ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious Bronchitis, IB) đang là một trong những vấn đề rất được quan tâm do thiệt hại kinh tế lớn trong chăn nuôi gà công nghiệp. Đây là bệnh truyền nhiễm cấp tính, tốc độ lây lan cao, tỷ lệ mắc cao (50-100%) tổng đàn, mặc dù tỷ lệ chết thấp (0-25%) (Gell et al. Virus gây bệnh (IBV) là một Coronavirus thuộc họ Coronaviridae, giống Gammacoronavirus (Gonzalez et al. Virus gồm một sợi đơn dương RNA với kích cỡ bộ genome từ 27 Kbs (Cavanagh, 1997; Cavanagh, 2005).
IBV gây bệnh chủ yếu tập trung ở đường hô hấp ở tất cả các lứa tuổi gà. Gà mắc bệnh có thường có biểu hiện giảm hấp thu dinh dưỡng và giảm tăng trọng, tăng tiêu tốn thức ăn, tăng chi phí thú y, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng (Gorgyo et al. Một số nghiên cứu khác báo cáo các trường hợp gà mắc bệnh có biểu hiện triệu chứng về hô hấp và thận (Shahata, 1988; Shihata et al. Gà con cũng có thể cảm nhiễm với virus gây phá hủy ống dẫn trứng và dẫn tới hậu quả không phục hồi tới giai đoạn gà đẻ.
Virus phá hủy ống dẫn trứng của gà đẻ, hậu quả làm giảm sản lượng trứng và chất lượng của trứng. IBV gây bệnh có có rất nhiều serotype, biến đổi liên tục và một số serotype không tạo miễn dịch chéo với nhau gây khó khăn cho công tác chẩn đoán cũng như kiểm soát bệnh (Roussan et al. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về IB, IBV và ảnh hưởng của bệnh này tới gà đẻ còn rất hạn chế. Nguyễn Phước Ninh và cs (2008) báo cáo rằng, gà đẻ mắc IB không những làm giảm sản lượng trứng mà còn tạo điều kiện cho các bệnh khác phát triển.
Tỷ lệ đẻ có thể giảm tới 50% và sau đó khả năng phục hồi không hoàn toàn, chỉ đạt 70-80% so với ban đầu. Vì vậy cần tìm hiểu về các dấu hiệu sớm của bệnh cũng như chẩn đoán phát hiện nhanh giúp ngăn ngừa dịch bệnh và giảm thiệt hại cho người chăn nuôi, đồng thời nghiên cứu được thực hiện sẽ góp phần xây dựng quy trình chẩn đoán nhanh bệnh để có biện pháp can thiệp kịp thời trong đàn. Các kết quả đạt được sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn về IBV, cho phép các nghiên cứu tiếp sau phân lập các chủng IBV gây bệnh trên đàn gà. Kỹ thuật RT-PCR cho phép chẩn đoán nhanh, chính xác các gà mắc bệnh gây ra do IBV, đồng thời góp phần xây dựng chiến lược kiểm soát dịch bệnh trên đàn gà ở Việt 1 c Nam hiện nay.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý của gà mắc bệnh viêm phế quản truyền nhiễm tại vùng phụ cận Hà Nội”. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu được đặc điểm dịch tễ học và bệnh lý học của gà mắc bệnh IB cùng với việc ứng dụng phản ứng RT-PCR trong chẩn đoán cung cấp thông tin và làm cơ sở cho việc chẩn đoán nhanh và chính xác bệnh do IBV gây ra trên thực địa từ đó đề xuất được các biện pháp phòng bệnh có hiệu quả. Ý NGHĨA KHOA HỌC Cung cấp thêm thông tin về tình hình bệnh do IBV gây ra ở gà ISA Brown tại vùng phụ cận Hà Nội. Ứng dụng kỹ thuật phân tử RT-PCR chẩn đoán chính xác gà mắc IB.
Ý NGHĨA THỰC TIỄN Chẩn đoán chính xác gà mắc bệnh IB từ đó đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. BỆNH VIÊM PHẾ QUẢN TRUYỀN NHIỄM Ở GÀ Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious Bronchitis, IB) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây ra bởi một Coronavirus. Bệnh dễ lây lan qua đường tiếp xúc với những triệu chứng đặc trưng ở đường hô hấp như là ho, hắt hơi và có tiếng ran khí quản.
Bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế bởi nó làm giảm tăng trọng, giảm hiệu quả của thức ăn, gây viêm túi khí, đồng thời còn làm giảm sản lượng trứng và chất lượng trứng. Bệnh lây lan nhanh trong tự nhiên, diễn biến phức tạp với nhiều serotyp của virus IB (Infectious Bronchitis Virus - IBV), khiến cho công tác phòng chống bệnh gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, bệnh này không gây ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe cộng đồng. Mặc dù tỷ lệ chết cũng gây thiệt hại kinh tế đáng kể trong chăn nuôi gà công nghiệp nhưng thiệt hại của bệnh do giảm hiệu quả trong sản xuất thường được chú ý hơn là sự thiệt hại do gà chết.
Gà broiler khi bị bệnh thường chết tập trung vào 2 tuần cuối của đời gà, tức là khoảng tuần tuổi thứ 5 - 6. Gà chết thường là do tác động của vi khuẩn kế phát tấn công vào hệ hô hấp đã bị tổn thương bởi virus. Một số chủng IBV gây tổn thương thận với tỷ lệ chết trên 30% ở gia cầm non (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2013). Virus gây bệnh cũng có thể nhân lên trong ống dẫn trứng ở gia cầm trưởng thành, làm giảm 10 - 50% sản lượng trứng, đồng thời làm tăng tỷ lệ trứng dị hình hoặc ảnh hưởng đến màu sắc của vỏ trứng.
Sản lượng trứng thường không trở lại được như mức bình thường. Khi gà bị nhiễm virus, đôi khi cũng dẫn đến hậu quả ống dẫn trứng không phát triển hoàn thiện. Đặc điểm địa dư bệnh IB được Schalk và Hawn báo cáo lần đầu tiên ở Bắc Dakota, Mỹ năm 1930 (Schalk and Hawn, 1931). Bệnh ảnh hưởng tới gà con 2-3 tuần tuổi và gây ra các bệnh lý đường hô hấp với tỷ lệ chết khá cao.
Những nghiên cứu sau này bổ sung rằng bệnh còn phổ biến ở gà đẻ với các triệu chứng báng bụng nước, teo buồng trứng và ống dẫn trứng, mất khả năng đẻ trứng của đàn gà cùng với các triệu chứng đường hô hấp. Beaudette and Hudson (1936) đã phân lập, nuôi cấy và làm thay đổi độc lực của virus bằng cách tiếp truyền nhiều đời qua phôi trứng. 3 c Tới năm 1950, phương pháp chẩn đoán bệnh gây ra do IBV đầu tiên được xác lập dựa trên phản ứng trung hòa virus trên phôi gà là cơ sở cho phương pháp sàng lọc dương tính huyết thanh học đầu tiên đối với bệnh gây ra do IBV (Van Roeckel et al,. Năm 1956, theo báo cáo của Jungherr và cộng sự thì hai chủng virus Connecticut được phân lập vào năm 1951 và chủng Massachusentts được phân lập năm 1941 gây bệnh tương tự nhau nhưng không gây miễn dịch chéo hoặc không có khả năng bảo hộ chéo cho nhau.
IB phân bố ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Mỹ, ngoài type Massachusetts (Mass) lần đầu tiên được phân lập vào những năm 1950, một số serotyp cũng được phát hiện. Những năm 1940, typ Mass cũng được phân lập ở châu Âu. Một số serotype khác được phân lập ở Bắc Mỹ, châu Phi, châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Hàn Quốc), Úc và châu Âu.
Bệnh thường xuyên xảy ra ở những đàn gà mặc dù đã sử dụng vacxin phòng bệnh. Virus phân lập từ những vụ dịch đó thường khác với typ virus vacxin. Ở Việt Nam, IB còn rất ít được quan tâm nghiên cứu. Trần Thanh Vân (1996) khi nghiên cứu đàn gà bố mẹ giống thịt Hubbard High - Yield tại trại Ando và Bắc Sơn đã cho thấy sự hiện diện của hai biến chủng IBV 4/91 và CR 88.
Cả hai biến chủng này của IBV đều gây ra hậu quả làm gà giảm đẻ và ảnh hưởng tới chất lượng trứng gà. Năm 1999, tác giả Bùi Trần Anh Đào đã khảo sát sự cảm nhiễm virus gây bệnh Newcastle, Gumboro và IB trên đàn gà thịt tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh và đã đưa ra được chương trình tiêm vacxin phòng ba bệnh trên. Gà đẻ trứng mắc IBV biểu hiện giảm sản lượng trứng cũng như chất lượng trứng sẽ giảm. Tỷ lệ đẻ giảm có thể lên tới 50% và sau đó khả năng phục hồi không hoàn toàn chỉ đạt 70 - 80% so với ban đầu (Nguyễn Thị Phước Ninh, 2008).
Việt Nam cũng được ghi nhận sự có mặt của IBV serotype 793B dòng 4/91 và serotype Mass dòng H120 trên gà thịt tỉnh Lâm Đồng qua phương pháp tiêm xoang niệu mô (Võ Thị Trà An, 2012). Đặc điểm dịch tễ học 2. Loài vật mắc bệnh Gà được coi là vật chủ tự nhiên duy nhất của bệnh, tuy nhiên tính mẫn cảm đối với bệnh thay đổi phụ thuộc vào giống hoặc nòi gà. Coronavirus được phân lập từ chim trĩ mắc bệnh đường hô hấp và/hoặc bệnh ở thận, có kết quả giải trình tự gen rất tương đồng với IBV.
Ở chim cút, có 4 c hiện tượng khí quản khò khè nhưng không phân lập được virus, cũng như không xác định được nguy cơ phơi nhiễm với virus. Gây bệnh thực nghiệm IBV cho gà tây bằng cách phun sương không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, nhưng nếu đưa qua đường tĩnh mạch có thể có triệu chứng sau khi gây nhiễm 48 giờ. Tương tự như vậy, những gà gây bệnh bằng chủng Coronavirus phân lập từ gà tây thì thấy có sự nhân lên của virus trong nhu mô ruột nhưng không có triệu chứng lâm sàng. Con vật mắc bệnh ở mọi lứa tuổi, nhưng gà con mẫn cảm nhất và có tỷ lệ chết cao.
Khi tuổi càng tăng, gà trở nên đề kháng tốt hơn với những biến đổi bệnh lý ở thận, ống dẫn trứng và tỷ lệ chết giảm. Phương thức truyền lây IBV lây truyền nhanh chóng giữa các cá thể gà trong đàn. Các loài chim mẫn cảm khi nuôi cùng chuồng với gà bệnh thường triệu chứng xuất hiện trong vòng 48 giờ. Bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp.
Virus phân lập từ khí quản, phổi, thận và túi Fabricius của gà sau 24 giờ và đến 7 ngày sau khi gây nhiễm, nhưng có thể phân lập IBV từ hạch manh tràng và phân sau khi gây nhiễm 14 tuần và 20 tuần. Tần xuất phân lập được virus giảm dần theo thời gian và thay đổi tùy thuộc vào chủng virus nhiễm phải. Có thể phân lập được virus từ các mẫu thu thập được từ khí quản hoặc dịch ngoáy trực tràng ở gà 19 tuần tuổi. Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, một số chủng virus vacxin có thể tồn tại trong các cơ quan của gà trên 163 ngày hoặc dài hơn.
Trong suốt giai đoạn này, virus có thể định kỳ bài thải ra ngoài môi trường qua dịch mũi và phân, khiến cho bệnh lây từ đàn này sang đàn khác thông qua người chăn nuôi và dụng cụ chăn nuôi. Mặc dù có nhiều báo cáo cho biết đã phân lập được virus từ trứng gà sau khi khỏi bệnh trên 43 ngày nhưng lại không phân lập được IBV từ những con gà nở ra khi đem ấp.