây cao hơn áp lực trong thực quản hay trong lồng ngực 40-100mmHg. Chiều dài của vùng này từ 2-4cm, tương ứng từ cơ bám sụn hầu đến cơ khít hầu dưới. Khi bắt đầu nuốt, cơ thắt trên giãn ra hoàn toàn trong vòng khoảng 0,2 giây, thời gian áp lực giảm xuống bằng áp lực trong lồng ngực hoặc trong lòng TQ khoảng 1 giây.
Sự giảm áp lực khi nuốt cùng với sự co bóp của hầu làm cho thức ăn dễ dàng đi qua. Cơ thắt thực quản trên còn có tác dụng đề phòng trào ngược thực quản hầu bằng phản xạ co lại khi dạ dày căng hoặc khi truyền dịch acid vào 1/3 trên của thực quản [54]. - Nhu động thực quản: nuốt tạo ra nhu động TQ thông qua trung tâm nuốt ở hành não. Sau đó là một loạt các co bóp từ hầu qua thân TQ rồi xuống cơ thắt TQ dưới.
Có một sự phối hợp chặt chẽ giữa vùng hạ hầu, sụn nhẫn, cơ thắt trên và cơ vân TQ thông qua cung phản xạ của trung tâm nuốt. Động tác nuốt kích thích dây X tạo nên một loạt các nhu động ở trong cơ trơn 2/3 dưới TQ, các sóng nhu động này lan tới vận tốc 3-5cm/giây. Nhu động tiên phát do trung tâm nuốt, còn nhu động thứ phát do căng tại chỗ của TQ bởi thức ăn, nước uống [54]. - Cơ thắt dưới thực quản: có vai trò ngăn trào ngược dạ dày vào TQ.
Cơ thắt TQ dưới có tác dụng duy trì một vùng áp lực cao hơn áp lực trong dạ dày từ 15-30mmHg, áp lực tăng lên sau bữa ăn hoặc khi có tăng áp lực trong ổ bụng. Khi nuốt, cơ thắt dưới giãn ra khoảng 2 giây, kéo dài 3-5 giây, sự giãn ra toàn bộ cơ thắt TQ cho phép thức ăn đi qua cơ thắt một cách dễ dàng. Trương lực co cơ phụ thuộc vào cơ chế hoạt động của cơ dọc. Chức năng hoạt động của cơ vòng rất đặc biệt, nó có khả năng tăng trương lực khi không có sự chi phối của đầu mút thần kinh [54].
7 - Góc Hiss: khi phình vị đầy, góc Hiss đóng lại và thực quản tiếp tuyến với thành trong dạ dày. Các cột của cơ hoành cũng có vai trò nhưng chỉ ở thì hít vào, TQ lúc đó bị ép vào trong khe TQ nên trạng thái này chống được cả trào ngược dịch vị và thức ăn. Ở trạng thái bình thường, trào ngược dạ dày TQ có thể xảy ra sau các bữa ăn. Đây là trào ngược sinh lý, và trong thời gian ngắn [54].
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản 1. Định nghĩa Trào ngược dạ dày thực quản (TNDDTQ) – GERD (Gastroesophageal reflux disease) là hiện tượng một phần dịch dạ dày đi ngược lên TQ qua cơ thắt TQ dưới, quá trình này có triệu chứng nhưng phần lớn chúng gây ra các triệu chứng trớ, nóng rát sau xương ức, đau ngực, nuốt khó… Viêm thực quản trào ngược là hiện tượng tổn thương thực quản gây ra do chất trào ngược [25], [45]. Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là tập hợp tất cả các triệu chứng và hậu quả ở thực quản do trào ngược gây ra [25]. Sinh lý bệnh TNDDTQ gây ra do nhiều yếu tố như thành phần thức ăn trong dạ dày, do đoạn nối giữa thực quản và dạ dày, hệ thần kinh và bản thân thực quản.
Có bằng chứng rõ ràng rằng sự bất thường của cơ thắt TQ dưới như giãn nhất thời của cơ thắt dưới thực quản và giảm áp lực co của cơ này [33], [51]. Khả năng làm rỗng dạ dày kém do rối loạn vận động của thực quản và dạ dày cũng như các yếu tố bảo vệ thực quản giảm sút được nghĩ tới là nguyên nhân gây bệnh trào ngược dạ dày thực quản [33], [51]. Sự đóng mở của tâm vị bị tổn thương hoặc tăng thể tích trong dạ dày cũng gây ra TNDDTQ. Các tổn thương TQ do trào ngược gây ra phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc của TQ với các chất trào ngược, mức độ trào ngược, độ acid của dịch trào ngược, khả năng bảo vệ của thực quản [51], [55].
8 - Yếu tố bảo vệ của TQ bao gồm : + Cơ thắt dưới TQ: được cấu tạo bên trong là cơ trơn, bên ngoài là cơ vân tạo thành một lớp cơ dày, khá chắc. Mặt khác, tại đây các nếp niêm mạc dày lên làm cho vùng này có áp lực thường xuyên cao hơn áp lực trong dạ dày ngăn cản các đợt trào ngược từ dạ dày lên TQ [33], [51]. + Lỗ tâm hoành: lỗ tâm hoành bao quanh 1/2 dưới của cơ thắt dưới có tác dụng tăng cường cho cơ thắt dưới như một gọng kìm. Khi cơ hoành co thì lỗ tâm hoành khép chặt lại hơn nên có vai trò tăng cường thêm cho cơ thắt dưới, ngăn cản tình trạng trào ngược khi tăng áp lực trong ổ bụng do hoạt động gắng sức sinh lý như ho, hắt hơi.
Khi giảm trương lực cơ thắt tạo điều kiện thoát vị hoành và gây túi dịch, do đó thúc đẩy TNDDTQ [33], [51]. - Sự làm sạch của thực quản [33], [51]: + Tư thế ngồi giúp cho các thành phần trào ngược trở lại dạ dày nhanh hơn, tuy nhiên nhu động của TQ là khâu quan trọng để làm sạch acid kể cả tư thế đứng, tư thế nằm. + Nhu động tiên phát xuất hiện thông qua động tác nuốt có tác dụng nhanh chóng đưa thức ăn xuống dạ dày, nhu động thứ phát rất quan trọng xảy ra tự nhiên, thường xuyên không liên quan tới động tác nuốt vì thế khi ta nằm ngủ vẫn có nhu động để làm sạch TQ. + Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy acid và pepsin là tác nhân chính gây ra viêm thực quản.
Mặc dù nhu động của TQ nhanh chóng đẩy các chất trào ngược xuống dạ dày nhưng vẫn còn một lượng nhỏ acid bám vào thành TQ, chất kiềm trong nước bọt sẽ trung hòa lượng acid này.