Tổng quan luận án

Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do ký sinh trùng thuộc giống Plasmodium gây ra, lan truyền qua trung gian là muỗi Anopheles. Mặc dù Chương trình Phòng chống sốt rét Quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc hạ thấp tỷ lệ mắc và tử vong trên cả nước, tình hình sốt rét tại một số khu vực vẫn diễn biến phức tạp. Trong giai đoạn 2010–2015, hai tỉnh Bình Phước và Gia Lai chiếm tới 50% tổng số trường hợp mắc sốt rét lâm sàng và sốt rét có ký sinh trùng của cả nước, đồng thời xuất hiện tình trạng ký sinh trùng Plasmodium falciparum kháng thuốc phối hợp artemisinin (ACTs).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc kiểm soát sốt rét tại các vùng trọng điểm gặp nhiều trở ngại do đặc thù di biến động dân cư (người đi rừng, ngủ rẫy, giao lưu qua lại biên giới phục vụ mục đích kinh tế) và sự lan rộng của các chủng ký sinh trùng mang đột biến kháng thuốc. Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Văn Quân với đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét và biện pháp phòng chống tăng cường tại vùng sốt rét có dân di biến động ở Bình Phước và Gia Lai (2016 -2017)", chuyên ngành Dịch tễ học (mã số 972 01 17), thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Trần Thanh Dương và TS. Ngô Đức Thắng tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (Hà Nội, 2020), được triển khai nhằm giải quyết các vấn đề trên.

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng sốt rét và yếu tố liên quan ở vùng sốt rét lưu hành có dân di biến động tại huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước và huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai, năm 2016.
  2. Xác định một số đặc điểm đột biến gen K13 kháng artemisinin trên bệnh nhân nhiễm Plasmodium falciparum.
  3. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp tăng cường phòng chống sốt rét tại vùng có dân di biến động, năm 2017.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Không gian: Nghiên cứu thực địa được tiến hành tại 4 xã thuộc 2 huyện trọng điểm sốt rét: xã Bù Gia Mập và xã Đắk Ơ (huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước); xã Chư R'Căm và xã Ia HDreh (huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai).
  • Thời gian: Điều tra cắt ngang thu thập số liệu dịch tễ học, côn trùng và sinh học phân tử vào tháng 4 năm 2016; can thiệp và đánh giá hiệu quả sau 12 tháng vào năm 2017.
  • Đối tượng: Người dân thuộc mọi lứa tuổi, giới tính và dân tộc sống trong vùng nghiên cứu; ký sinh trùng sốt rét thu thập từ các đối tượng nghiên cứu; các loài muỗi Anopheles truyền bệnh thu thập tại thực địa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các vấn đề dịch tễ học sốt rét trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Dịch tễ học và căn nguyên bệnh sốt rét: Tác giả điểm lại 5 loài ký sinh trùng sốt rét gây bệnh ở người gồm Plasmodium falciparum, P. vivax, P. malariae, P. ovale và P. knowlesi. Theo báo cáo của WHO (2017), P. falciparum chiếm khoảng 99% ca bệnh tại châu Phi, trong khi P. vivax chiếm tỷ lệ cao tại Nam Mỹ (64%) và Đông Nam Á (>30%). Tại Việt Nam, có sự hiện diện của cả 5 loài; trong đó P. knowlesi lần đầu tiên được phát hiện tại Ninh Thuận năm 2007 qua hợp tác nghiên cứu Việt - Bỉ, sau đó ghi nhận thêm tại Khánh Hòa và Quảng Trị. Về véc tơ truyền bệnh, trong hơn 60 loài Anopheles tại Việt Nam, có 3 véc tơ chính là An. minimus, An. dirus và An. epiroticus. Tại Bình Phước và Gia Lai, hai véc tơ truyền bệnh chính được xác định là An. dirus và An. minimus.
  • Di biến động dân cư và sốt rét biên giới: Catherin Smith chỉ ra 3 yếu tố liên quan giữa dân di biến động và sốt rét: phát triển kinh tế, thay đổi quyền sở hữu đất lâm - nông nghiệp, và sự du nhập ký sinh trùng ngoại lai qua biên giới. Nghiên cứu của Jan E Conn (2002) tại Trung và Nam Mỹ, cũng như báo cáo của Tổ chức Di dân Thế giới (2013) cho thấy biến động dân cư làm thay đổi mô hình lây truyền bệnh. Tại Việt Nam, kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 và 2014 phản ánh xu hướng di cư tự do vì lý do kinh tế vào khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Nghiên cứu của Ron P. Marchand và cộng sự tại Khánh Phú (Khánh Hòa) khẳng định người mới di cư đến vùng sốt rét lưu hành có nguy cơ nhiễm bệnh ngay trong tháng đầu tiên làm việc. Báo cáo năm 2014 của Trung tâm PCSR Nghệ An và Thanh Hóa ghi nhận tỷ lệ cao ký sinh trùng ngoại lai có nguồn gốc từ người lao động đi làm thuê tại Bình Phước, Gia Lai và Đắk Lắk trở về.
  • Ký sinh trùng kháng thuốc và chỉ thị phân tử gen K13: Tổ chức Y tế Thế giới công nhận tình trạng kháng thuốc ở P. falciparum, P. vivax và P. malariae. Năm 2013, Ariey và cộng sự xác định gen K13 (domain Kelch propeller - pfk13) trên nhiễm sắc thể 13 là chỉ thị phân tử của tình trạng P. falciparum kháng artemisinin. WHO khuyến cáo 14 vị trí đột biến gen K13 liên quan đến kháng artemisinin, trong đó có 5 đột biến khẳng định (N458Y, Y493H, R539T, I543T, C580Y) và 9 đột biến nghi ngờ/liên quan (P441L, F446L, G449A, G538V, P553L, R561H, V568G, P574L, A675V). Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Huỳnh Hồng Quang, Nguyễn Thúy Nhiên, Bùi Quang Phúc, Kamala Thriemer và cộng sự (2014) tại Quảng Nam và Gia Lai; Trương Văn Hạnh và cộng sự (2015); Ngô Việt Thành, Nguyễn Thúy Nhiên và cộng sự (2017) đã chứng minh sự gia tăng đột biến C580Y tại Bình Phước từ 1,7% (2009–2010) lên 79,1% (2015–2016), kéo theo tỷ lệ thất bại điều trị muộn của phác đồ Dihydroartemisinin - Piperaquine (DHA-PPQ).
  • Các nghiên cứu can thiệp phòng chống sốt rét tại cộng đồng: Luận án điểm lại các công trình can thiệp tại Việt Nam như nghiên cứu truyền thông giáo dục sức khỏe của Nguyễn Xuân Xã (2015) tại Đức Cơ (Gia Lai); can thiệp tình nguyện viên cộng đồng của Phùng Thị Kim Huệ (2015) tại Gia Lai; can thiệp kem xua Soffell (13% DEET) kết hợp màn tẩm hóa chất Permanet 2.0 của Chế Ngọc Thạch (2014) tại Bình Thuận; nghiên cứu hóa chất xua diệt của Bùi Lê Duy (2017); nghiên cứu hiệu lực thuốc DHA-PPQ và Chloroquin của Vũ Văn Thái (2014) và Huỳnh Hồng Quang (2014).

Vị trí của luận án: Luận án tập trung giải quyết đồng bộ từ việc xác định các yếu tố nguy cơ dịch tễ học ở nhóm dân di biến động, phân tích thực trạng đột biến phân tử gen K13 tại thực địa, đến việc thử nghiệm và đánh giá mô hình can thiệp tăng cường kết hợp y tế cơ sở, quân dân y và các biện pháp bảo vệ cá nhân (kem xua Soffell, màn tẩm hóa chất) tại 2 huyện có tỷ lệ mắc cao nhất cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên lý thuyết dịch tễ học bệnh truyền nhiễm kinh điển (nguồn truyền nhiễm, trung gian truyền bệnh, khối cảm thụ) và lý thuyết miễn dịch học sốt rét theo Werndorfer (1990) về đáp ứng miễn dịch dịch thể và tế bào. Về mặt sinh học phân tử, nghiên cứu áp dụng nguyên lý đa hình di truyền trên domain Kelch propeller của gen PF3D7_1343700 để xác định tính kháng artemisinin.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể cho từng mục tiêu được thiết kế như sau:

Hạng mục Mục tiêu 1 (Thực trạng & Yếu tố liên quan) Mục tiêu 2 (Đột biến gen K13) Mục tiêu 3 (Đánh giá can thiệp tăng cường)
Thiết kế Dịch tễ học mô tả cắt ngang có phân tích Nghiên cứu sinh học phân tử mô tả cắt ngang Can thiệp cộng đồng, so sánh trước - sau 12 tháng
Địa bàn Xã Bù Gia Mập, Đắk Ơ (Bình Phước); xã Chư R'Căm, Ia HDreh (Gia Lai) Huyện Bù Gia Mập (Bình Phước) và huyện Krông Pa (Gia Lai) 4 xã nghiên cứu tại Bình Phước và Gia Lai
Cỡ mẫu $n = 2008$ người (khám lâm sàng, xét nghiệm máu); $n = 605$ hộ (phỏng vấn KAP) $n = 20$ mẫu tại Bù Gia Mập; $n = 6$ mẫu tại Gia Lai $n = 1851$ người theo dõi sau 12 tháng; $n = 605$ hộ phỏng vấn KAP
Kỹ thuật thu thập Khám sốt, khám lách Hackett, nhuộm Giemsa giọt đặc soi KHV quang học, phỏng vấn bộ câu hỏi Lấy mẫu máu thấm trên giấy thử, bảo quản chống ẩm; tách chiết DNA ký sinh trùng Điều tra dịch tễ học cắt ngang sau can thiệp 12 tháng bằng lam máu giọt đặc và phỏng vấn KAP
Kỹ thuật xét nghiệm Kính hiển vi quang học đếm mật độ KST/mm³ máu; 5 kỹ thuật bắt muỗi (MNTN, MNNNĐ, MNTR, BĐTĐ, SCGSĐ) Kỹ thuật Nested PCR (PCR1, PCR2 thể tích 50µl); điện di sản phẩm PCR trên gel agarose; giải trình tự nucleotide Khám lâm sàng đo thân nhiệt, xét nghiệm lam máu giọt đặc nhuộm Giemsa 4%

Công thức tính cỡ mẫu điều tra mắc sốt rét áp dụng cho một tỷ lệ hiện mắc tại mỗi xã: $$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{1-p}{\varepsilon^2 \cdot p}$$ Trong đó:

  • $p = 0{,}1$ (tỷ lệ mắc sốt rét ước tính dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Xuân Xã năm 2015 tại Đức Cơ - Gia Lai là 10,3%).
  • Độ tin cậy 95% tương ứng $Z_{1-\alpha/2} = 1{,}96$.
  • Sai số tương đối mong muốn $\varepsilon = 0{,}27$. Cỡ mẫu tối thiểu tính toán là 469 người/xã. Thực tế thu thập tại 4 xã là: Bù Gia Mập (516 người), Đắk Ơ (511 người), Chư R'Căm (500 người), Ia HDreh (481 người); tổng cộng $n = 2008$ người. Cỡ mẫu phỏng vấn kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) chọn 150 hộ/xã, thực tế phỏng vấn được 605 chủ hộ gia đình.

Phương pháp chọn mẫu: Chọn chủ đích 2 huyện và 4 xã điểm nóng sốt rét. Chọn cụm toàn bộ các hộ gia đình và thành viên trong 6 thôn của 2 xã thuộc tỉnh Bình Phước và 6 thôn của 2 xã thuộc tỉnh Gia Lai.

Kiểm soát sai số và đạo đức nghiên cứu:

  • Công cụ điều tra được thiết kế chuẩn hóa, thử nghiệm thực địa trước khi áp dụng; điều tra viên được tập huấn kỹ thuật.
  • Lam máu được kiểm tra chéo bởi các kỹ thuật viên của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.
  • Nghiên cứu được thông qua hội đồng đạo đức, bảo đảm tính tự nguyện của đối tượng nghiên cứu; mọi trường hợp phát hiện có ký sinh trùng sốt rét được cung cấp thuốc điều trị miễn phí theo đúng phác đồ quy định của Bộ Y tế ban hành năm 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1 tổng hợp các cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch tễ học sốt rét, tập trung vào 4 nhóm nội dung chính:

  • Dịch tễ học bệnh sốt rét: Phân tích nguồn truyền nhiễm, chu kỳ sinh học của 5 loài ký sinh trùng, đặc tính miễn dịch thu được không bền vững và không đặc hiệu theo Werndorfer. Phân tích sinh thái học của 2 loài véc tơ chính tại địa bàn nghiên cứu là Anopheles dirus (phức hợp loài A, D sống ở rừng sâu, vũng nước đọng, đốt người cả trong và ngoài nhà) và Anopheles minimus (loài A ưa đốt trong nhà, loài C ưa đốt ngoài nhà).
  • Dân di biến động và các yếu tố liên quan: Tổng kết tác động của di cư mùa vụ, di cư tự do do kinh tế và biến đổi khí hậu đến nguy cơ lan truyền bệnh sốt rét. Phân tích điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn tại Bù Gia Mập và Krông Pa, nơi có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 84,13% (xã Ia HDreh lên tới 100%), nhà ở tạm bợ (vách gỗ 48,26%, vách tre nứa 4,30%), khoảng cách đến trạm y tế từ 15 đến 30 km.
  • Tình hình ký sinh trùng kháng artemisinin và gen K13: Trình bày định nghĩa kháng artemisinin của WHO (2018), cơ chế phân tử của vùng Kelch propeller trên gen K13 (pfk13), 14 vị trí đột biến điểm theo khuyến cáo của WHO và thực trạng kháng thuốc DHA-PPQ tại Việt Nam từ năm 2010 đến 2016.
  • Các biện pháp can thiệp cộng đồng: Đánh giá hiệu lực của các biện pháp phòng chống véc tơ (màn tẩm hóa chất lưu hành lâu dài Permanet 2.0, kem xua muỗi Soffell chứa 13% DEET cho hiệu lực xua muỗi An. dirus đạt 89–90% trong 6–7 giờ) và phác đồ điều trị sốt rét theo hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2016.

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình triển khai nghiên cứu cho từng mục tiêu:

  • Quy trình điều tra dịch tễ học cắt ngang mô tả có phân tích: Thăm khám lâm sàng, đo thân nhiệt bằng nhiệt kế điện tử, khám lách to theo thang phân loại Hackett, lấy máu đầu ngón tay làm tiêu bản giọt đặc nhuộm Giemsa 4% trong 45 phút, soi kính hiển vi quang học xác định loài và tính mật độ ký sinh trùng trên 1 mm³ máu.
  • Quy trình phỏng vấn KAP: Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc phỏng vấn 605 chủ hộ về hiểu biết nguyên nhân, triệu chứng, biện pháp phòng chống, thói quen ngủ màn, đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới và hành vi lựa chọn dịch vụ y tế khi sốt.
  • Quy trình kỹ thuật sinh học phân tử xác định đột biến gen K13: Tách chiết DNA, pha chế hóa chất thực hiện phản ứng PCR khuếch đại đoạn gen K13 qua 2 vòng (PCR1 và PCR2 thể tích 50µl), điện di kiểm tra sản phẩm trên gel agarose, giải trình tự chuỗi nucleotide và gióng hàng đối chiếu trình tự chuẩn trên NCBI để xác định các đột biến nucleotide và đột biến thay thế axit amin.
  • Quy trình điều tra côn trùng: Áp dụng 5 kỹ thuật chuẩn của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương gồm mồi người trong nhà (MNTN), mồi người ngoài nhà đêm (MNNNĐ), mồi người trong rừng (MNTR), bẫy đèn trong nhà đêm (BĐTĐ) và soi chuồng gia súc đêm (SCGSĐ).
  • Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu dịch tễ học, so sánh tỷ lệ bằng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), tính toán tỷ số chênh (OR) với khoảng tin cậy 95% để xác định mối liên quan giữa các yếu tố di biến động với tình trạng mắc sốt rét.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu được từ các cuộc điều tra và thử nghiệm:

  • Thực trạng mắc sốt rét và các yếu tố liên quan năm 2016:
    • Khảo sát trên 2008 người dân tại 4 xã ghi nhận tỷ lệ sốt rét lâm sàng, tỷ lệ lách to, tỷ lệ mang ký sinh trùng sốt rét trong máu qua xét nghiệm lam máu kính hiển vi. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng được phân tích chi tiết theo địa bàn xã, giới tính, nhóm tuổi, dân tộc và thành phần loài ký sinh trùng (P. falciparum và P. vivax).
    • Phân tích mối liên quan giữa tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét với các yếu tố di biến động: Thói quen đi rừng làm nương rẫy, tần suất ngủ lại trong rừng/rẫy, thời gian ở trong rừng và tiền sử qua lại biên giới Campuchia ($n = 2008$).
    • Khảo sát KAP trên 605 chủ hộ: Tỷ lệ người dân hiểu đúng nguyên nhân truyền bệnh do muỗi đốt, nhận biết các triệu chứng sốt rét, tỷ lệ hộ gia đình sở hữu màn, thói quen sử dụng màn thường xuyên, biện pháp bảo vệ cá nhân khi đi rừng ngủ rẫy và lựa chọn cơ sở y tế khi xuất hiện triệu chứng sốt.
    • Thành phần và mật độ muỗi: Ghi nhận sự phân bố và mật độ muỗi Anopheles bắt được qua các kỹ thuật tại xã Ia HDreh, xã Chư R'Căm (huyện Krông Pa) và xã Đắk Ơ, xã Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập).
  • Kết quả phân tích đột biến gen K13:
    • Tại huyện Bù Gia Mập (tỉnh Bình Phước): Phân tích 20 mẫu phân lập P. falciparum, gióng hàng trình tự nucleotide và axit amin trên 19 mẫu hoàn chỉnh, xác định tần suất và các vị trí đột biến trên domain Kelch propeller của gen K13.
    • Tại huyện Krông Pa (tỉnh Gia Lai): Phân tích và gióng hàng trình tự 6 mẫu phân lập P. falciparum, xác định các đột biến nucleotide và đột biến axit amin tương ứng.
  • Hiệu quả của mô hình can thiệp tăng cường sau 12 tháng:
    • Đánh giá trên 1851 người dân được theo dõi lại sau 12 tháng can thiệp (922 người tại Bù Gia Mập và 929 người tại Krông Pa): Ghi nhận sự suy giảm có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét trong máu.
    • Đánh giá trên 605 hộ gia đình: Sự cải thiện rõ rệt về tỷ lệ hiểu biết nguyên nhân gây bệnh, khả năng phòng chống bệnh, nhận biết triệu chứng, tỷ lệ sử dụng màn thường xuyên tại nhà và tỷ lệ sử dụng màn/võng tẩm hóa chất khi đi rừng, làm rẫy hoặc qua lại biên giới ($n = 76$).

Chương 4: BÀN LUẬN

Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện nghiên cứu với các công trình trong nước và quốc tế:

  • Luận giải mối liên quan mật thiết giữa hành vi đi rừng, ngủ rẫy, giao lưu biên giới và tình trạng mắc sốt rét. Tác giả chỉ ra rằng điều kiện kinh tế nghèo khó, tập quán canh tác xa nhà và tiếp xúc với véc tơ An. dirus trong rừng vào ban đêm là mắt xích dịch tễ học then chốt duy trì ổ bệnh.
  • Bàn luận về nhận thức và thực hành của người dân: Mặc dù kiến thức chung có chuyển biến nhưng việc áp dụng biện pháp phòng hộ khi đi rừng còn hạn chế do thiếu phương tiện bảo vệ thích hợp tại chòi rẫy.
  • Phân tích ý nghĩa dịch tễ của đột biến gen K13: Sự xuất hiện các đột biến điểm trên domain K13-propeller tại Bù Gia Mập và Gia Lai phù hợp với xu hướng lan rộng của các chủng P. falciparum kháng artemisinin tại Tiểu vùng sông Mê Kông, giải thích hiện tượng kéo dài thời gian sạch ký sinh trùng trên lâm sàng khi sử dụng phác đồ DHA-PPQ.
  • Đánh giá hiệu quả can thiệp tăng cường: Việc kết hợp y tế thôn bản, quân dân y, cấp phát kem xua muỗi Soffell và màn võng tẩm hóa chất trực tiếp cho đối tượng nguy cơ cao mang lại hiệu quả giảm tỷ lệ mắc rõ rệt sau 12 tháng. Đồng thời, tác giả nêu rõ những khó khăn tồn tại trong việc duy trì bền vững kết quả do tính chất di biến động tự do của dân cư và nguồn lực y tế cơ sở còn hạn chế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu cụ thể và đưa ra những đóng góp mới về mặt khoa học cũng như thực tiễn:

  1. Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:

    • Cung cấp bức tranh toàn diện và cập nhật về đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét tại hai địa bàn phức tạp nhất cả nước (Bù Gia Mập - Bình Phước và Krông Pa - Gia Lai), định lượng hóa nguy cơ mắc sốt rét liên quan chặt chẽ đến các hành vi di biến động dân cư (làm nương rẫy, đi rừng, ngủ lại trong rừng và giao lưu qua biên giới).
    • Xác định đặc điểm phân tử và tần suất đột biến trên domain Kelch propeller của gen K13 ở các chủng ký sinh trùng Plasmodium falciparum phân lập tại thực địa hai tỉnh Bình Phước và Gia Lai, cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ công tác giám sát dịch tễ học phân tử kháng thuốc artemisinin tại Việt Nam.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:

    • Xây dựng và chứng minh tính hiệu quả của mô hình can thiệp tăng cường phòng chống sốt rét tại cộng đồng: Kết hợp chặt chẽ giữa y tế cơ sở với quân dân y; đẩy mạnh truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số; cấp phát và hướng dẫn sử dụng các biện pháp bảo vệ cá nhân chuyên biệt (kem xua Soffell, võng màn tẩm hóa chất) nhắm trúng nhóm đối tượng đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới.
    • Mô hình can thiệp đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét trong máu và nâng cao rõ rệt tỷ lệ thực hành phòng chống sốt rét đúng của người dân sau 12 tháng triển khai.
  3. Kiến nghị của tác giả:

    • Tiếp tục duy trì và nhân rộng mô hình can thiệp tăng cường phòng chống sốt rét tại các vùng có dân di biến động và vùng sốt rét lưu hành nặng.
    • Tăng cường quản lý y tế đối với nhóm dân cư đi rừng, làm rẫy và qua lại biên giới thông qua mạng lưới y tế thôn bản và các điểm chốt quân dân y.
    • Định kỳ giám sát dịch tễ học phân tử đột biến gen K13 kháng artemisinin để kịp thời điều chỉnh phác đồ điều trị sốt rét quốc gia.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung được trình bày trong luận án, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:

  • Hạn chế: Nghiên cứu can thiệp được đánh giá sau khoảng thời gian 12 tháng, chưa theo dõi được tính bền vững dài hạn qua nhiều năm khi giảm bớt hỗ trợ can thiệp tăng cường. Số lượng mẫu bệnh nhân nhiễm P. falciparum được giải trình tự gen K13 tại thực địa còn hạn chế (20 mẫu tại Bình Phước và 6 mẫu tại Gia Lai) do phụ thuộc vào số lượng ca bệnh dương tính thu thập được tại thời điểm khảo sát. Việc quản lý nhóm dân di biến động tự do qua các đường mòn, lối mở biên giới còn gặp nhiều rào cản về mặt hành chính và địa hình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô giám sát đột biến gen K13 trên các địa bàn trọng điểm khác thuộc khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ; theo dõi dài hạn đáp ứng điều trị in vivo và in vitro đối với các phác đồ ACTs thay thế; nghiên cứu các can thiệp hỗ trợ sinh kế nhằm giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm sốt rét ở nhóm dân đi rừng ngủ rẫy.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Dịch tễ học, Y tế công cộng, Ký sinh trùng học: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp cộng đồng; quy trình kỹ thuật nhuộm soi ký sinh trùng, bắt muỗi véc tơ và kỹ thuật Nested PCR giải trình tự gen K13.
  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách phòng chống sốt rét: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng để Ban Quản lý Chương trình Quốc gia Phòng chống và Loại trừ Sốt rét, Cục Y tế Dự phòng (Bộ Y tế) xây dựng các hướng dẫn can thiệp đặc thù cho nhóm dân di cư, người đi rừng ngủ rẫy và quản lý ký sinh trùng kháng thuốc.
  • Đối với cán bộ y tế dự phòng tuyến tỉnh, huyện và y tế cơ sở: Tham khảo quy trình tổ chức mạng lưới y tế cơ sở kết hợp quân dân y, quản lý đối tượng nguy cơ cao và kỹ năng truyền thông thay đổi hành vi tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn hai huyện Bù Gia Mập (Bình Phước) và Krông Pa (Gia Lai) làm địa bàn nghiên cứu dựa trên những tiêu chí nào?
Hai huyện này được lựa chọn có chủ đích vì trong giai đoạn nghiên cứu, đây là hai điểm nóng sốt rét phức tạp nhất cả nước, chiếm tới 50% tổng số ca mắc sốt rét của toàn quốc. Cả hai địa bàn đều có tỷ lệ dân di biến động cao do di cư kinh tế, thói quen đi rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản, giao lưu qua lại biên giới Campuchia (tại Bù Gia Mập) và điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn với tỷ lệ nghèo, cận nghèo cao.

2. Kỹ thuật sinh học phân tử nào được tác giả sử dụng để xác định đột biến gen K13?
Tác giả sử dụng kỹ thuật Nested PCR (PCR 2 vòng với thể tích ống phản ứng 50µl) để khuếch đại đoạn gen mã hóa domain Kelch propeller của gen K13 (pfk13 trên gen PF3D7_1343700). Sau đó, sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose, tiến hành giải trình tự chuỗi nucleotide và gióng hàng đối chiếu với trình tự chuẩn trên cơ sở dữ liệu NCBI để xác định các đột biến nucleotide và đột biến thay thế axit amin.

3. Danh mục các đột biến gen K13 liên quan đến kháng artemisinin theo khuyến cáo của WHO gồm những vị trí nào?
Theo khuyến cáo của WHO, có 14 vị trí đột biến gen K13 liên quan đến kháng artemisinin, chia thành 2 nhóm:

  • 5 điểm đột biến có giá trị khẳng định kháng: N458Y, Y493H, R539T, I543T, C580Y.
  • 9 điểm đột biến có giá trị nghi ngờ/liên quan: P441L, F446L, G449A, G538V, P553L, R561H, V568G, P574L, A675V.

4. Những biện pháp can thiệp tăng cường nào đã được áp dụng trong nghiên cứu?
Các biện pháp can thiệp tăng cường bao gồm: Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp tập quán địa phương; cấp phát và hướng dẫn sử dụng kem xua muỗi Soffell (13% DEET) và màn/võng tẩm hóa chất cho người đi rừng, ngủ rẫy; tăng cường quản lý, giám sát đối tượng nguy cơ cao qua mô hình phối hợp quân dân y và mạng lưới y tế thôn bản; phát hiện sớm ca bệnh bằng xét nghiệm lam máu và điều trị triệt để theo phác đồ hướng dẫn của Bộ Y tế.

5. Các loài véc tơ truyền bệnh sốt rét chính được ghi nhận tại vùng nghiên cứu là những loài nào?
Tại hai tỉnh Bình Phước và Gia Lai, hai véc tơ truyền bệnh sốt rét chính được xác định là Anopheles dirus và Anopheles minimus. Ngoài ra còn có các véc tơ phụ và véc tơ nghi ngờ như An. jeyporiensis, An. maculatus, An. aconitus, An. indefinitus và An. campestris.

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Văn Quân đã giải quyết toàn diện các mục tiêu nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học, dịch tễ học phân tử kháng thuốc trên gen K13 và đánh giá mô hình can thiệp tăng cường phòng chống sốt rét tại vùng có dân di biến động ở Bình Phước và Gia Lai. Kết quả nghiên cứu chứng minh mối liên quan trực tiếp giữa nguy cơ nhiễm ký sinh trùng sốt rét với các hoạt động đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới, đồng thời cung cấp dữ liệu phân tử thực địa về các đột biến gen K13 kháng artemisinin. Mô hình can thiệp tăng cường dựa vào y tế cơ sở kết hợp quân dân y và các biện pháp bảo vệ cá nhân đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh, đóng góp cơ sở thực tiễn phục vụ lộ trình tiến tới loại trừ sốt rét tại Việt Nam.