Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Rối loạn thái dương hàm là thuật ngữ chung chỉ tình trạng đau miệng mặt, là tình trạng đau không liên quan đến răng phổ biến nhất ở vùng hàm mặt. Việc chẩn đoán và xử trí rối loạn thái dương hàm vẫn là một thách thức đối với các bác sĩ lâm sàng cho đến ngày nay, mặc dù đã có những nghiên cứu lâm sàng sâu rộng về chủ đề này. Điều này là do rối loạn thái dương hàm bao gồm có bệnh sinh phức tạp và triệu chứng không ổn định trên từng cá thể.
Một số dấu hiệu và triệu chứng tự khỏi ngay cả khi không cần điều trị, trong khi những dấu hiệu khác vẫn tồn tại trong nhiều năm mặc dù đã áp dụng nhiều loại hình điều trị kết hợp [12]. Cơ chế bệnh sinh rối loạn thái dương hàm là cơ chế đa yếu tố bao gồm những bất thương thực thể nội khớp – ngoại khớp và rối loạn về tâm lý xã hội [5], [12]. Các nguyên nhân tại chỗ có thể được chia thành nguồn gốc tại khớp như bất thường cấu trúc khớp và hình thái khớp, tổn thương khớp do phản ứng miễn dịch, rối loạn nội tiết tố, chấn thương khớp, vi chấn thương do hoạt động cơ nhai và các nguồn gốc thần kinh [5]. Nhiều nghiên cứu cho thấy các triệu chứng rối loạn thái dương hàm có nguồn gốc khớp có thể liên quan đến sự tái cấu trúc bên trong của khớp thái dương hàm và thường liên quan đến đĩa khớp đã bị dịch chuyển.
Mặc dù sự tái cấu trúc nội khớp không nhất thiết dẫn đến đau, nhưng người ta thường tin rằng sự tái cấu trúc diễn ra trước tình trạng rối loạn thái dương hàm [12]. Hệ thống nhai là một đơn vị chức năng bao gồm nhiều thành phần: răng và mô nha chu, xương hàm, khớp thái dương hàm, tuyến nước bọt, hệ thống cơ thần kinh mạch máu [5]. Rối loạn một thành phần trong hệ thống nhai sẽ có tác động 4 đến các thành phần khác và rối loạn thái dương hàm cũng không ngoại lệ. Do đó, triệu chứng của rối loạn thái dương hàm trên lâm sàng có thể biểu hiện ở hệ thống cơ hàm, khớp thái dương hàm, bộ răng và những cấu trúc vùng đầu mặt có liên quan [5], [21], [37].
- Rối loạn chức năng ở cơ Rối loạn chức năng ở cơ có biểu hiện chủ yếu: đau và loạn năng. + Đau: là triệu chứng phổ biến nhất, có thể từ mức độ nhẹ đến đau đớn cực kỳ khó chịu. Mức độ trầm trọng của đau liên quan trực tiếp đến hoạt động chức năng của cơ. + Loạn năng: triệu chứng lâm sàng phổ biến liên quan đến rối loạn cơ nhai.
Khi cơ bị tổn thương quá mức, bất kỳ một co thắt hay tăng dãn nào của cơ cũng có thể làm tăng cơn đau. Nhằm thích nghi, bệnh nhân sẽ chủ ý giảm biên độ vận động hàm làm giảm đau do đó trên lâm sàng hay gặp là há miệng hạn chế, trong một số trường hợp bệnh nhân có thể há miệng lớn nhưng tăng đau [5], [21]. - Rối loạn chức năng ở khớp thái dương hàm Ba triệu chứng chính của rối loạn chức năng ở khớp TDH là: đau khớp, tiếng kêu khớp và rối loạn vận động [3], [5], [12], [21], [37]. + Đau: đau ở bất kỳ cấu trúc nào của khớp cũng đều được xem là đau khớp.
Tuy nhiên, không phải các cấu trúc khớp khi bị tổn thương đều gây đau. Tuỳ vào rối loạn khớp một bên hay hai bên mà bệnh nhân có biểu hiện đau ở vùng trước tai, ở một hoặc hai bên. Đau có thể tự phát hoặc liên quan đến vận động hàm dưới với nhiều mức độ khác nhau. Những trường hợp đau nhiều và kéo dài khiến bệnh nhân trở nên trầm cảm.
+ Tiếng kêu khớp: là triệu chứng đa dạng nhất trong các triệu cứng khớp, là biểu hiện rối loạn cấu trúc đĩa khớp lồi cầu. Tiếng kêu khớp có thể diễn tiến qua nhiều giai đoạn. 5 + Rối loạn vận động: rối loạn vận động hàm được xem như hậu quả của những thay đổi nội khớp như thay đổi hình dạng đầu lồi cầu, hõm khớp; thay đổi tương quan lồi cầu hõm khớp, thay đổi cấu trúc, hình dạng vị trí của đĩa khớp. Quá trình thay đổi và tái cấu trúc nội khớp đã được Wilkes phân loại thành năm giai đoạn liên quan đến đau, độ mở miệng, vị trí đĩa đệm và giải phẫu [46]: Giai đoạn đầu: Lâm sàng: Không đau, không giảm biên độ vận động, đôi khi có có tiếng kêu nhỏ tại khớp.
X quang: dời đĩa ra trước nhẹ, hình dạng mô cứng bình thường. Giải phẫu: dời đĩa ra trước, hình thái giải phẫu mô cứng bình thường. Giai đoạn trung gian sớm: Lâm sàng: xuát hiện triệu chứng đau, tiếng kêu khớp khi há, thỉnh thoảng có triệu chứng khoá hàm. X quang: dời dĩa ra trước nhẹ, dày nhẹ mô sau đĩa, mô cứng bình thường.
Giải phẫu: dời đĩa ra trước, biến dạng giải phẫu. Giai đoạn trung gian: Lâm sàng: đau xuất hiện nhiều hơn, khoá hàm, nhiều triệu chứng chức năng kèm theo như đau đầu, giảm biên độ vận động hàm. X quang: dời đĩa ra trước kèm theo dị dạng đĩa khớp. Giải phẫu: đĩa khớp di lệch và biến dạng rõ rệt, chưa thay đổi mô cứng.
Giai đoạn trung gian muộn: Lâm sàng: đau gia tăng dẫn đến đau mãn tính. X quang: thay đổi hình dạng mô cứng rõ rệt. Giải phẫu: mô cứng thay đổi hình dạng, đôi khi xuất hiện hình ảnh sửa chữa mô cứng. Giai đoạn muộn: 6 Lâm sàng: đau thường xuyên hoặc liên tục, tiếng kêu lạo xạo trong khớp, hạn chế vận động chức năng.
X quang: biến dạng đĩa, thủng đĩa, biến dạng của cấu trúc xương và sụn, quá trình viêm khớp tiến triển. Giải phẫu: thay đổi tổng thể mô cứng và mô mềm. Rối loạn ở bộ răng - khớp cắn + Răng lung lay, viêm tủy, mòn răng. Các dấu hiệu và triệu chứng khác + Đau đầu, đau ở tai, ù tai… Trong qua trình chẩn và điều trị rối loạn thái dương hàm, các nhà lâm sàng thống nhất rằng khai thác bệnh sử và khám lâm sàng là quá trình quan trọng nhất để chẩn đoán.
Vị trí của cơn đau vẫn nằm trong hoặc lan ra ngoài vùng giới hạn của cơ, cần được xác nhận bằng cách sờ nắn, được khám khi nghỉ ngơi và trong suốt quá trình thực hiện chức năng hàm dưới. Tiếng kêu khớp trong quá trình thực hiện chức năng hàm dưới, mức độ há miệng cần phải được phân tích cẩn thận chi tiết. Chẩn đoán hình ảnh có tính chất hỗ trợ cho thăm khám lâm sàng [12]. Cho đến hiện nay, có nhiều tiêu chuẩn để chẩn đoán loạn năng thái dương hàm như tiêu chuẩn McNeil.
Tuy nhiên hiện nay hầu hết các nhà lâm sàng dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán DC/TMD. Đây là tiêu chuẩn dựa vào bệnh sử và thăm khám lâm sàng để chẩn đoán gồm các rối loạn như vị trí và tính chất của cơn đau cơ cũng như các rối loạn khớp như di lệch đĩa khớp [12], [37], [43]. Để chẩn đoán xác định bệnh lý rối loạn thái dương hàm, cần phải chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý như đau liên quan yếu tố thần kinh (đau thần kinh sinh ba, hội chứng rát bỏng miệng,…), đau có nguồn gốc từ răng, đau nội sọ, đau bắt nguồn từ các cấu trúc lân cận (tai, mũi họng…). 7 Vị trí xương hàm dưới khớp với xương thái dương của sọ được gọi là khớp thái dương hàm.
Khớp thái dương hàm là khớp động duy nhất của sọ, là một trong những khớp phức tạp nhất trong cơ thể. Khớp thái dương hàm tạo ra một vận động bản lề trên một mặt phẳng nên còn được gọi là khớp bản lề. Tuy nhiên, tạo cùng thời điểm vận động bản lề, khớp còn có vận động trượt nên khớp thái dương hàm được phân loại là khớp trượt bản lề [3]. Khớp thái dương hàm là một khớp lưỡng lồi cầu bao gồm lồi cầu thái dương và lồi cầu xương hàm dưới tạo nên diện khớp lồi cầu, cách nhau bởi đĩa sụn xơ lõm hai mặt còn gọi là đĩa khớp.
Đĩa khớp giúp phân tán lực nhai và cho phép khớp vận động phức hợp [1], [3], [5] (Hình 1. Hình 1-1-Khớp thái dương hàm Nguồn: Jeffrey P. Okeson, 2020, [21] Lồi cầu cùng với mỏm vẹt là hai mỏm tận hết của xương hàm dưới. Lồi cầu nằm ở phía sau, mỏm vẹt nằm ở phía trước ngăn cách nhau bởi một khuyết là khuyết sigma [3], [5], [21].
Lồi cầu tận hết bởi hai cực: cực ngoài và cực trong. 8 Đường nối hai cực lồi cầu kéo dài sẽ đi vào phía trong và phía sau và vuông góc mặt phẳng chứa cành cao, gặp nhau tại bờ trước của lỗ chẩm, tạo thành một góc khoảng 145-1600. Cực ngoài ngắn, khá tù và thường gồ ghề nơi bám của đĩa khớp. Cực trong dài, ở xa cổ lồi cầu hơn so với cực ngoài.
Hình 1-2- Hai cực lồi cầu xương hàm dưới (LP: cực ngoài, MP: cực trong) Nguồn: Jeffrey P. Diện khớp của lồi cầu được phủ bởi mô sợi không mạch máu săn chắc, chứa một ít tế bào sụn và proteoglycan dạng sụn, các sợi chun và sợi kháng acid. Với cấu trúc như vậy ngoài là cấu trúc nâng đỡ khối lượng tĩnh, khớp thái dương hàm còn là khớp biệt hoá cao để thích ứng với những vector thay đổi về lực như trong hoạt động nhai [3]. Phần diện khớp ở sọ của khớp thái dương hàm thuộc phần dưới xương thái dương, ngay trước bờ trước xương ống tai và sau rễ xương gò má.
Diện khớp gồm một lồi ở phía trước (lồi khớp) và một lõm ở phía sau (hõm khớp) [3] (Hình 1. 9 Hình 1-3-Hình ảnh lồi cầu xương hàm dưới và diện khớp xương thái dương MF: hõm khớp AE: lồi khớp STF: khe nhĩ trai Nguồn: Jeffrey P. - Lồi khớp Lồi khớp là một cuộn xương, lồi vào trong và ra sau những hơi lõm theo chiều ngoài trong. Sườn sau lồi khớp là phần làm việc của khớp thái dương hàm [3].
- Hõm khớp Hõm khớp là một vòm, lõm theo chiều gần xa lẫn theo chiều ngoài trong, hõm có trục dài theo chiều ngoài trong cùng hướng với trục dài lồi cầu [3]. Đĩa khớp có hình thái thấu kính lõm hai mặt. Hình thái của đĩa khớp phù hợp với khoảng cách hai diện khớp với phần bờ sau và bờ trước đĩa dày hơn vùng trung gian đĩa khớp. Vùng trung gian đĩa khớp nằm trên trung tâm lồi cầu là vùng mỏng nhất.
Toàn bộ chu vi đĩa khớp liên tục với mô liên kết quanh đĩa chia khoang khớp thành hai buồng khớp: buồng khớp trên và buồng khớp dưới.