Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh và phẫu thuật điều trị tổn thương da do xạ trị

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh và phẫu thuật điều trị tổn thương da do xạ trị, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học
176
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về xạ trị

1.2. Khái niệm xạ trị

1.3. Cơ chế tác dụng của bức xạ ion hóa

1.4. Chỉ định của xạ trị

1.5. Ảnh hưởng toàn thân và tại chỗ sau xạ trị

1.6. Tổng quan về tổn thương da do xạ trị

1.7. Mô học da bình thường

1.8. Cơ chế tổn thương da do xạ trị

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

2.4.2. Nghiên cứu đặc điểm vi sinh vật, mô bệnh học, hóa mô miễn dịch

2.4.3. Đánh giá kết quả phẫu thuật chuyển vạt điều trị loét mạn tính do xạ trị

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh tổn thương da mạn tính do xạ trị

3.2. Tuổi và giới

3.3. Nguyên nhân xạ trị và vị trí tổn thương

3.4. Mức độ tổn thương và những yếu tố liên quan

3.5. Các đặc điểm của ổ loét do xạ trị

3.6. Mô bệnh học

3.7. Hóa mô miễn dịch đánh giá tổn thương mạch máu do xạ trị

3.8. Kết quả phẫu thuật chuyển vạt điều trị loét mạn tính do xạ trị

3.9. Diện tích tổn khuyết

3.10. Lựa chọn vạt theo vị trí tổn thương và xử trí nơi cho vạt

3.11. Tình trạng vạt da, liền vết thương

3.12. Tai biến, biến chứng

3.13. Số lần phẫu thuật, thời gian nằm viện, thời gian lưu dẫn lưu

3.14. Kết quả sau mổ 3 tháng, 6 tháng và 24 tháng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh tổn thương da mạn tính do xạ trị

4.2. Sự phân bố theo tuổi và giới của nhóm bệnh nhân nghiên cứu

4.3. Nguyên nhân xạ trị và vị trí tổn thương

4.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tổn thương

4.5. Diện tích tổn thương

4.6. Đặc điểm mô bệnh học tại ổ loét

4.7. Đặc điểm mô bệnh học vùng thâm nhiễm

4.8. Đặc điểm mô bệnh học tại vùng rìa

4.9. Tình trạng tổn thương mạch máu dưới da do xạ trị

4.10. Một số đặc điểm của ổ loét mạn tính do xạ trị

4.11. Đánh giá kết quả phẫu thuật chuyển vạt điều trị loét mạn tính do xạ trị

4.12. Phẫu thuật xử trí tổn thương do xạ trị như thế nào?

4.13. Nên sử dụng loại vạt nào để điều trị loét do xạ trị?

4.14. Tình trạng nơi cho vạt

4.15. Tình trạng vạt

4.16. Quá trình liền vết thương

4.17. Tai biến trong mổ, biến chứng tại chỗ sau phẫu thuật

4.18. Tổng số lần phẫu thuật, thời gian dẫn lưu

4.19. Kết quả sau mổ 3 tháng và 6 tháng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tổn thương da do xạ trị

Tổn thương da do xạ trị là một trong những tác dụng phụ phổ biến của xạ trị, đặc biệt khi liều chiếu cao. Cơ chế tổn thương bắt đầu từ việc tia xạ tác động lên các tế bào non và tế bào phân chia nhanh, bao gồm tế bào mầm da, tế bào nội mạc mạch máu, và nguyên bào sợi. Quá trình này dẫn đến tổn thương mô học, gây ra các biểu hiện lâm sàng từ viêm da cấp tính đến loét da mạn tính. Đặc điểm lâm sàng của tổn thương da do xạ trị bao gồm đỏ da, phù nề, khô da, teo da, và trong trường hợp nặng là loét da không lành. Giải phẫu bệnh cho thấy sự thay đổi cấu trúc mô, bao gồm xơ hóa, giãn mạch, và tổn thương mạch máu dưới da.

1.1. Cơ chế tổn thương da do xạ trị

Cơ chế tổn thương da do xạ trị bắt đầu từ việc tia xạ ion hóa tác động lên các tế bào non và tế bào phân chia nhanh. Tia xạ gây đứt gãy ADN trực tiếp hoặc thông qua việc tạo ra các gốc tự do, dẫn đến tổn thương tế bào mầm da, tế bào nội mạc mạch máu, và nguyên bào sợi. Quá trình này gây ra sự suy giảm khả năng tái tạo mô, dẫn đến các tổn thương mạn tính như teo da, xơ hóa, và loét da. Giải phẫu bệnh cho thấy sự thay đổi cấu trúc mô, bao gồm xơ hóa, giãn mạch, và tổn thương mạch máu dưới da.

1.2. Đặc điểm lâm sàng của tổn thương da do xạ trị

Đặc điểm lâm sàng của tổn thương da do xạ trị bao gồm các biểu hiện từ nhẹ đến nặng. Giai đoạn cấp tính thường biểu hiện bằng đỏ da, phù nề, và khô da. Trong giai đoạn mạn tính, tổn thương tiến triển thành teo da, xơ hóa, và loét da không lành. Các tổn thương này thường kèm theo nhiễm khuẩn tại chỗ và khó điều trị do tình trạng thiếu máu cục bộ và khả năng tái tạo mô kém.

II. Phẫu thuật điều trị tổn thương da do xạ trị

Phẫu thuật điều trị tổn thương da do xạ trị là phương pháp chính để xử lý các vết loét mạn tính không lành. Phương pháp này bao gồm việc cắt bỏ triệt để vùng thâm nhiễm và che phủ bằng vạt da có cuống mạch nuôi. Phẫu thuật chuyển vạt là kỹ thuật phổ biến, giúp cải thiện quá trình liền vết thương và giảm nguy cơ tái phát. Kết quả phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí tổn thương, diện tích vạt, và tình trạng mạch máu tại vùng tổn thương.

2.1. Phương pháp phẫu thuật chuyển vạt

Phẫu thuật chuyển vạt là phương pháp hiệu quả để điều trị loét mạn tính do xạ trị. Kỹ thuật này bao gồm việc cắt bỏ triệt để vùng thâm nhiễm và che phủ bằng vạt da có cuống mạch nuôi. Các loại vạt thường được sử dụng bao gồm vạt cơ đùi trước ngoài (ALT), vạt cơ lưng rộng (LD), và vạt cơ thẳng bụng (TRAM). Kết quả phẫu thuật phụ thuộc vào vị trí tổn thương, diện tích vạt, và tình trạng mạch máu tại vùng tổn thương.

2.2. Kết quả và biến chứng sau phẫu thuật

Kết quả sau phẫu thuật điều trị tổn thương da do xạ trị thường được đánh giá qua quá trình liền vết thương và tình trạng vạt da. Các biến chứng có thể bao gồm hoại tử vạt, nhiễm trùng, và tái phát tổn thương. Thời gian nằm viện và số lần phẫu thuật cũng là các yếu tố quan trọng cần được theo dõi. Kết quả sau mổ 3 tháng, 6 tháng, và 24 tháng cho thấy tỷ lệ thành công cao khi sử dụng vạt da có cuống mạch nuôi.

III. Đặc điểm giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch

Giải phẫu bệnhhóa mô miễn dịch là các phương pháp quan trọng để đánh giá tổn thương da do xạ trị. Giải phẫu bệnh cho thấy sự thay đổi cấu trúc mô, bao gồm xơ hóa, giãn mạch, và tổn thương mạch máu dưới da. Hóa mô miễn dịch giúp đánh giá tình trạng tổn thương mạch máu thông qua các dấu ấn kháng nguyên như CD31 và CD34. Các kết quả này cung cấp thông tin quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

3.1. Đặc điểm giải phẫu bệnh

Giải phẫu bệnh của tổn thương da do xạ trị cho thấy sự thay đổi cấu trúc mô, bao gồm xơ hóa, giãn mạch, và tổn thương mạch máu dưới da. Các tổn thương này thường kèm theo sự thâm nhiễm tế bào viêm và sự suy giảm khả năng tái tạo mô. Đặc điểm mô bệnh học tại vùng trung tâm ổ loét và vùng rìa cũng được nghiên cứu để đánh giá mức độ tổn thương.

3.2. Hóa mô miễn dịch trong đánh giá tổn thương

Hóa mô miễn dịch là phương pháp quan trọng để đánh giá tổn thương mạch máu do xạ trị. Các dấu ấn kháng nguyên như CD31 và CD34 được sử dụng để đánh giá tình trạng tổn thương mạch máu. Kết quả hóa mô miễn dịch cho thấy sự giảm đáng kể mật độ mạch máu tại vùng thâm nhiễm và vùng rìa, góp phần vào việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh và phẫu thuật điều trị tổn thương da do xạ trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về xạ trị 1. Khái niệm xạ trị Xạ trị là phương pháp sử dụng bức xạ ion hóa có năng lượng cao để tiêu diệt các TB ung thư. Bức xạ ion hóa này gồm bức xạ hạt (hạt α, hạt β) có khả năng thâm nhập kém hoặc các bức xạ sóng điện từ (tia Gamma, tia X) áp dụng cho các tổn thương sâu của cơ thể [7], [8].

Cơ chế tác dụng của bức xạ ion hóa Tia xạ tác động lên cơ thể thông qua 2 cơ chế: Cơ chế trực tiếp là làm đứt gãy các ADN, cơ chế gián tiếp là hình thành các gốc tự do. - Cơ chế tác dụng trực tiếp (20%): Tia xạ sẽ tác động ngay đến các chuỗi ADN của TB, làm cho chuỗi này bị tổn thương (gãy đoạn, đảo đoạn, đứt đoạn…) từ đó tạo ra các TB đột biến và dễ chết [7]. - Cơ chế tác dụng gián tiếp (80%): Trong mô sinh học, nước chiếm gần 80% khối lượng TB, có vai trò rất quan trọng. Khi chiếu xạ vào phân tử nước bao quanh ADN sẽ tạo ra các gốc tự do.

Các gốc tự do này tác dụng trực tiếp vào các chuỗi ADN, làm thay đổi tính thấm của màng TB, vì vậy các TB dễ bị tổn thương [1]. Gốc tự do làm sai lệch cấu trúc và rối loạn thông tin trên những phân tử sinh học, vật chất di truyền và TB. Gốc tự do là nguyên nhân của các quá trình bệnh lý, ung thư, lão hoá và chết theo chương trình. Tương quan giữa tác dụng trực tiếp và tác dụng gián tiếp phụ thuộc vào cơ chất bị chiếu.

Trong các cấu trúc sinh học “đặc” như nhân TB, tác dụng trực tiếp cao hơn, còn các cấu trúc chứa nhiều nước thì tác dụng gián tiếp cao hơn [8]. Một trong những đặc tính quan trọng của tia xạ là nhạy cảm với các 4 TB phân chia nhanh như TB ung thư, TB tủy xương… và các TB non như nguyên bào sợi (NBS), TB mầm của da, TB nội mô mạch máu… Do đó, ngoài tác dụng lên khối u, tia xạ còn gây tác dụng không mong muốn lên các mô, cơ quan tại chỗ vùng chiếu xạ. Chỉ định của xạ trị 1. Chỉ định của xạ trị trong điều trị ung thư + Xạ trị đơn thuần: - Các khối u kích thước nhỏ: Được phát hiện ở giai đoạn sớm, ung thư vùng tai – mũi – họng, vú, cổ tử cung [8].

- Ung thư nhạy với tia phóng xạ: Hodgkin, u lympho không Hodgkin, ung thư tinh hoàn. - Ung thư không mổ được: Do ung thư giai đoạn muộn, xâm lấn, di căn rộng, BN lớn tuổi thể trạng kém không đủ khả năng phẫu thuật. - Điều trị triệu chứng: Giảm đau, cầm máu, chống chèn ép… + Xạ trị kết hợp với phẫu thuật: - Xạ trị trước phẫu thuật: Mục đích giảm thể tích, chuẩn bị cho phẫu thuật lấy triệt để khối u, giảm nguy cơ tái phát, di căn của ung thư vào các bộ phận lân cận [8]. - Xạ trị hậu phẫu: Được tiến hành khi lấy không hết được khối u, có nhiều nguy cơ tái phát, hoặc khi hạch dương tính, với mục đích phòng ngừa tái phát sau phẫu thuật.

- Xạ trị trong lúc phẫu thuật: Xạ trị lúc đang mở bụng trong phẫu thuật ung thư dạ dày, ung thư tuỵ, trực tràng nhằm tiêu diệt các TB ung thư rơi vãi trong phẫu thuật. + Xạ trị kết hợp với hoá trị: Sự kết hợp 2 phương pháp này nhằm nâng cao hiệu quả điều trị trên khối u nguyên phát cũng như trong việc phòng ngừa di căn. Chỉ định của xạ trị trong điều trị u mạch máu Điều trị u mạch máu bằng xạ trị được áp dụng từ những năm đầu thế kỷ 5 20, thời điểm đó đã có những nghiên cứu về tác dụng của xạ trị lên khối u mạch máu và những ảnh hưởng này đến cơ thể con người. Theo nghiên cứu của Lindberg S.807 trẻ dưới 12 tháng được xạ trị u mạch máu từ năm 1930 đến 1965, và được theo dõi sau xạ trị đến năm 1989, tác giả nhận thấy có 248 trường hợp ung thư gồm: 34 trường hợp ung thư thần kinh, 15 trường hợp ung thư tuyến giáp, 23 trường hợp ung thư tuyến nội tiết trong đó, đối tượng xạ trị chủ yếu là 5 – 6 tháng tuổi; ngoài ra những tổn thương loét, teo da cũng được ghi nhận [9].

Ngày nay, xạ trị u mạch máu chỉ được chỉ định cho những trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng hoặc các chức năng quan trọng của cơ thể như: tim mạch, hô hấp, hoặc u mạch máu nằm trong lớp sâu, vị trí khó phẫu thuật như u mạch máu ở khoang miệng, cột sống [2]. Chỉ định của xạ trị trong điều trị sẹo lồi Xạ trị được coi là biện pháp cuối cùng để điều trị sẹo lồi, phẫu thuật cắt sẹo lồi kết hợp với xạ trị đã được chứng mình là an toàn và hiệu quả. Can thiệp xạ trị sớm nên được áp dụng trong vòng 48 giờ sau phẫu thuật, thời gian lý tưởng là trong vòng 24 giờ. Liều xạ trong một lần chiếu nên lớn hơn 12 Gy để đem lại kết quả tốt, nhưng không nên quá 20 Gy vì có thể gây ra nhiều tác dụng phụ.

Khuyến cáo chiếu xạ hai lần trong vòng 1 tuần để đảm bảo tỷ lệ tái phát thấp hơn và ít tác dụng phụ hơn [10]. Ảnh hưởng toàn thân và tại chỗ sau xạ trị Chỉ định xạ trị trong mọi trường hợp đều gây ảnh hưởng đến toàn thân và tại chỗ vùng chiếu xạ. Các tác dụng phụ của xạ trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu đến từ liều chiếu xạ - liều chiếu càng lớn thì tác dụng không mong muốn càng nhiều. Theo hướng dẫn của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ về tổn thương da do xạ trị thì: Khi chiếu với liều trên 2 Gy, có thể gặp tổn thương muộn như tình trạng teo da.

Với những liều chiếu lớn hơn, có thể gặp tình trạng giãn mạch, xơ hóa, loét da…[11]. 6 - Ảnh hưởng toàn thân: Mệt mỏi, thiếu máu, suy dinh dưỡng, đau nhức, trầm cảm, stress thường hay gặp sau xạ trị. Mệt mỏi có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng. Ngoài ra, việc chiếu xạ phạm vi lớn làm thay đổi chức năng não dẫn đến mất trí nhớ, giảm ham muốn tình dục, buồn nôn, loạng choạng.

- Ảnh hưởng tại chỗ chiếu xạ: Da là cơ quan đáp ứng đầu tiên sau chiếu xạ, gây tình trạng không mong muốn như đỏ da, phù nề, xung huyết, đến khô da, sẫm màu, teo da, ngứa thậm chí loét da, ung thư da. Chiếu xạ vùng miệng, họng có thể gây khô miệng, mất vị giác, trong khi chiếu xạ vùng bụng có thể gây tổn thương ống tiêu hoá như: phù nề, viêm thực quản, viêm dạ dày, ruột dẫn đến đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy… Xạ trị vùng ngực làm giảm Sulfactant từ đó làm hạn chế sự giãn nở của phế nang, gây thở ngắn, thở khó, ho, nặng hơn có thể xơ hoá phổi… Xạ trị vào tinh hoàn, buồng trứng gây mất khả năng sinh sản, giảm khả năng tình dục…[7], [8]. Tổng quan về tổn thương da do xạ trị 1. Mô học da bình thường Da người có cấu tạo gồm ba lớp: Thượng bì, trung bì và hạ bì.

Thượng bì: Gồm 5 lớp từ dưới lên trên là lớp đáy, lớp gai, lớp hạt, lớp bóng và lớp sừng. - Lớp đáy (tế bào mầm): Gồm một lớp TB hình trụ, có khả năng phân bào và phát triển thay lớp TB ở trên trong quá trình sừng hoá. - Lớp tế bào gai: Ở ngay trên lớp đáy, TB có hình đa giác, nhân tròn. - Lớp tế bào hạt: Gồm vài hàng TB nằm phía trên của lớp gai, gồm các TB dẹt, trong bào tương có nhiều hạt sắc tố melanin.

- Lớp bóng: Chỉ có ở da lòng bàn tay, bàn chân, có vân, không có lông và tuyến bã. - Lớp tế bào sừng: Nằm ngay trên lớp TB hạt hoặc lớp bóng. Đây là các TB dẹt, không nhân và không có các bào quan. Ngoài ra, trong thượng bì còn có các TB hắc tố (hay TB đuôi gai) phân bố 7 xen kẽ giữa các TB đáy sản sinh hắc tố melanin, TB langerhans làm nhiệm vụ trình diện kháng nguyên.

Trung bì Trung bì nằm dưới thượng bì và được phân cách với thượng bì bởi màng đáy [12], [13]. Trung bì có hai lớp: - Trung bì nông: Là lớp nuôi dưỡng, dày khoảng 1/10 mm, có những nhú liên kết – huyết quản nhô vào lớp thượng bì gọi là nhú bì hay gai bì. Các nhú bì có độ cao và độ lớn khác nhau tùy từng vùng da, ở da mặt các nhú bì rất mỏng. - Trung bì sâu hay còn gọi là trung bì chính thức: Lớp này dày hơn trung bì nông, là mô liên kết khá dày, bên trong có chứa các mạch máu lớn hơn ở lớp trung bì nông.

Hạ bì - Hạ bì nằm giữa trung bì và cân cơ hoặc màng xương. Đó là tổ chức đệm lẫn các đám mô mỡ, tạo thành nhiều ô được ngăn cách nhau bởi những vách xơ mỏng. - Thần kinh chi phối da được tạo thành từ đám rối hạ bì, chúng phân nhánh chạy lên lớp hạt sau đó cuộn lại tạo nên các tiểu thể thần kinh. Phần phụ của da - Tuyến bã: Chế ra chất bã nhờn, tuyến bã thường có ống bài xuất mở vào nang lông hoặc mở thông ra ngoài da.

Chức năng của tuyến bã là làm cho da và lông mềm mại, không thấm nước. - Tuyến mồ hôi: Gồm những ống nhỏ cong queo, nằm sâu ở tầng trung bì. Sự bài tiết mồ hôi có liên quan đến sự điều hòa thân nhiệt và bài tiết chất độc của cơ thể. - Lông: Là sản phẩm của sự sừng hóa, mọc xiên từ trong trung bì ra ngoài biểu bì, lên khỏi mặt da.

Lông có tác dụng bảo vệ da, nhất là chống rét. Ngoài ra, lông còn là cơ quan xúc giác gián tiếp. Cơ chế tổn thương da do xạ trị Khi chiếu xạ, tia xạ sẽ tác động lên các TB non, các TB phân chia nhanh. Do đó, khi tác động lên da, tia xạ gây tổn thương các TB mầm của da, của nang lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi.

Ngoài ra, tia xạ tác động lên TB nội mạc mạch máu, các NBS… từ đó gây nên các tổn thương da sau xạ trị. Tổn thương sớm sau xạ trị có thể gặp tình trạng phù nề, sung huyết, các vết trợt khô, trợt da ướt, loét cấp tính hoặc rối loạn sắc tố nhẹ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh và phẫu thuật điều trị tổn thương da do xạ trị" tập trung vào việc phân tích các đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh của tổn thương da gây ra bởi xạ trị, đồng thời đưa ra các phương pháp phẫu thuật hiệu quả để điều trị. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế bệnh sinh mà còn đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ung thư và phẫu thuật tái tạo.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị phẫu thuật tiên tiến, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi đặt catheter ổ bụng để lọc màng bụng trong điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi chẩn đoán và điều trị các tổn thương tạng rỗng trong chấn thương bụng kín cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về kỹ thuật phẫu thuật nội soi trong các trường hợp phức tạp.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến hình ảnh y khoa và ứng dụng trong điều trị, Luận án tiến sĩ nghiên cứu hình ảnh động mạch xuyên ở vùng cẳng chân bằng chụp cắt lớp vi tính 320 dãy và ứng dụng trong điều trị khuyết hổng phần mềm sẽ là lựa chọn phù hợp. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra các góc nhìn mới trong lĩnh vực y học và phẫu thuật.