Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh kinh tế - xã hội phát triển và đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu nuôi chó phục vụ các mục đích trông nhà, làm cảnh, làm bạn hoặc bảo vệ ngày một gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, tập quán chăn nuôi chó tại Việt Nam phần lớn vẫn mang tính tự do, thả rông, chế độ dinh dưỡng tận dụng thức ăn thừa và công tác chăm sóc thú y chưa được chú trọng đồng bộ. Cùng với đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, điều kiện môi trường ngoại cảnh tạo thuận lợi cho các loài ký sinh trùng phát triển và lan truyền mầm bệnh. Trong số các ký sinh trùng đường tiêu hóa ở chó, giun móc (Ancylostoma spp. và Uncinaria spp.) là một trong những tác nhân nguy hiểm nhất, gây bệnh âm ỉ, kéo dài, dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu máu cục bộ, tổn thương niêm mạc ruột và suy giảm sức đề kháng nghiêm trọng, tạo điều kiện cho các bệnh truyền nhiễm kế phát, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm sang người.

Nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và đề xuất giải pháp kiểm soát dịch bệnh ký sinh trùng trên đàn chó nuôi tại địa phương, đề tài khóa luận xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun móc ở chó tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của chó bị bệnh giun móc.
  3. Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc tẩy trừ giun móc cho chó.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các giống chó nuôi (chó nội, chó lai, chó ngoại) ở các lứa tuổi khác nhau và bệnh do giun móc ký sinh ở chó.
  • Phạm vi không gian: Điều tra, thu thập mẫu phân và mổ khám tại 3 xã, phường đại diện thuộc thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (gồm xã Bá Xuyên, xã Tân Quang và phường Cải Đan); công tác xét nghiệm mẫu được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Bệnh Động vật - Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa, thu thập mẫu và thử nghiệm diễn ra từ ngày 09/06/2014 đến ngày 24/11/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung phân loại và đặc điểm sinh học của giun móc ký sinh ở chó

Theo các tài liệu phân loại học động vật, giun móc thuộc ngành Giun tròn (Nematoda), phân lớp Secernentea, bộ Rhabditida, phân bộ Strongylata, họ Ancylostomidae. Ba loài giun móc phổ biến ký sinh ở chó gồm:

  • Ancylostoma caninum: Cơ thể màu hồng nhạt hoặc vàng nhạt, đoạn trước cong về phía lưng; túi miệng rất sâu, mép dưới mặt bụng có 3 đôi răng lớn cong hình lưỡi câu; đáy túi miệng có 1 đôi răng hình tam giác. Giun đực dài 9 - 12 mm; giun cái dài 10 - 21 mm, đẻ trứng hình ô van kích thước 0,06 - 0,066 mm x 0,037 - 0,042 mm (khi ra ngoài phân có 8 tế bào).
  • Ancylostoma braziliense: Kích thước nhỏ hơn; giun đực dài 6 - 7,75 mm; giun cái dài 7 - 10 mm; mép bụng có 3 đôi răng (1 đôi to, 2 đôi nhỏ); trứng dài 0,075 - 0,095 mm, rộng 0,041 - 0,045 mm.
  • Uncinaria stenocephala: Túi miệng lớn, mặt bụng có 2 đôi răng hình bán nguyệt đối xứng; giun đực dài 6 - 11 mm; giun cái dài 9 - 16 mm; trứng hình bầu dục kích thước 0,078 - 0,083 mm x 0,052 - 0,059 mm.

Vòng đời của giun móc không qua ký chủ trung gian. Trứng theo phân ra môi trường ngoài, gặp điều kiện nhiệt độ (thích hợp từ 25 - 30°C) và ẩm độ cao sẽ nở thành ấu trùng giai đoạn 1 ($L_1$), qua 2 lần lột xác phát triển thành ấu trùng gây nhiễm ($L_3$, dài 0,59 - 0,69 mm có màng bao bọc). Phương thức truyền lây diễn ra qua hai con đường chính:

  1. Qua da (chủ yếu): Ấu trùng xuyên qua da, theo máu về tim, phổi, chui vào phế nang, theo niêm dịch lên khí quản, tới hầu rồi nuốt xuống ruột non phát triển thành giun trưởng thành; ấu trùng cũng có thể qua nhau thai từ mẹ truyền sang thai nhi.
  2. Qua đường tiêu hóa: Ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống vào ruột non, chui vào niêm mạc vài ngày rồi trở lại lòng ruột phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian từ khi xâm nhập đến khi thành giun trưởng thành đẻ trứng là 15 - 19 ngày (trung bình 17,4 ngày).

Cơ chế bệnh sinh bao gồm tác động cơ giới làm tổn thương, tróc niêm mạc ruột; tác động chiếm đoạt dinh dưỡng và hút máu (mỗi con A. caninum trưởng thành hút khoảng 0,8 ml máu/ngày, chó nhiễm 100 con có thể mất 80 ml máu/ngày, tương đương 25% tổng lượng máu cơ thể); tác động độc tố gây dung huyết, ức chế đông máu; và mở đường cho vi khuẩn đường ruột gây bệnh kế phát.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Phương pháp thu thập mẫu phân: Lấy mẫu phân tươi vào buổi sáng từ chó ở các nhóm tuổi với khối lượng 10 - 15 g/mẫu, bảo quản ở 2 - 8°C và xét nghiệm trong vòng 1 - 3 ngày.
  • Phương pháp xét nghiệm định tính (Fülleborn): Sử dụng dung dịch NaCl bão hòa để làm nổi trứng giun nhờ chênh lệch tỷ trọng, thu gom váng bề mặt lên phiến kính và soi dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 100 lần để xác định sự hiện diện của trứng giun móc.
  • Phương pháp xét nghiệm định lượng (McMaster): Cân 4 g phân hòa tan trong 100 - 150 ml nước, lọc bã, để lắng, gạn cặn và hòa trong 56 ml dung dịch NaCl bão hòa. Hút dung dịch vào 2 buồng đếm McMaster, đếm số lượng trứng và quy đổi theo công thức: $$\text{Số trứng/g phân} = \frac{\text{Tổng số trứng ở 2 buồng đếm} \times 60}{4}$$ Mức độ nhiễm được phân loại: Nhẹ ($<400$ trứng/g), Trung bình ($400 - 700$ trứng/g), Nặng ($>700 - 1000$ trứng/g), Rất nặng ($>1000$ trứng/g).
  • Phương pháp mổ khám giun sán: Áp dụng phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa theo K. I. Skrjabin (1977) để đếm số lượng giun móc và ghi nhận bệnh tích đại thể ở ruột non, gan, thận.
  • Phương pháp theo dõi lâm sàng: Quan sát trạng thái vận động, thể trạng, thói quen ăn uống, màu sắc niêm mạc mắt/miệng và tính chất phân của chó nhiễm bệnh.
  • Phương pháp thử nghiệm thuốc điều trị: Khảo sát 4 loại thuốc trên thị trường gồm Albendazol 10% (uống 1 ml/5-10 kg thể trọng), Sanpet (uống 1 viên/5 kg thể trọng), Levamisol (tiêm dưới da 1,5 ml/10 kg thể trọng), Ivermectin (tiêm dưới da 0,1 - 0,15 ml/2 kg thể trọng). Kiểm tra lại phân sau 15 ngày điều trị bằng phương pháp Fülleborn để đánh giá hiệu lực tẩy sạch và theo dõi phản ứng sinh lý để đánh giá độ an toàn.

Nội dung chính theo từng phần và chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất

Phần này trình bày kết quả điều tra điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tại thị xã Sông Công (địa hình trung du lượn sóng, nhiệt độ trung bình 23°C, độ ẩm 82%, lượng mưa 2.168 mm/năm; tổng đàn trâu 4.980 con, đàn lợn 18.000 con) cùng các hoạt động thực hành lâm sàng thú y tại cơ sở:

  • Công tác tiêm phòng: Tiêm phòng vaccine Rabicin phòng bệnh dại cho 80 con chó tại địa bàn, đạt tỷ lệ an toàn 100%.
  • Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh gia súc:
    • Bệnh tiêu chảy phân trắng lợn con: Dùng Baytrilmax (1 ml/13 kg thể trọng) kết hợp Catosal 10% (1 ml/5-10 kg thể trọng), chữa khỏi 8/9 con (tỷ lệ 88,89%).
    • Bệnh tiêu chảy lợn: Dùng Norgencin cho lợn con (0,5 ml/10 kg thể trọng/ngày) và Norfacoli cho lợn choai (1 ml/40 kg thể trọng/ngày) kết hợp B.complex, chữa khỏi 7/8 con (tỷ lệ 87,50%).
    • Bệnh ghẻ lợn: Vệ sinh tắm xà phòng, bôi dung dịch Han-Iodin 10% pha loãng 1:1 và thuốc D.P, chữa khỏi 8/8 con (tỷ lệ 100%).
    • Bệnh viêm phổi lợn: Tiêm bắp Lincomycin (1 ml/10 kg thể trọng) kết hợp B.complex (2 ml/con), điều trị 2 lần/ngày trong 5 ngày, chữa khỏi 7/9 con (tỷ lệ 77,78%).
  • Thao tác kỹ thuật khác: Tiêm sắt cho 90 lợn con sơ sinh và thiến hoạn 60 lợn đực (10 - 12 ngày tuổi), toàn bộ đều đạt độ an toàn 100%.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Phần chuyên đề tập trung giải quyết các nội dung dịch tễ học, triệu chứng bệnh lý và phác đồ điều trị bệnh giun móc ở chó tại địa bàn nghiên cứu:

  • Tỷ lệ nhiễm giun móc qua xét nghiệm phân: Khảo sát 356 mẫu phân tại 3 địa phương ghi nhận 227 mẫu dương tính (tỷ lệ chung 63,76%). Tỷ lệ nhiễm có sự khác biệt giữa các địa bàn: xã Tân Quang cao nhất với 71,42% (85/119 mẫu), phường Cải Đan đạt 63,20% (79/125 mẫu) và xã Bá Xuyên thấp nhất với 56,25% (63/112 mẫu). Nguyên nhân do tập quán nuôi thả rông và điều kiện vệ sinh môi trường tại xã Tân Quang kém hơn khu vực nội thị và bán đô thị.
  • Tỷ lệ và cường độ nhiễm qua mổ khám: Tiến hành mổ khám 23 cá thể chó ngẫu nhiên, phát hiện 13 cá thể nhiễm giun móc (tỷ lệ 56,52%) với cường độ ký sinh dao động từ 2 đến 51 giun/chó. Trong đó: xã Tân Quang có tỷ lệ nhiễm 66,67% (cường độ 6 - 51 giun/chó), xã Bá Xuyên nhiễm 62,50% (cường độ 2 - 34 giun/chó), phường Cải Đan nhiễm 44,44% (cường độ 2 - 43 giun/chó).
  • Tỷ lệ nhiễm theo giống chó: Đàn chó nội có tỷ lệ nhiễm giun móc cao nhất đạt 74,85% (128/171 mẫu), tiếp đến là chó lai với 63,96% (71/111 mẫu), và thấp nhất là chó ngoại với 37,83% (28/74 mẫu). Tác giả lý giải sự chênh lệch này xuất phát từ phương thức chăm sóc: chó ngoại chủ yếu được nuôi nhốt, tắm chải định kỳ và tẩy giun thường xuyên, trong khi chó nội chủ yếu thả rông, ăn thức ăn tận dụng và tiếp xúc trực tiếp với nguồn mầm bệnh ngoài môi trường đất.
  • Tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi: Nhóm chó non từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao vượt trội đạt 85,71% (36/42 cá thể). Nhóm chó từ >6 đến 12 tháng tuổi đạt tỷ lệ 60,94% (103/169 cá thể) và nhóm chó trưởng thành >12 tháng tuổi đạt tỷ lệ 60,68% (88/145 cá thể). Nguyên nhân do chó con có sức đề kháng yếu, phản xạ khám phá môi trường cao và có khả năng bị nhiễm ấu trùng truyền dọc từ cơ thể chó mẹ qua nhau thai hoặc qua tuyến sữa.
  • Tỷ lệ nhiễm theo mùa vụ: Mùa hè ghi nhận tỷ lệ nhiễm đạt 71,12% (101/142 mẫu), cao hơn rõ rệt so với mùa thu đạt 58,87% (126/214 mẫu). Điều kiện nhiệt độ cao (25 - 30°C) kết hợp lượng mưa lớn và độ ẩm cao trong mùa hè tạo môi trường tối ưu cho trứng giun phát triển và ấu trùng $L_3$ duy trì sức sống lâu dài trên nền đất, bãi cỏ.
  • Đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và thử nghiệm thuốc: Chó nhiễm bệnh biểu hiện triệu chứng thiếu máu rõ rệt (niêm mạc nhợt nhạt hoặc trắng bệch), gầy còm, suy nhược, rối loạn tiêu hóa kéo dài (ỉa chảy xen kẽ táo bón, phân lẫn chất nhầy và máu sẫm màu). Tổn thương mổ khám tập trung ở ruột non với các điểm xuất huyết chân răng cắn của giun, niêm mạc viêm cặn, dịch ruột lẫn máu, tổ chức gan và thận có hiện tượng thoái hóa mỡ do thiếu oxy kéo dài.

Kết quả và đóng góp

Tổng hợp số liệu nghiên cứu thực nghiệm

Bảng 1: Tình hình nhiễm giun móc ở chó theo địa phương, giống, tuổi và mùa vụ (xét nghiệm phân n=356)

Chỉ tiêu phân loại Phân nhóm khảo sát Số mẫu kiểm tra Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)
Theo địa phương Xã Bá Xuyên 112 63 56,25
Phường Cải Đan 125 79 63,20
Xã Tân Quang 119 85 71,42
Theo giống chó Chó nội 171 128 74,85
Chó lai 111 71 63,96
Chó ngoại 74 28 37,83
Theo lứa tuổi Sơ sinh - 6 tháng 42 36 85,71
>6 - 12 tháng 169 103 60,94
>12 tháng 145 88 60,68
Theo mùa vụ Mùa hè 142 101 71,12
Mùa thu 214 126 58,87
Tính chung toàn bộ — 356 227 63,76

Bảng 2: Kết quả mổ khám xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun móc ở chó (n=23)

Địa phương Số chó mổ khám (con) Số chó nhiễm (con) Tỷ lệ nhiễm (%) Cường độ nhiễm (giun/chó)
Xã Bá Xuyên 8 5 62,50 2 - 34
Phường Cải Đan 9 4 44,44 2 - 43
Xã Tân Quang 6 4 66,67 6 - 51
Tính chung 23 13 56,52 2 - 51

Bảng 3: Kết quả thực hiện công tác điều trị bệnh thú y phục vụ sản xuất

Tên bệnh / Thủ thuật Quy mô điều trị (con) Số ca khỏi / an toàn (con) Tỷ lệ thành công (%)
Tiêm phòng vaccine Rabicin 80 80 100,00
Tiêu chảy phân trắng lợn con 9 8 88,89
Tiêu chảy lợn 8 7 87,50
Bệnh ghẻ lợn 8 8 100,00
Bệnh viêm phổi lợn 9 7 77,78
Tiêm sắt bổ sung lợn con 90 90 100,00
Thiến hoạn lợn đực 60 60 100,00

Giải pháp và khuyến nghị của tác giả

  1. Biện pháp phòng bệnh tổng hợp: Định kỳ tẩy giun cho đàn chó từ 6 đến 12 tháng/lần; đặc biệt cần thực hiện tẩy giun dự phòng sớm cho chó con ở giai đoạn dưới 6 tháng tuổi và chó mẹ trước khi phối giống hoặc trước khi sinh để ngăn chặn truyền lây qua phôi thai và sữa.
  2. Quản lý chuồng nuôi và vệ sinh thú y: Chuyển đổi phương thức chăn nuôi từ thả rông sang nuôi nhốt có khoanh vùng sân chơi khô ráo; thu gom phân hàng ngày và xử lý bằng phương pháp ủ nhiệt sinh học hoặc sử dụng hóa chất sát trùng (Creolin, dung dịch vôi đặc) nhằm diệt trứng và ấu trùng $L_3$ ngoài môi trường.
  3. Cải thiện chăm sóc và nâng cao thể trạng: Bổ sung dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất nhằm nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho đàn chó; cách ly và điều trị dứt điểm các cá thể mắc bệnh trước khi cho nhập đàn.
  4. Nâng cao năng lực thú y cơ sở: Trạm thú y thị xã và chính quyền địa phương cần đẩy mạnh công tác tập huấn kỹ thuật, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của bệnh giun sán truyền lây giữa động vật và người.

Đóng góp khoa học và thực tiễn

  • Khóa luận bổ sung hệ thống dữ liệu điều tra thực nghiệm chuẩn xác về tình hình nhiễm giun móc trên đàn chó tại vùng trung du bán sơn địa phía Bắc (thị xã Sông Công, Thái Nguyên), phản ánh rõ nét mối tương quan giữa tỷ lệ nhiễm với các yếu tố dịch tễ học như giống chó, lứa tuổi, mùa vụ và phương thức chăn nuôi.
  • Đưa ra phác đồ lâm sàng và liều lượng sử dụng các hóa dược tẩy trừ giun tròn tiêu hóa (Albendazol, Sanpet, Levamisol, Ivermectin) có giá trị ứng dụng trực tiếp tại các phòng khám thú y và nông hộ chăn nuôi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Thời gian theo dõi thực địa chỉ diễn ra trong vòng gần 6 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11/2014), tập trung chủ yếu vào vụ hè - thu, chưa thu thập được số liệu dịch tễ trong mùa đông và mùa xuân để hoàn thiện bức tranh dịch tễ học trọn vẹn 4 mùa trong năm. Số lượng mẫu mổ khám đại thể còn khiêm tốn (23 con) do phụ thuộc vào nguồn chó tiêu thụ thực tế tại địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần tiếp tục mở rộng quy mô điều tra dịch tễ học ký sinh trùng đường tiêu hóa trên đàn chó trên toàn địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong cả 4 mùa; nghiên cứu sâu hơn về cơ cấu nhiễm ghép giữa giun móc (Ancylostoma spp.) với các loài giun tròn khác (Toxocara canis, Trichocephalus vulpis) và đánh giá sự biến đổi các chỉ số sinh hóa máu của chó bệnh trước và sau điều trị.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Thú y, Bác sĩ thú y thực hành tại các phòng khám thú cưng, cũng như cán bộ kỹ thuật tại các Trạm Thú y huyện, thị xã.
  • Nội dung đáng giá:
    • Quy trình thực nghiệm xét nghiệm phân tìm trứng giun bằng phương pháp Fülleborn và đếm buồng đếm McMaster có hướng dẫn pha chế dung dịch chi tiết.
    • Phác đồ điều trị thực tế các bệnh truyền nhiễm và nội khoa thường gặp trên đàn gia súc (lợn, chó) với tên thuốc, liều lượng và liệu trình cụ thể.
    • Bộ số liệu đối sánh tỷ lệ nhiễm giun móc chi tiết theo giống, lứa tuổi và mùa vụ làm cơ sở đối chiếu cho các đề tài nghiên cứu dịch tễ ký sinh trùng thú y.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nhiễm giun móc chung trên đàn chó tại thị xã Sông Công được xác định là bao nhiêu và địa bàn nào có tỷ lệ nhiễm cao nhất?

Qua xét nghiệm 356 mẫu phân bằng phương pháp Fülleborn, tỷ lệ nhiễm giun móc chung trên địa bàn thị xã Sông Công là 63,76% (227 mẫu dương tính). Trong 3 địa bàn nghiên cứu, xã Tân Quang có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 71,42% (85/119 mẫu), phường Cải Đan đạt 63,20% (79/125 mẫu) và xã Bá Xuyên thấp nhất với 56,25% (63/112 mẫu).

2. Giống chó nào có tỷ lệ nhiễm giun móc cao nhất trong khảo sát và nguyên nhân do đâu?

Chó nội có tỷ lệ nhiễm giun móc cao nhất đạt 74,85% (128/171 mẫu), kế tiếp là chó lai đạt 63,96% (71/111 mẫu), và thấp nhất là chó ngoại đạt 37,83% (28/74 mẫu). Sự khác biệt này xuất phát từ tập quán nuôi chó nội chủ yếu là thả rông, ăn thức ăn tận dụng và tiếp xúc nhiều với môi trường ngoại cảnh ô nhiễm, trong khi chó ngoại được nuôi nhốt, chăm sóc vệ sinh tốt và tẩy giun định kỳ.

3. Nhóm tuổi nào của chó mẫn cảm và có tỷ lệ nhiễm giun móc cao nhất?

Nhóm chó non từ giai đoạn sơ sinh đến 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm giun móc cao nhất đạt 85,71% (36/42 cá thể nhiễm), cao hơn nhiều so với nhóm chó từ >6 đến 12 tháng tuổi (60,94%) và nhóm chó >12 tháng tuổi (60,68%). Nguyên nhân do chó con có sức đề kháng non yếu, tính hiếu động cao và dễ bị nhiễm ấu trùng giun móc truyền qua nhau thai từ cơ thể mẹ trong thai kỳ hoặc qua sữa non.

4. Mức độ hút máu và tác hại cơ bản của một cá thể giun móc Ancylostoma caninum trưởng thành trên cơ thể chó là gì?

Theo số liệu trích dẫn trong khóa luận (Sally Gardiner, 2006), một con giun móc A. caninum trưởng thành có thể hút khoảng 0,8 ml máu/ngày. Khi một cá thể chó bị nhiễm khoảng 100 giun móc, lượng máu mất đi mỗi ngày lên tới 80 ml, và trong các ca nhiễm nặng có thể làm mất tới 25% tổng lượng máu của cơ thể, dẫn đến thiếu máu cấp hoặc mãn tính, phù thũng, suy tim và tử vong.

5. Khóa luận đã khảo sát và sử dụng những loại hóa dược nào để thử nghiệm điều trị giun móc cho chó?

Đề tài đã tiến hành thử nghiệm 4 loại thuốc tẩy trừ giun sán gồm:

  • Albendazol 10% (uống, liều 1 ml/5-10 kg thể trọng).
  • Sanpet (dạng viên uống chứa Praziquantel 25 mg và Pyrantel pamoate 100 mg, liều 1 viên/5 kg thể trọng).
  • Levamisol (tiêm dưới da dung dịch Levamisole hydrochloride 5%, liều 1,5 ml/10 kg thể trọng).
  • Ivermectin (tiêm dưới da RTD-Ivermectin 250 mg/100 ml, liều 0,1 - 0,15 ml/2 kg thể trọng). Hiệu lực được kiểm tra đánh giá lại sau 15 ngày bằng phương pháp xét nghiệm phân Fülleborn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Kim Doan đã phản ánh toàn diện hiện trạng dịch tễ, đặc điểm bệnh lý lâm sàng và biện pháp kiểm soát bệnh giun móc ở chó tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm chung qua xét nghiệm phân là 63,76% và qua mổ khám là 56,52%. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ nhiễm giun móc phụ thuộc chặt chẽ vào giống nuôi (chó nội cao nhất 74,85%), lứa tuổi (chó dưới 6 tháng tuổi cao nhất 85,71%) và mùa vụ (mùa hè cao hơn mùa thu). Bên cạnh việc hoàn thành tốt các chỉ tiêu sản xuất lâm sàng thú y tại cơ sở, công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc xây dựng phác đồ điều trị và quy trình vệ sinh phòng dịch ký sinh trùng cho đàn chó tại địa phương.