ĐẶT VẤN ĐỀ Từ xa xưa, con người đã biết cách thuần hóa nhiều loài động vật, đem về nuôi để phục vụ cho nhu cầu của mình. Chó là một trong những loài động vật được thuần dưỡng sớm và rất gần gũi với cuộc sống con người. Chúng có những đặc điểm rất đáng quý như mắt tinh, tai thính, mũi nhạy, đặc biệt là tính trung thành nên được nuôi dưỡng và sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau: làm cảnh, trông nhà, chăn gia súc, kéo xe và bảo vệ an ninh, quốc phòng. Ở các nước phương Tây chó là động vật cưng trong nhà và được coi là những người bạn.
Ở nước ta trong những năm gần đây, khi đời sống con người ngày càng được nâng cao, xu hướng nuôi chó ngày càng phát triển. Cùng với sự gia tăng về số lượng và chủng loại, chó được nuôi cũng rất đa dạng chó đã trở thành một trong những loài động vật cảnh phổ biến. Nuôi chó không chỉ với mục đích giản đơn là trông nhà mà chó đã trở thành khuyển cảnh được nhiều người yêu thích. Chó mắc nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh và có tỷ lệ chết cao.
Trong đó bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus đã và đang gây ra những tổn thất lớn cho người chăn nuôi. Qua thực tế lâm sàng tại các phòng khám và điều trị chó, mèo ở thành phố Hà Nội cho thấy bệnh do Parvovirus là một bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm, gây chết hàng loạt trên chó con. Chó lớn không chết nhiều nhưng lại là nguồn tàng trữ virus. Bệnh xảy ra nhiều trên chó non từ 6 – 20 tuần tuổi với hai thể bệnh hay gặp: thể tim và thể tiêu hóa, bệnh tiến triển nhanh gây tỷ lệ chết cao.
Cho tới nay, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về bệnh do Parvovirus trên chó nhưng vẫn ít công trình nào nghiên cứu sâu về các biến đổi bệnh lý của bệnh này. Vì vậy, để góp phần cho công tác chẩn đoán bệnh nhanh, chính xác thì việc tiếp tục nghiên cứu sâu về các biến đổi bệnh lý của bệnh do Parvovirus trên chó vẫn là vấn đề cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý ở chó bị viêm ruột tiêu chảy do Parvovirus và biện pháp điều trị”. MỤC ĐÍCH - Xác định được một số chỉ tiêu dịch tễ và đặc điểm bệnh lý chủ yếu của chó mắc bệnh do Parvovirus để phục vụ công tác chẩn đoán nhanh và phát hiện chính xác bệnh.
- Xây dựng được phác đồ điều trị cho chó mắc bệnh do Parvovirus mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi chó. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Xác định được đặc điểm dịch tễ, biến đổi đại thể, vi thể của các cơ quan tổ chức của chó mắc bệnh tiêu chảy do Parvovius, vị trí cư trú thích hợp của Parvovirus giúp cho công tác phát hiện chẩn đoán bệnh. Từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời nhằm hạn chế thiệt hại do bệnh gây nên. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là những tư liệu khoa học bổ ích giúp cho các nghiên cứu tiếp theo về bệnh.
Đồng thời là tư liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy cho sinh viên Thú Y tại các trường Đại học và các phòng mạch điều trị Thú y trong cả nước. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC LOÀI CHÓ Dựa trên những thành tựu nghiên cứu về cổ sinh vật học và di truyền học, các nhà khoa học đã xác định được tổ tiên của loài chó nhà hiện nay là một số loài chó sói sống hoang dã ở các vùng sinh thái khác nhau trên thế giới. Cách đây khoảng 15.000 năm con người đã thuần hóa với mục đích phục vụ cho việc săn bắt, sau đó là giữ nhà và làm bạn với con người (Tô Dung và Xuân Giao, 2006).
Trung tâm thuần hóa chó cổ nhất là vùng Đông Nam Á, sau đó được du nhập vào Châu Úc, lan ra khắp Phương Đông và đến Châu Mỹ. Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ trung kỳ đồ đá mới, khoảng 3000 - 4000 năm trước công nguyên (cách đây 5 - 6 nghìn năm). Tập hợp những giống chó nhà được nuôi hiện nay trên thế giới có khoảng 400 giống, được gọi chung là loài chó nhà (Canis familiaris), thuộc họ chó (Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia). MỘT SỐ GIỐNG CHÓ CHÍNH TRÊN THẾ GIỚI Từ hàng trăm năm về trước, các nhà nhân giống đã cho phối chó đực và chó cái có những đặc điểm, chất lượng tốt để tạo ra chó con có đặc điểm giống bố mẹ chúng.
Những con chó dùng để phát triển những đặc điểm này gọi là chó giống. Hiện nay có khoảng 150 giống chó, chia thành 7 nhóm: chó thông minh, chó làm việc, chó thể thao, chó săn, chó chăn giữ gia súc, chó cảnh (Đỗ Hiệp, 1994). - Những chú chó thông minh có bộ lông cứng và mỏng. Những con chó này được nhân giống để săn bắt cáo và thỏ.
- Chó làm việc có thân hình rất khỏe mạnh và rất nghe lời. Giống chó này được nhân giống để kéo xe trượt tuyết đại diện gồm: chó Boxer, Dorberman pinscher, Rottwailer. - Chó thể thao như Pointers và Golden Retrieverf chúng được nhân giống để tha những con vịt và những chim hoang dã mà thợ săn bắt được. - Giống chó săn có khứu giác rất tốt, chúng giúp thợ săn lần ra được dấu vết của thỏ và những loài động vật nhỏ bé khác.
- Giống chó chăn giữ gia súc được nhân giống để trông giữ những vật nuôi trong các nông trại. - Giống chó cảnh có thân hình đẹp và nhỏ nhắn, chúng được nhân giống để 3 c làm người bạn đối với con người, đại diện của nhóm chó này gồm: giống chó Chihuahua, Japanese, Pekingese, Boston Terrie (Đỗ Hiệp, 1994; Lê Văn Thọ, 2006). MỘT SỐ GIỐNG CHÓ NUÔI Ở VIỆT NAM 2. Các giống chó địa phương - Giống chó Vàng: Đây là giống chó nuôi phổ biến nhất, có tầm vóc trung bình, cao 50 – 55 cm, nặng 12 – 15 kg, là giống chó săn được nuôi để giữ nhà, săn thú và làm thực phẩm.
Chó phối giống được ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Chó cái sinh sản được ở độ tuổi 12 - 14 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 7 con, trung bình 5 con (Phạm Sỹ Lăng và cs. - Giống chó Phú Quốc: nguồn gốc từ bán đảo Phú Quốc Việt Nam, thể hình khá lớn thể trọng bình quân lúc 12 - 15 tháng tuổi đạt từ 12,6 – 13,6 kg, cao 45,65 cm.
Đầu cân đối, trên trán có nếp nhăn, mắt đen linh hoạt, tai hướng về phía trước hình chữ V luôn thẳng đứng. Đường lưng thẳng, trên lưng có một xoáy dài. Đuôi khá dài, kiểu đuôi vòng uốn cong lên lưng, bộ lông ngắn dầy ôm sát thân, bóng mượt, màu sắc lông một màu có thể là vàng đen, vện hoặc úa (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1992; Lê Văn Thọ, 1997). Chó Phú Quốc được xếp vào loại chó quý ở Việt Nam, nó rất trung thành và nó có thể bắt cá nuôi chủ khi chủ ốm.
- Giống chó H' Mông: sống ở miền núi cao, được dùng giữ nhà và săn thú, có tầm vóc lớn hơn chó Vàng: chiều cao 55 – 60 cm, nặng 18 – 20 kg. Chó đực phối giống được ở 16 - 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản ở độ tuổi 12 - 15 tháng. Chó cái mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con. - Giống chó Lào: thường thấy ở trung du và miền núi, lông xồm màu hung có 2 vệt trắng trên mí mắt, có tầm vóc lớn hơn.
Cao 60 – 65 cm, nặng 18 – 25 kg. Chó đực có thể phối giống ở độ tuổi 16 - 18 tháng. Chó cái sinh sản ở độ tuổi 13 - 15 tháng. Mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con (Lê Văn Thọ, 1997).
Một số giống chó nhập ngoại - Giống chó Fox Chó Fox có nguồn gốc từ Pháp, du nhập vào nước ta đã lâu, Fox là giống chó nhỏ con tầm khoảng từ 1,5 - 2,5 kg ngoại hình nó nhìn như một con hươu thu nhỏ. Đầu nhỏ, tai to mà vểnh, sống mũi hơi gãy, mõm nhỏ và dài. Ngực chó Fox nở nang, bụng thon, bốn chân mảnh và cao nên chó chạy rất nhanh. Bộ lông chó Fox ngắn, có con lông sát như lông bò.
Chó Fox có nhiều màu gồm màu vàng bò, 4 c đen, bốn chân vàng, đôi chỗ có vá nâu hay vàng, có khi màu đen đặc biệt, phần mặt bao giờ cũng có vá hai bên, giữa sống mũi kéo dài lên đỉnh đầu là lằn đen hoặc trắng (Đỗ Hiệp, 1994; Lê Văn Thọ, 1997). Chó Fox có khả năng săn bắt những loài thú nhỏ. Vì vậy, nếu được huấn luyện tốt thì nó có thể trở thành giống chó săn thực thụ. Chó Fox giữ nhà rất giỏi, tiếng sủa lớn và dai, dám lăn xả vào kẻ thù mà cắn xé.
Đối với chủ nuôi, Fox rất trung tín, mến chủ, gặp là mừng rỡ quấn quýt bên chân rất dễ thương (Danh mục các giống chó). - Chó Berger Đức (German Shepherd dog) German Shepherd là giống chó có nguồn gốc từ Đức, được xác định đầu tiên tại Berlin (1899) là giống chó Berger lông ngắn và tại Hanover (1882) là giống chó Berger lông dài. Có giả thuyết cho rằng Berger Đức là giống chó được tạo ra từ sự tạp giao tự nhiên giữa giống chó chăn cừ và chó nhà. Hiện nay, giống này được phân bố ở khắp nơi trên thế giới, nhưng tập chung chủ yếu ở châu Âu.
Giống chó này rất thông minh, linh hoạt, dũng cảm, điềm tĩnh, biết vâng lời thân thiện với đồng loại cũng như với con người. Nhờ những đặc tính tuyệ vời này mà chó Berger được dùng cho nhiều lĩnh vực như: tìm kiếm, cứu hộ, trinh sát, bảo vệ (Nguyễn Văn Thanh và cs. Giống này được nhập vào nước ta từ những năm 1960. Ngoại hình có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó ở nước ta, dài 110 - 112 cm; cao 56 - 65 cm đối với chó đực và 62 - 66 cm đối với chó cái; trọng lượng 28 - 37 kg.
Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm. Đầu hình nêm; mũi phân thùy; tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen; răng to, khớp răng cắn khít. Chó đực có thể phối giống khi 24 tháng. Chó cái có thể sinh sản khi 18 - 20 tháng.