ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm loét dạ dày tá tràng là bệnh nhiễm trùng phổ biến trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Viêm dạ dày (VDD) mạn tính chiếm tỷ lệ rất cao trong các bệnh lý dạ dày – tá tràng (DD-TT) đến khám tại các cơ sở y tế, các chuyên khoa tiêu hóa. Nguyên nhân gây bệnh đã đƣợc đề cập từ lâu nhƣng chỉ tới 1983 Marshall B.R [1] mới phát hiện và nuôi cấy thành công vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) đã chứng minh vai trò chính của nó trong bệnh lý DD-TT.
Dần dần hầu hết các nghiên cứu đều công nhận vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh chủ yếu của VDD mạn tính, loét DD-TT, u MALT (Mucosal – Associated Lymphoma tissue) và ung thƣ dạ dày (UTDD). pylori mạn sẽ gây VDD mạn, dẫn tới viêm teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản là những tổn thƣơng tiền ung thƣ [2]. pylori có lẽ là vi khuẩn có tỷ lệ lây nhiễm phổ biến nhất trên thế giới, ở các nƣớc công nghiệp phát triển trung bình có khoảng 20 – 30% dân số bị nhiễm khuẩn này và tăng nhanh tới trên 50% ở tuổi 60. Ở các nƣớc đang phát triển những ngƣời có điều kiện kinh tế xã hội thấp thƣờng có tỷ lệ nhiễm cao.
Các nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy tình hình nhiễm H. pylori ở 14 nƣớc đang phát triển ở tuổi dƣới 15 là 80% [3], [4]. Ở các nƣớc này, nhiễm H. pylori chủ yếu bị mắc từ tuổi nhỏ và sự khác nhau về tỷ lệ hiện nhiễm đƣợc theo dõi qua các thế hệ nối tiếp đã phản ánh những điều kiện kinh tế - xã hội và môi trƣờng họ sống.
Ở miền Bắc Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Bàng và cs [5],[6] trên 824 trẻ tỷ lệ nhiễm H. Một trong những đặc điểm chung quan trọng của sự nhiễm H. pylori đƣợc nhiều nghiên cứu xác nhận là tỷ lệ nhiễm H. pylori khác nhau ở các tộc ngƣời khác nhau.
Nghiên cứu của Rothenbacher D và cs [7] tại Đức thấy rằng 2 có sự khác biệt lớn về tỷ lệ nhiễm H. pylori ở trẻ mang quốc tịch Đức và trẻ em quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu của Graham và cs [8] ở Mỹ thấy rằng tỷ lệ nhiễm H. pylori ở trẻ em da đen cao gần gấp đôi so với trẻ em da trắng.
Tại Thụy Điển nghiên cứu của Tindberg Y và cs [9] nhận thấy có sự khác biệt về nhiễm H. pylori ở trẻ em các chủng tộc Bắc Âu, Châu Á và Nam Mỹ. Nghiên cứu về vai trò của di truyền của Malaty HM và cs [10] ở Thụy Điển cho thấy có vai trò của di truyền trong lây nhiễm H. Những nhóm các cặp sinh đôi cùng trứng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hẳn các cặp sinh đôi khác trứng.
Tại Châu Á và Đông Nam Á theo nghiên cứu của Goh và cs [11] tại Malaysia thấy rằng có sự khác biệt nhiễm H. pylori giữa các chủng tộc, trẻ mang chủng tộc Malaysia có tỷ lệ nhiễm H. pylori thấp hơn trẻ mang chủng tộc Trung Quốc và Ấn Độ. Tại Việt Nam, Trịnh Xuân Long, Lò Thị Minh và Nguyễn Văn Bàng (2007) nghiên cứu tại huyện Bát Xát (Lào Cai), tỷ lệ nhiễm H.
pylori chung ở trẻ em < 18 tuổi của tất cả các dân tộc là 29%, cụ thể cho các dân tộc nhƣ sau: H‟mong 16,1%, Tày 26,7%, Dao 20,3%, Dáy 38,5% và Kinh 41,1% [12]. Do trải qua hàng trăm năm sự di cƣ của loài ngƣời đến các châu lục làm cho nhiễm H. pylori ở các chủng tộc trong quá trình nghiên cứu rất phức tạp do quá trình tiến hóa và đột biến gien ở các chủng H. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu các yếu tố liên quan có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nhiễm H.
Tuy nhiên, đến nay nhiều vấn đề liên quan đến nhiễm H. pylori cũng nhƣ bệnh lý do nhiễm H. pylori vẫn còn là những câu hỏi mà khoa học chƣa thể trả lời chắc chắn, đặc biệt là cách lây nhiễm, thời điểm bị nhiễm, các yếu tố thuận lợi cho việc lây nhiễm, cũng nhƣ cơ chế gây bệnh, cách phòng bệnh. Việt Nam là một trong những nƣớc đang phát triển, có 54 dân tộc cùng sinh sống.
Hiện tại các nghiên cứu phần lớn tập trung mô tả về tỷ lệ nhiễm H. pylori trong nhóm biểu hiện bệnh và tác dụng của các phác đồ điều 3 trị diệt H. pylori đối với ngƣời lớn và trẻ em. Về mặt sức khỏe cộng đồng việc nghiên cứu các trƣờng hợp biểu hiện bệnh lý tại bệnh viện chƣa cho phép các nhà quản lý sức khỏe có cơ sở xây dựng một chiến lƣợc phòng chống bệnh viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày tá tràng và ung thƣ dạ dày do H.
Tại các tỉnh phía Bắc và một số tỉnh phía Nam có một số nghiên cứu về nhiễm H. pylori ở trẻ em, những nghiên cứu này bƣớc đầu đã đánh giá đƣợc tỷ lệ nhiễm H. pylori của trẻ em Việt Nam, nhƣng các nghiên cứu trên chƣa thể hiện đƣợc tất cả các dân tộc, phong tục tập quán, đặc biệt vùng Tây Nguyên. Nhằm đánh giá tỷ lệ nhiễm H.
pylori của các dân tộc Tây Nguyên và các yếu tố nguy cơ lây nhiễm H. pylori, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điễm dịch tễ học nhiễm Helicobacter pylori ở trẻ em vùng Tây Nguyên, Việt Nam” với hai mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ nhiễm H. pylori ở trẻ em các dân tộc Tây Nguyên Việt Nam năm 2010-2011.
Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm H. pylori ở trẻ em các dân tộc Tây Nguyên Việt Nam năm 2010-2011. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử phát hiện Helicobacter pylori Trong quan niệm kinh điển, dịch dạ dày đƣợc coi là vô khuẩn do khả năng diệt khuẩn mạnh của axit clohydric.
Trƣớc khi H. pylori chính thức đƣợc công nhận, đã có một vài thông báo về một loại vi khuẩn tìm thấy trong dạ dày ngƣời. Năm 1940, Freedberg AS và cs đã công bố về sự tồn tại một loại vi khuẩn hình xoắn trên niêm mạc dạ dày bị cắt bỏ [13]. Năm 1979, tại bệnh viện hoàng gia Perth (Australia), Robin Warren một nhà giải phẫu bệnh đã phát hiện thấy một loại vi khuẩn hình xoắn, thƣờng xuất hiện trong các mảnh sinh thiết dạ dày ở lớp chất nhầy phủ lên tế bào niêm mạc dạ dày, quan sát dƣới kính hiển vi điện tử, ông thấy chúng rất giống loại vi khuẩn đã tìm đƣợc trong các thông báo trƣớc đó [1].
Năm 1981, Barry Marshall khi đó đang thực hành tại Khoa Nội tiêu hoá của Bệnh viện Perth rất quan tâm đến quan sát của Robin Warren, nhân tình cờ một bệnh nhân viêm hang vị dạ dày đƣợc điều trị bằng Tetracycline, sau đó các triệu chứng hoàn toàn biến mất, nội soi và kiểm tra mô bệnh học thấy sự biến mất của các tế bào viêm cùng các xoắn khuẩn. Ông đã tìm cách phân lập vi khuẩn này. Sau nhiều lần nuôi cấy không thành công, đến mẫu nuôi cấy thứ 35 thì đƣợc để lại trong tủ ấm 5 ngày do nghỉ Lễ Phục Sinh, khi dĩa nuôi cấy đƣợc kiểm tra thì thấy xuất hiện một loại khuẩn lạc thuần, đƣờng kính 1mm, kiểm tra trên tiêu bản nhuộm Gram thấy hình vi khuẩn cong, xoắn nhẹ phù hợp với hình thể trên tiêu bản trực tiếp từ mảnh sinh thiết. pylori đã đƣợc phân lập thành công và đƣợc Marshall B.J chính thức công bố [1].
Vi khuẩn này ban đầu đƣợc gọi là Campylobacter like organism, do chúng có hình thái tƣơng tự nhƣ một nhóm tác nhân gây bệnh đƣờng ruột đƣợc biết là các Campylobacters. Tại hội thảo quốc tế về nhiễm trùng Campylobacters (Brussels, 1983), Skirrow đề nghị gọi vi khuẩn mới này là Campylobacters 5 pyloridis, về sau đƣợc đổi lại là Campylobacters pylori cho phù hợp với nguyên tắc đặt tên theo ngôn ngữ Latin. Năm 1988 Goodwin và cs trong khi nghiên cứu về siêu cấu trúc, thành phần acid béo của tế bào và trình tự chuỗi rRNA 16S của Campylobacters pylori và Campylobacters mustelae đã nhận thấy, chúng khác hẳn với giống Campylobacters. Trên cơ sở nghiên cứu đó, Goodwin và cs đề nghị xếp Campylobacters pylori và Campylobacters mustelae vào một giống mới, giống Helicobacter (Helicobacter genus).
Tháng 6 năm 1989 tạp chí quốc tế về hệ thống vi khuẩn học (The International Journal of Systematic Bacteriology) chấp nhận tên giống vi khuẩn mới Helicobacter, từ đó Campylobacters pylori đƣợc gọi là Helicobacter pylori [14]. Bằng việc khám phá ra vi khuẩn là nguyên nhân gây viêm loét dạ dày tá tràng, Warren B.R đã giành đƣợc giải thƣởng Nobel Sinh lý học và Y học vào năm 2005. Từ đó đến nay, có nhiều nghiên cứu lâm sàng làm sáng tỏ dần vai trò của H. pylori trong bệnh lý dạ dày tá tràng.
Dịch tễ học Trên thế giới có hơn 3,5 tỷ ngƣời nhiễm H. pylori và trên 700 triệu ngƣời bị bệnh lý đƣờng tiêu hóa liên quan đến nhiễm H. Cũng nhƣ đối với các bệnh khác, nghiên cứu dịch tễ học nhiễm H. pylori có vai trò quyết định các biện pháp cơ bản trong chiến lƣợc y tế cộng đồng nhằm khống chế sự lây nhiễm của vi khuẩn này [15].
Từ thời điểm đƣợc phát hiện, công bố rộng rãi, khẳng định vai trò bệnh lý của vi khuẩn này, hàng loạt các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã cho phép đi đến một số kết luận về phân bố dịch tễ cũng nhƣ các bệnh liên quan đến nhiễm H. Tỷ lệ hiện nhiễm (prevalence) Tỷ lệ nhiễm H. pylori cao ở các nƣớc đang phát triển và thấp ở các nƣớc phát triển và tùy theo vào mỗi khu vực, vùng địa lý, thành thị hay nông thôn. Tỷ lệ hiện nhiễm ở các nước phát triển Bảng 1.1 Tỷ lệ nhiễm H.
pylori ở trẻ em các nước phát triển Số trẻ tham Tỷ lệ Tuổi Nƣớc Tác giả/năm gia nghiên Phƣơng pháp nhiễm (năm) cứu (%) Thụy Điển Tindberg Y và 1857 0,6 - 11 ELISA (IgG) 13,6 [9] cs/2001 Ireland [17] Rowland M và 103 5 – 12 ELISA (IgG) 8,6 cs/2006 Đức [18] Weyermann M 834 3 Test thở C13, và 2,4 và cs/2009 test phát hiện kháng nguyên trong phân Nhật [19] Okuda M và 237 6 Test phát hiện 3,7 cs/2007 kháng nguyên trong phân Úc [20] Moujaber T và 151 1–4 ELISA (IgG) 4,0 cs/2008 150 5–9 6,0 301 10 – 14 8,3 300 15 – 19 10,0 Ý [21] Maria P. Dore 1741 6 – 15 ELISA (IgG) 13,3 và cs/2012 Anh [22] JM O‟Donohoe 640 4 – 13 ELISA (IgG) 16,7 và cs/2008 Mỹ [23] Lisa-Gaye E và 1024 3 – 14 ELISA (IgG) 12,2 cs/2002 Ý [24] Magista AM và 52 4,9-18 Test thở C13 12,8 cs/2005 Tỷ lệ nhiễm ở trẻ em các nƣớc phát triển rất thấp, các bằng chứng huyết thanh học nhiễm H.