mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật.I cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm đƣợc sự phong phú của nơi sống nhƣng không có sự phân hóa về mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể.I đã đƣa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thƣờng xanh là 1500-2000 loài. Brummit (1992) chuyên gia của Phòng Bảo Tàng Thực Vật Hoàng Gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật cao có mạch trên thế giới vào 511 họ, 13.884 chi, 6 ngành là: Khuyết lá thông (Plilotophyta), Thông đá (Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dƣơng 3 xỉ (Polypodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) và Hạt kín (Angiospermae). Trong đó ngành Hạt kín (Angiospermae) có 13.477 họ, 454 chi và đƣợc chia ra hai lớp là: Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10.715 chi, 357 họ và Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) bao gồm 2.
Takhtajan Viện sỹ thực vật, Acmenia đã có những đóng góp lớn cho khoa học phân loại thực vật. Trong cuốn “Diversity and Classifcation of Flowering Plant” (1977), đã thống kê và phân chia toàn bộ thực vật Hạt kín trên thế giới khoảng 260.000 loài, vào khoảng 13.500 chi, 591 họ, 232 bộ thuộc 16 phân lớp và 2 lớp. Trong đó Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) gồm 11 phân lớp, 175 bộ, 458 họ, 10.500 chi; không dƣới 195.000 loài vào Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) gồm 6 phân lớp, 57 bộ, 133 họ, trên 3000 chi và khoảng 65. Bên cạnh đó, còn rất nhiều những công trình khoa học và các báo cáo khác lần lƣợt đƣợc xuất bản và rất nhiều cuộc hội thảo khác nhau đã đƣợc tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phƣơng pháp luận cũng nhƣ thông báo các kết quả đã đạt đƣợc trong nghiên cứu về đa dạng sinh vật và bảo tồn trên toàn thế giới.
Các kết quả nghiên cứu đƣợc công bố trong các báo cáo và hội nghị, hội thảo đã cơ bản thiết lập nên một hệ thống thông tin đa dạng sinh vật trên toàn thế giới đã và đang góp phần nâng cao nhận thức đa dạng sinh vật và bảo tồn, khôi phục lại một số hệ sinh thái, hệ thực vật trên các vùng lãnh thổ cấp quốc gia. Nghiên cứu thực vật ở Việt Nam Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, rừng Việt Nam mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản nhất của rừng nhiết đới, nó có cấu trúc phức tạp, phong phú và đa dạng về loài. Rừng nƣớc ta chiếm ¾ diện tích đất đai toàn quốc, trong đó có nhiều gỗ và đặc sản quý hiếm, nhiều dƣợc liệu có giá trị phân bố hầu hết ở các vùng trung du và miền núi.Việc nghiên cứu về tài nguyên rừng Việt Nam đã đƣợc tác giả trong và ngoài nƣớc tiến hành nghiên cứu. 4 Một số danh y đã đƣợc biết đến nhờ việc nghiên cứu về thực vật và tìm ra những phƣơng thuốc chữa bệnh nhƣ Tuệ Tĩnh, Lý Thời Chân, Hải thƣợng Lãn Ông,… Việc nghiên cứu thực vật theo hƣớng khoa học mới đƣợc biết đến khi Pháp xâm chiếm Việt Nam.
Công trình thống kê mô tả thực vật nhƣ “Thực vật rừng Nam Bộ” của Pierre (1879-1899), ông đã tìm ra và đặt tên cho nhiều loài mới ở Việt Nam. Cuối thế kỷ XIX A.Chevalier (1919) đã có những nghiên cứu về các hệ sinh thái rừng Bắc Bộ.Maurand 1943, đã nghiên cứu “các kiểu quần thể” của ba vùng sinh thái Bắc Đông Dƣơng. Nam Đông Dƣơng và vùng trung gian. Dƣơng Hàm Y 1956, công bố nghiên cứu về “Tài nguyên rừng rú ở Việt Nam”.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác nhƣ Loeschau 1960, Thái Văn Trừng 1970, 1978, Trần Ngũ Phƣơng 1970, 2000,… đã nghiên cứu về rừng Bắc Bộ Việt Nam.Richards 1952, đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mƣa nhiệt đới về mặt hình thái, tác giả này đã mô tả một số đặc điểm nổi bật của rừng mƣa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ, rừng có nhiều tầng (thƣờng có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ), nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thƣớc, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây.Baur 1962, nghiên cứu các vấn đề cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mƣa nói riêng, trong đó ông đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mƣa tự nhiên. Theo tác giả, các phƣơng thức xử lý lâm sinh bao gồm: mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thƣờng hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các cây còn lại sinh trƣởng. Mục tiêu thứ hai là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo không giải phóng lớp cây tái sinh có sẵn có ở trong trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc chăm sóc và nuôi dƣỡng rừng sau đó. Cuối cùng 5 tác giả đƣa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phƣơng thức xử lý cải thiện rừng mƣa.
Công trình Thực vật chí Đông Dƣơng gồm 7 tập chính và 1 tập bổ sung, đã đƣợc công bố từ năm 1907 – 1952 bởi nhà thực vật ngƣời Pháp H. Lecomte chủ biên. Trong công trình này, tác giả đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả cho 7004 loài thực vật bậc cao có mạch ở Đông Dƣơng. Trên cơ sở bộ Thực vật chí Đông Dƣơng, Thái Văn Trừng (1978) trong công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê ở khu hệ thực vật nƣớc ta có 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 289 họ.
Thái Văn Trừng đã khẳng định ƣu thế của ngành Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài (chiếm 90,9%), 1727 chi (chiếm 93,4%) và 239 họ (chiếm 82,7%). Công trình nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1963-1978), Trần Ngũ Phƣơng về thảm thực vật rừng Việt Nam. Các tác giả đã phân chia thảm thực vật rừng nƣớc ta thành các kiểu rừng, kiểu phụ và các ƣu hợp, quần hợp thực vật phổ biến. Trong tác phẩm “Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam” 1978, tác giả Thái Văn Trừng đã tiếp tục hoàn thiện quan điểm “Sinh thái phát sinh quần thể trong các kiểu thảm thực vật” rừng ở Việt Nam, mô tả - phân tích cấu trúc và đề xuất những định hƣớng nhằm phục hồi và bảo vệ các hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam.
Aubréville chủ biên, đã công bố bộ Thực vật chí Camphuchia, Lào và Việt Nam do 29 tập nhỏ gồm 74 họ thực vật có mạch. Viện điều tra quy hoạch rừng công bố Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) gồm 7 tập và cuốn Những loài thực vật rừng quý hiếm cần bảo vệ ở Việt Nam. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), (1999 – 2000) có bộ Cây cỏ Việt Nam tác giả đã thống kê có mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam. 6 Tập thể các Nhà thực vật học Việt Nam (2001, 2003, 2005) biên soạn cuốn Danh lục các loài thực vật Việt Nam và bộ Thực vật chí Việt Nam.
Hiện nay đã xuất bản đƣợc 11 tập. Đây là các tài liệu rất hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về tài nguyên thực vật Việt Nam. Năm 1969, Phan Kế Lộc đã thống kê và bổ sung số loài ở miền Bắc lên 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại. Thái Văn Trừng đã thống kê thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài, 1850 chi, 289 họ.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11. Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài. Lê Trần Chấn nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 10.298 chi, 285 họ của 6 ngành thực vật. Nguyễn Tiến Bân (2005) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.603 loài, trong đó ngành Ngọc lan với 10.
Trần Đình Lý và cộng sự, (1993) 1900 cây có ích ở Việt Nam. Võ Văn Chi, 1997, (2012) Từ điển cây thuốc Việt Nam. Võ Văn Chi và Trần Hợp, (1999) Cây cỏ có ích ở Việt Nam. Nguyễn Thiện Tịch (2001), Lan Việt Nam.
Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam. Đỗ Tất Lợi, (1977) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật Pocs Tamas (1965) trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam đã phân tích một số thành phần phổ dạng sống của hệ thực vật Bắc Việt Nam nhƣ sau: 7 - Cây gỗ lớn cao trên 30m (Meg): 4,85% - Cây có chồi vừa trên đất cao 8- 30m (Mes) và cây có chồi nhỏ trên đất cao 28m (Mi): 13,80% - Cây có chồi trên đất lùn dƣới 2m (Na): 18,02% - Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp): 9,08% - Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep): 6,45% - Cây chồi sát đất (Ch); cây chồi nửa ẩn (H), cây chồi ẩn (Cr): 40,68% - Cây chồi một năm (Th): 7,12% Và phổ dạng sống nhƣ sau: SB = 52,20 Ph + 40,68 (Ch,H,Cr) + 7,12 Th Ngoài ra nhiều tác giả khác đã vận dụng thang phân loại của Raunkiaer để lập phổ dạng sống cho nhiều hệ thực vật khác nhau. Năm 1987 – 1990, trong công trình “ Góp phần nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Lâm Sơn, tỉnh Hòa Bình” Lê Trần Chấn và tập thể đã phân tích lập phổ dạng sống cho vùng này nhƣ sau: - Phanerophytes (Ph) 51,3% - Chamaephytes (Ch) 13,7% - Hemycryptophytes (Hm) 17,9% - Cryptophytes (Cr) 7,2% - Therophytes (Th) 9,9% Phổ dạng sống : SB = 51 Ph + 13 Ch + 17,9 Hm + 7,2 Cr + 9,9 Th Năm 1994, trong công trình nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ, Phùng Ngọc Lan (1996) cũng đƣa ra phổ dạng sống cho vùng này nhƣ sau: SB = 57,78 Ph + 10,46 Ch + 12,38 Hm + 8,37 Cr + 11,01 Th Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn có nghiên cứu đầu về đa dạng hệ thực vật ở Vƣờn quốc gia Pù Mát trong đó có phổ dạng sống.
Thái Văn Trừng (1978) còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi và lá theo các trạng mùa, ký hiệu về hình dạng tán, chất liệu dây leo.