Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê nghé nuôi tại huyện bình gia tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê nghé tại huyện Bình Gia, Lạng Sơn, đề xuất biện pháp phòng trị hiệu quả.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

82
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu dịch tễ bệnh giun đũa ở bê nghé

Nghiên cứu tập trung vào đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa ở bê nghé tại huyện Bình Gia, Lạng Sơn. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh cao, đặc biệt ở các vùng có điều kiện vệ sinh kém. Bệnh giun đũa do Neoascaris vitulorum gây ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của bê nghé. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bệnh thường xuất hiện vào mùa đông và xuân, khi điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của trứng giun.

1.1. Tình hình nhiễm giun đũa

Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê nghé tại huyện Bình Gia dao động từ 32,89% đến 86,7%, tùy thuộc vào điều kiện chăn nuôi và vệ sinh. Bê nghé dưới 3 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất, đặc biệt là ở các vùng núi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bệnh thường xuất hiện vào mùa đông và xuân, khi điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của trứng giun.

1.2. Sự phát triển của trứng giun đũa

Trứng giun đũa có khả năng tồn tại lâu trong môi trường, đặc biệt là trong phân và đất. Nghiên cứu cho thấy, trứng giun phát triển thành trứng có sức gây bệnh trong khoảng 7-38 ngày, tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm. Điều này làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh giun đũa ở bê nghé.

II. Biện pháp phòng trị bệnh giun đũa

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả để giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh giun đũa ở bê nghé. Các biện pháp bao gồm sử dụng thuốc tẩy giun, cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại, và quản lý chặt chẽ nguồn thức ăn và nước uống. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc sử dụng thuốc sát trùng có thể diệt trứng giun trong môi trường, giảm nguy cơ lây nhiễm.

2.1. Hiệu lực của thuốc tẩy giun

Các loại thuốc tẩy giun như Albendazole và Ivermectin được chứng minh là có hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh giun đũa ở bê nghé. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng thuốc tẩy giun định kỳ giúp giảm tỷ lệ nhiễm bệnh và cải thiện sức khỏe của đàn bê nghé.

2.2. Cải thiện điều kiện vệ sinh

Cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại là một trong những biện pháp quan trọng để phòng ngừa bệnh giun đũa. Nghiên cứu khuyến cáo việc thường xuyên dọn dẹp phân và sử dụng thuốc sát trùng để tiêu diệt trứng giun trong môi trường.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễbiện pháp phòng trị bệnh giun đũa ở bê nghé. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng các chính sách và biện pháp quản lý bệnh giun đũa, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và phát triển kinh tế tại huyện Bình Gia, Lạng Sơn.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu làm sáng tỏ các đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa, bao gồm tỷ lệ nhiễm, sự phát triển của trứng giun, và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lây lan bệnh. Đây là nguồn thông tin quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về bệnh giun đũa ở bê nghé.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp người chăn nuôi áp dụng các biện pháp phòng trị hiệu quả, giảm thiểu thiệt hại do bệnh giun đũa gây ra. Đồng thời, nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi và phát triển kinh tế tại địa phương.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở bê nghé nuôi tại huyện bình gia tỉnh lạng sơn và biện pháp phòng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thường xảy ra hầu khắp các nơi trên thế giới. và cs (1990) [51], kiểm tra phân của 20 bê nghé trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng /gam phân.

(1993) [42] cho biết, bê ở khu vực Barsa (Thổ Nhĩ Kỳ) bị nhiễm Neoascaris vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân. Ấu trùng cũng được tìm thấy trong mẫu sữa. Đồng cỏ là nơi có nhiều trứng giun nên làm bê nghé bị nhiễm bệnh nhanh. Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái khác nhau là khác nhau.

(1996) [54] đã kiểm tra 75 mẫu phân bê nghé từ 9 - 115 ngày tuổi, thấy có 86,7% bê nghé nhiễm giun đũa. Số lượng trứng cao nhất khi 45 ngày tuổi. (1990) [53], tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng đầu sau khi sinh ở vùng Đông Nam Á tới 30% do giun Neoascaris vitulorum và S. Gupta và cs (1985) [47] cho biết, trong 1626 bê ở bang Haryana (Ấn Độ) có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: giun móc 44,2%; giun đũa 15,2%; giun đầu gai 6,2%.

Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (62,8%) cao hơn trong mùa xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và mùa đông (52,2%). Trong 2411 nghé ở Bang Haryana có 62,9% nhiễm ký sinh trùng, trong đó giun đũa là 29,1%; giun móc 20,7%; giun đầu gai 9,2% và cầu trùng 5,2%. Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (69,8%) và mùa hè (67,8%), cao hơn mùa xuân (51,9%) và mùa đông (56,3%). Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê, nghé là một bệnh rất phổ biến.

Nghé có triệu chứng đặc trưng là phân có màu trắng, nên nhân dân thường gọi là bệnh 4 "Nghé ỉa phân trắng". Năm 1923, Phạm Văn Long đã thông báo về một ca bệnh trên nghé. Nhưng đến đầu năm 50, bệnh này mới thực sự được chú ý vì nó gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết bệnh giun đũa bê, nghé thấy ở tất cacr các nước trên thế giới.

Ở các nước nhiệt đới tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé cao, gây nhiều thiệt hại. Ở Việt Nam bệnh thấy nhiều ở bê, nghé nội: bê, nghé của các giống trâu, bò nhập nội hướng thịt và sữa. Ở các cơ sở nuôi bò sữa ở Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phúc, bê bị nhiễm giun đũa từ 10 - 18%. Bệnh thấy ở bê, nghé tại tất cả các vùng miền núi, trung du và đồng bằng, nhưng phổ biến nhất là nghé ở miền núi.

Ở miền núi nước ta, trâu, bò thường đẻ vào tháng 11, 12 và tháng 1, do vậy bệnh thường phát vào tháng 12, 1 và tháng 2. Trứng giun đũa có sức gây bệnh đề kháng mạnh với điều kiện ngoại cảnh trứng chỉ bị diệt ở nhiệt độ 450C trở lên và dưới ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp. Mùa đông thiếu cỏ, trâu, bò mẹ không đủ sữa cho con bú nên bê, nghé dễ mắc bệnh. Tỷ lệ nhiễm: Theo số liệu thống kê có 39,1% nghé đẻ ra bị nhiễm bệnh, số chết chiếm 3,8% so với số nghé mắc bệnh.

Lê Thị Thanh Nhàn (2008) [26], bê, nghé ở Tuyên Quang nhiễm giun đũa với tỷ lệ 32, 89% trong đó bê, nghé bình thường nhiễm 27,87%, bê, nghé tiêu chảy chiếm 51,56%. Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [28] cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ. Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới. Ở nước ta, bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc đồng bằng trung du, miền núi.

Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường thả rông đi theo mẹ đi ăn. Tô Du (2005) [4] cho biết, bệnh giun đũa ở bê nghé hay mắc từ 15 - 60 ngày tuổi vì trong đất nền chuồng, hoặc ngoài bãi cỏ có dính trứng giun đũa, 5 bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh. Bệnh thường gặp nhiều ở nghé đẻ vào vụ Đông - Xuân. Bệnh giun đũa bê nghé thường thấy ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi ở các vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, đồng bằng và ở các cơ sở chăn nuôi trâu bò sữa (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân, 1999 [18]).

Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [22] cho biết bê nghé nuôi ở vùng núi bị bệnh giun đũa nhiều hơn so với vùng trung du và đồng bằng. Ở nước ta bê, nghé thường bị bệnh vào tháng 12, 1, 2 hàng năm (vụ Đông - Xuân), do trâu bò thường đẻ vào các tháng 11, 12, 1. Bê, nghé mắc bệnh giun đũa sớm nhất là 14 ngày tuổi, nhiều nhất ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở 65 ngày tuổi, trâu bò không mắc bệnh. Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 1.

Vị trí của giun đũa bê, nghé trong hệ thống phân loại động vật. Theo Phan Thế Việt và cs. (1977) [39], giun đũa bê nghé có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau: Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945 Giống Neoascaris Travassos, 1927 Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782. Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum.

Theo Lê Hữu Khương (2012)[10]; Nguyễn Thị Kim Lan (2015) [12]; Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba lá môi, rìa của những môi này có răng cưu , thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng 6 thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu. Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm. Giun cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070 - 0,075 mm.

Phan Lục (2005) [23] cho biết , giun đũa có kích thước to, vàng nhạt, dài 13 - 22 cm,, trên đầu có 3 môi. Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ dày giả. Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau. Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75 mm.

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: Giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81 mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19 mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành 2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép. Giun cái dài 151 - 200 mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42 mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076 - 0,095 x 0,065 - 0,080 mm. Theo mô tả của Urquhart G. và cs (1996) [56] thì giun đũa T.

viturlorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của ở bê nghé, giun cái dài có thể đến 30,00 cm. Giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy được các cơ quan nội tạng, trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt. Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum Vòng đời của giun đũa bê nghé không cần ký chủ trung gian. Nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có súc gây bệnh thì bê đẻ ra 7 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa.

Điều đó chứng tỏ giun đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai. Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai. Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Nguyễn Hùng Nguyệt và cs, 2008 [24]). Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết giun cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, phát triển thành trứng có sức gây bệnh (ở t0 15 - 170C cần 38 ngày, 19 - 220C cần 20 ngày, 250C cần 10 - 12 ngày, 28 - 300C cần 7 ngày, 31 - 320C cần 6 ngày.

Nhưng ở nhiệt độ 34 - 350C thì trứng không phát triển). Bê, nghé mắc bệnh giun đũa do 2 cách nhiễm; - Nhiễm trực tiếp: Bê, nghé nuốt trứng giun đũa, trứng nở thành ấu trùng ở ruột non, chui vào mạch máu, niêm mạc, theo máu về gan. Một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột rồi vào gan, sau khi nhiễm 4 - 5 ngày hầu hết ấu trùng di hành tới phổi sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất là sau 12 ngày vẫn có ấu trùng ở phổi, khi đi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ 3, ấu trùng này từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản rồi cùng với niêm dịch ấu trùng lên hầu, được nuốt xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển thành trứng trưởng thành. - Nhiễm qua bào thai: Nếu cho bê nuốt trứng giun đũa có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thầy giun đua trưởng thành ở cơ thể bê.

Ngoài ra nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 129 ngày nuốt trứng giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 -31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa. Điều đó chứng tỏ, giun đũa bê, nghé có thể từ cơ thể mẹ truyền vào bào thai. Phạm Sỹ Lăng (2005) [15] cũng cho biết, bệnh giun đũa bê, nghé lây nhiễm qua 2 con đường: 8 - Qua đường tiêu hóa do bê, nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm. - Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai.

Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng trị bệnh giun đũa ở bê nghé tại huyện Bình Gia, Lạng Sơn" tập trung vào việc phân tích các đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa ở bê nghé, đồng thời đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về tình hình bệnh tại địa phương mà còn đưa ra các giải pháp thiết thực giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi, giảm thiểu thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những người quan tâm đến lĩnh vực thú y và chăn nuôi.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến bệnh hại trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn điều tra thành phần bệnh hại cây con ở giai đoạn vườn ươm và đề xuất biện pháp phòng chống dịch hại tổng hợp tại Thái Nguyên, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các loại bệnh hại cây trồng và cách phòng chống. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất chè vụ đông xuân trên giống chè Kim Tuyên tại tỉnh Phú Thọ cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước và khoảng cách mật độ cấy đến sinh trưởng phát triển lúa Séng Cù tại huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái sẽ mang đến những thông tin bổ ích về quản lý và canh tác cây trồng. Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và thú y.