Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh học và biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn trichocephalus spp gây ra ở lợn tại tỉnh thái nguyên bắc kạn

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh học và biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalu spp gây ra ở lợn tại Thái Nguyên, Bắc Kạn.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Ký sinh trùng và VSV học thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2015

165
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalu spp ở lợn

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm dịch tễ của bệnh do giun tròn Trichocephalu spp gây ra ở lợn tại hai tỉnh Thái NguyênBắc Kạn. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun cao ở lợn nuôi theo phương thức truyền thống, đặc biệt trong điều kiện vệ sinh kém. Dịch tễ học chỉ ra rằng mùa mưa và độ ẩm cao là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của trứng giun. Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm như tuổi lợn, phương thức chăn nuôi và tình trạng vệ sinh thú y.

1.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn

Tỷ lệ nhiễm giun tròn Trichocephalu spp ở lợn tại Thái NguyênBắc Kạn dao động từ 30-50%, với cường độ nhiễm trung bình 200-300 giun/con. Lợn con có tỷ lệ nhiễm cao hơn lợn trưởng thành. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm giữa các vùng, với tỷ lệ cao hơn ở khu vực có điều kiện vệ sinh kém.

1.2. Yếu tố ảnh hưởng đến dịch tễ

Các yếu tố như phương thức chăn nuôi, tình trạng vệ sinh thú ykhí hậu đóng vai trò quan trọng trong sự lây lan của bệnh. Lợn nuôi theo phương thức truyền thống có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với lợn nuôi công nghiệp. Độ ẩm và nhiệt độ cao trong mùa mưa tạo điều kiện thuận lợi cho trứng giun phát triển.

II. Biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalu spp

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả cho bệnh do giun tròn Trichocephalu spp gây ra ở lợn. Các biện pháp bao gồm sử dụng thuốc tẩy giun, cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại và xử lý phân đúng cách. Kết quả thử nghiệm cho thấy hiệu quả của thuốc tẩy giun trong việc giảm tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun. Ngoài ra, việc áp dụng các kỹ thuật phòng bệnh như ủ phân và sử dụng thuốc sát trùng cũng giúp giảm đáng kể sự lây lan của bệnh.

2.1. Sử dụng thuốc tẩy giun

Các loại thuốc tẩy giun như Albendazole và Fenbendazole được đánh giá có hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ nhiễm giun tròn Trichocephalu spp. Thử nghiệm cho thấy tỷ lệ nhiễm giảm từ 50% xuống còn 10% sau 2 tháng điều trị. Thuốc cũng được đánh giá là an toàn cho lợn ở liều lượng khuyến cáo.

2.2. Cải thiện vệ sinh chuồng trại

Việc cải thiện vệ sinh chuồng trạixử lý phân đúng cách là biện pháp quan trọng trong phòng bệnh. Nghiên cứu đề xuất sử dụng các công thức ủ phân để tiêu diệt trứng giun. Kết quả cho thấy các công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt cao giúp tiêu diệt 90% trứng giun sau 2 tuần.

III. Đặc điểm bệnh học và chẩn đoán bệnh

Nghiên cứu mô tả chi tiết đặc điểm bệnh học của bệnh do giun tròn Trichocephalu spp gây ra ở lợn. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm tiêu chảy, còi cọc và giảm tăng trọng. Bệnh tích đại thể và vi thể được quan sát thấy ở ruột già, nơi giun ký sinh. Nghiên cứu cũng đề xuất các phương pháp chẩn đoán bệnh hiệu quả, bao gồm xét nghiệm phân và mổ khám.

3.1. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích

Lợn nhiễm giun tròn Trichocephalu spp thường biểu hiện các triệu chứng như tiêu chảy, còi cọc và giảm tăng trọng. Bệnh tích đại thể được quan sát thấy ở ruột già, với các vết loét và viêm nhiễm. Bệnh tích vi thể cho thấy sự xâm nhập của vi khuẩn kế phát tại các vị trí giun ký sinh.

3.2. Phương pháp chẩn đoán

Các phương pháp chẩn đoán bệnh bao gồm xét nghiệm phân để phát hiện trứng giun và mổ khám để xác định vị trí ký sinh của giun. Xét nghiệm phân được đánh giá là phương pháp đơn giản và hiệu quả trong chẩn đoán bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh học và biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn trichocephalus spp gây ra ở lợn tại tỉnh thái nguyên bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm sinh học của giun tròn Trichocephalus suis 1. Vị trí của giun Trichocephalus suis trong hệ thống phân loại động vật học Theo Skrjabin K. (1963) [39], Nguyễn Thị Lê và cs.

(1996) [31], vị trí của giun Trichocephalus suis trong hệ thống phân loại động vật như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933 Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928 Họ Trichocephalidae Baird, 1853 Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788 1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun tròn Trichocephalus suis ở lợn Giun Trichocephalus suis có đặc điểm hình thái, cấu tạo chung của lớp giun tròn thuộc ngành Nemathelminthes. Cơ thể đối xứng hai bên, có mặt lưng và mặt bụng, không phân đốt. Giun cái lớn hơn giun đực, ở giun đực đuôi cong, giun cái đuôi thẳng.

Mặt ngoài của giun Trichocephalus suis được phủ một lớp cutin, có vân ngang. Dưới lớp cutin là lớp hạ bì gồm một lớp tế bào dẹt. Trong cùng là lớp tế bào cơ. (1979) [40] đã mô tả chi tiết cấu tạo của giun Trichocephalus suis như sau: Giun Trichocephalus suis đực: chiều dài thân trung bình là 40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm.

Chiều dài của phần đầu trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); phần thân 15,1 mm (biến động từ 12 - 19 mm). Tỷ lệ chiều dài của phần đầu với phần thân là 1,68: 1. Thân con đực phủ lớp cutin được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ. Thực quản kéo dài dọc theo phần nhỏ của cơ thể và chuyển vào ruột ở chỗ ranh giới giữa phần nhỏ và 5 phần to của thân.

Chiều rộng của phần đầu thực quản là 0,035 - 0,44 mm; đoạn chuyển vào ruột là 0,074 - 0,092 mm. Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc xích. Ruột kết thúc bởi huyệt ở trên phần đuôi. Hệ thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần thân thân.

Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn. Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm. Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai, dài 0,084 - 0,110 mm.

Có bao gai bọc chung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ. Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56. Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm.

Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước: chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm. Tất cả các con đực đều có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay. Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; rộng 0,290 - 0,352 mm. Giun Trichocephalus suis cái: chiều dài thân trung bình là 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm.

Chiều dài phần đầu trung bình là 30,55 mm (biến động từ 25 - 35 mm), phần thân là 15 mm (biến động từ 13 - 18 mm). Như vậy, tỷ lệ giữa phần đầu và phần thân là 2,04:1. Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần đầu và phần thân, hơi dịch về phía sau, cạnh đầu cuối của thực quản có âm hộ. Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (rộng 0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm).

Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (dài 3 - 4 µm). Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng. Đuôi con cái tù. Trứng dài 0,056 - 0,066 mm, rộng 0,025 - 0,030 mm.

Theo Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [31], giun Trichocephalus suis đực dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần đầu cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần thân dài 14,00 - 15,00 mm, có dạng xoắn lò xo. Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối gai nhọn.

Bao gai phủ đầy gai nhỏ. Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi. Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần đầu cơ thể dài 23 - 33 mm. Ống sinh dục đơn.

Âm đạo có thành cơ dày, tử cung chứa đầy trứng. Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm. 6 Theo Phan Địch Lân và cs. (2005) [29], giun Trichocephalus suis đực dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao hợp dài 5 - 7 mm được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ.

Lỗ sinh tiết thông với ngoài ở phần cuối của giun. Giun Trichocephalus suis cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng. Hậu môn ở đoạn cuối cùng, âm hộ ở đoạn cuối thực quản. Trứng giun Trichocephalus suis hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm.

Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp. Phần đuôi cá thể đực; 2. Phần đuôi cá thể a: Trứng giun; b: Giun cái; c: Giun đực cái; 3. Lỗ sinh dục cái; 4.

Trứng (Nguồn: Phan Địch Lân và cs., 2005 [29] (Nguồn: Nguyễn Thị Lê và cs. Giun tròn Trichocephalus suis và trứng Alexandre Fernandes và cs. Trong lần nghiên cứu thứ hai, chiều dài trung bình của trứng giun Trichocephalus suis là 55,1 µm (biến động từ 53,5 - 54,5 µm), chiều rộng là 25,4 µm (biến động từ 25,0 - 25,8 µm). Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [25], giun Trichocephalus suis có màu trắng.

Cơ thể chia hai phần rõ rệt. Phần đầu nhỏ như sợi tóc, chiếm 2/3 chiều dài cơ thể, bên dưới lớp biểu bì là thực quản. Phần thân ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Vòng đời của giun Trichocephalus suis ở lợn Trong bộ Trichocephalata có những ký sinh trùng phát triển trực tiếp, không cần ký chủ trung gian và có những ký sinh trùng phát triển qua ký chủ trung gian, cũng có những ký sinh trùng phát triển theo cả 2 cách trên.

Giống 7 Trichocephalus (trong đó có loài Trichocephalus suis) thuộc loại phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian. Vòng đời của giun Trichocephalus suis gồm 2 giai đoạn: một giai đoạn ở ngoại cảnh, trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh (có ấu trùng bên trong); giai đoạn thứ hai ở ký chủ, trứng có sức gây bệnh phát triển thành giun trưởng thành; không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ. (1935) [81] cho biết: nhiệt độ là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát triển của trứng giun Trichocephalus suis ở ngoại cảnh. Tác giả đã nghiên cứu sự phát triển của trứng giun Trichocephalus suis trong nước và trong phân lợn ở các mức nhiệt độ khác nhau.

Kết quả cho thấy: ở trong môi trường nước có nhiệt độ 37,5oC, đến ngày thứ 18 của thí nghiệm thì 100% số trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh; với nhiệt độ 33oC, ở ngày thứ 22 có 20% số trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh, ngày thứ 25 tất cả số trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh. Trong phân lợn, ở nhiệt độ 22 - 24oC, sang ngày thứ 54 của thí nghiệm, thấy 30% số trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh, 100% số trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh ở ngày thứ 60; khi nhiệt độ dao động trong khoảng 6,1 - 24,5oC thì thời gian cần thiết để trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh dài hơn so với nhiệt độ 22 - 24oC (chỉ thấy 10% số trứng có sức gây bệnh ở ngày thứ 210 của thí nghiệm). Như vậy, khi nhiệt độ môi trường càng thấp, sự phân chia phôi bào trong trứng Trichocephalus suis diễn ra càng chậm, thời gian để trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh càng dài và ngược lại. A - Trứng giun Trichocephalus suis mới thải theo phân, B - Ngày thứ 1 của thí nghiệm C - Ngày thứ 2 của thí nghiệm, D - Ngày thứ 5 của thí nghiệm E - Ngày thứ 7 của thí nghiệm, F - Ngày thứ 12 của thí nghiệm G - Ngày thứ 16 của thí nghiệm, H - Ngày thứ 18 của thí nghiệm Hình 1.

Sự phát triển của trứng giun Trichocephalus suis trong nước ở nhiệt độ 37,5oC (Nguồn: Joseph Alicata E. (1979) [40] cho biết: trứng giun Trichocephalus suis được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại cảnh. Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh từ 3 - 4 tuần. Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng.

Theo Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1990) [12], giun Trichocephalus suis sống được trong cơ thể lợn là 114 ngày. Đào Trọng Đạt và cs. (2013) [120] cho biết, tuổi thọ của giun Trichocephalus suis ở lợn là 4 - 5 tháng. Nghiên cứu của Bonner Stewart T.

(2000) [2] cho thấy: những ấu trùng giun Trichocephalus suis nằm sâu trong niêm mạc ruột 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ruột ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành, có đầu nhỏ cắm sâu vào niêm mạc ruột già. Theo Phan Địch Lân và cs. (2005) [29], giun Trichocephalus suis cái đẻ trứng trong ruột già ký chủ, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày phát triển thành trứng có sức gây bệnh. Theo Phan Địch Lân và cs.

(2005) [29], Phạm Sỹ Lăng và cs. (2011) [28], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [25], thời gian hoàn thành vòng đời của giun Trichocephalus suis là 30 ngày. Ames (2005) [59] cho biết: ở nhiệt độ 22oC, trứng Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh sau 54 ngày. Nhưng khi nhiệt độ dao động từ 6oC - 24oC, trứng Trichocephalus suis cần 7 tháng để phát triển thành trứng có sức gây bệnh.

Trứng giun Trichocephalus suis có sức gây bệnh có thể tồn tại khá lâu trong đất. Khi lợn ăn phải trứng này, ở trong ruột, trứng nở ra và ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành sau 4 đến 5 tuần (Leland Shapiro S. (2010) [106], thời gian để trứng giun Trichocephalus suis phát triển thành trứng có sức gây bệnh từ 3 tuần đến 2 tháng, tùy thuộc vào nhiệt độ của môi trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalu spp ở lợn tại Thái Nguyên, Bắc Kạn" tập trung vào việc phân tích các đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun tròn Trichocephalu spp ở lợn, đồng thời đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về tình hình bệnh, yếu tố nguy cơ, và cách thức kiểm soát bệnh, giúp người đọc hiểu rõ hơn về vấn đề sức khỏe động vật và áp dụng các giải pháp phù hợp trong thực tế. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và chuyên gia thú y.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến dịch bệnh và biện pháp phòng chống, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn điều tra thành phần bệnh hại cây con ở giai đoạn vườn ươm và đề xuất biện pháp phòng chống dịch hại tổng hợp tại Thái Nguyên, nghiên cứu về các biện pháp phòng chống dịch hại tổng hợp. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân trên giống chè Kim Tuyên tại tỉnh Phú Thọ cũng cung cấp thông tin về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học khảo sát ảnh hưởng của oligochitosan lên khả năng chịu hạn của cây mạ lúa Oryza sativa L là một nghiên cứu thú vị về khả năng chống chịu của cây trồng, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp bảo vệ thực vật và động vật.