Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng hệ thực vật trên thế giới Đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược, chương trình hành động quan trọng trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế lớn đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức thực hiện việc kiểm kê, đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm vi các quốc gia, khu vực, châu lục và toàn cầu.
Đó là Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện Tài nguyên Di truyền quốc tế (IPGRI),. Để tránh sự phá huỷ tài nguyên và duy trì sự sống một cách bền vững trên trái đất, Hội nghị thượng đỉnh bàn về môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992. Tại Hội nghị này, 150 quốc gia đã ký vào Công ước về Đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng. Từ đó nhiều cuộc Hội thảo được tổ chức và nhiều cuốn sách chỉ dẫn ra đời.
Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới (WWF) xuất bản sách về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật; IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới; IUCN và WWF xuất bản cuốn Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới; IUCN và UNEP xuất bản sách Chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động;. Tất cả các công trình đó nhằm hướng dẫn và đề xuất phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh vật, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai. Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (WCMC) (1992) công bố công trình đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu, cung cấp tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau, ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới làm cơ sở cho việc bảo tồn có hiệu quả. Cùng với các công trình đó, đã có hàng ngàn cuộc hội thảo quốc tế khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp, cùng các kết quả đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới.
Nhiều tổ chức quốc tế và khu vực được tạo thành mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật. Cho đến nay, hầu hết các khu vực, các quốc gia hay các vùng lãnh thổ trên thế giới đều đã và đang nghiên cứu đánh giá hay có những công trình về đa dạng thực vật ở các mức độ khác nhau, mức cao là các chuyên khảo (Monographia), các bộ sách Thực vật chí (Flora) hay mức độ thấp là Danh lục thực vật (Checklist) cũng như các công trình riêng lẻ khác. Các công trình thực vật kinh điển trong thời kỳ phân loại tự 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên được kể đến như: Linnaeus (1375), Systema Naturae; Linnaeus (1737), Generale Plantarum; Linnaeus (1753), Species Plantarum; A. Đến thời kỳ các công trình nghiên cứu phân loại thực vật dựa trên những bằng chứng tiến hóa dựa trên học thuyết của Darwin, tác giả được đề cập nhiều nhất là nhà thực vật học người Đức là Eichler.
Ông đã chia giới thực vật thành Thực vật không hạt (Cryptogramae) và Thực vật có hạt (Phaerogramae). Nhóm thứ nhất gồm Nấm, Tảo và Rêu; nhóm thứ hai gồm thực vật Hạt trần và thực vật Hạt kín (bao gồm thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá mầm). Hiện nay, các công trình nghiên cứu hệ thống học vẫn liên tục được cải tiến và cập nhật. Những năm gần đây, các hệ thống của Rober Thorn (1968, 1976); Arthun Cronquist (1968); A.
và ngày nay là các hệ thống của Angiosperm Phylogeny Group (APG) liên tục được cập nhật. Trong khu vực, hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đã và đang hoàn thiện các công trình thực vật chí như: Auctor. (1993), Flora of Australia; Chen S.), (1959- 1987), Flora Reipublicae Popularis Sinicae; Wu Z.), (1994-2000), Flora of China; Hooker, C.) (1876-1894), Flora of British India; Phengklai, C.), (1993-2011), Flora of Thailand; C. van Steenis (ed.) (1950s), Flora Malesiana; Auctor.
(2007), A Checklist of the Vascular Plants of Lao PDR…. Tổng quan về nghiên cứu đa dạng hệ thực vật Việt Nam Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới. Theo các tài liệu đã công bố gần đây, Việt Nam có khoảng trên 15.000 loài thực vật, trong đó ngành Tảo có khoảng gần 2.200 loài, ngành Rêu khoảng 480 loài, ngành Khuyết lá Thông 1 loài, ngành Thông đất 55 loài, ngành 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cỏ tháp bút 2 loài, ngành Dương xỉ khoảng gần 700 loài, ngành Hạt trần 70 loài và ngành Hạt kín khoảng trên 12. Việc nghiên cứu, điều tra, đánh giá về đa dạng thực vật ở Việt Nam được tiến hành hơn 2 thế kỷ, nhưng các công trình mới chỉ được công bố nhiều ở khoảng 50 năm trở lại đây [2].
Ngay từ cuối thế kỷ 18, nhà thực vật học người Bồ Đào Nha, J. Loureiro đã biên soạn cuốn sách đầu tiên về đa dạng thực vật Việt Nam của hệ thực vật Nam Bộ (Flora Cochinchinensis, 1790). Tuy nhiên, trong đó tác giả có đề cập đến nhiều loài có phân bố ở một số nước lân cận như Trung Quốc, Thái Lan, Mianma, Campuchia,. Tiếp theo là tác nhà thực vật học người Pháp, J.
Pierre biên soạn cuốn sách về Cây gỗ rừng Nam Bộ (Flore Forestière de la Cochinchine, 1790-1795), trong đó có mô tả và hình vẽ chi tiết các loài thực vật thân gỗ có phân bố ở khu vực Nam Bộ [44]. Nửa đầu thế kỷ 20, các nhà thực vật học Pháp dưới sự chủ biên của H. Trong đó dựa trên hệ thống của Bentham & Hooker, các tác giả đã phân loại và mô tả hơn 7.000 loài, thực vật thuộc trên 200 họ thực vật có mạch ở vùng Đông Dương, trong đó có Việt Nam [34]. Từ năm 1960 đến nay, các nhà thực vật trên thế giới và Việt Nam đã và đang biên soạn Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam (Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam) với trên 35 tập đã được xuất bản.
Đây là tập các công trình nghiên cứu phân loại mang tầm cỡ quốc tế, là tài liệu tham khảo chính khi nghiên cứu đa dạng và phân bố của các taxon thực vật ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam [24]. Trong thời gian nửa cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình là kết quả nghiên cứu, điều tra, đánh giá đa dạng thực vật Việt Nam của các tác giả trong nước và nước ngoài rất có giá trị. Lê Khả Kế & cộng sự (1969-1976), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam gồm 6 tập. Phạm Hoàng Hộ (1970-1972), Cây cỏ thường thấy ở Miền Nam với 5326 loài.
Tiếp sau đó, Phạm Hoàng Hộ có công trình nghiên cứu thực vật cả nước (1991-1993, 1999-2000), Cây cỏ Việt Nam gồm 3 tập, với số lượng loài khá đầy đủ phục vụ tốt việc nghiên cứu đa dạng thực vật Việt Nam đến ngày nay [13]. Trong hai số tạp chí chuyên đề của Tạp chí Sinh học (1994-1995) nhiều tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu thực vật các taxon với hàng trăm loài. Bộ sách 3 tập Danh lục các loài thực vật Việt Nam của nhiều tác giả (2001, 2003, 2005) đã công bố danh sách 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.000 loài thực vật và nấm trong cả nước; là tài liệu được công nhận mới và đầy đủ nhất, đáng tin cậy nhất từ trước đến nay; bộ sách là cơ sở tra cứu, chỉnh lý tên khoa học các taxon và nhiều thông tin khác [2]. Nguyễn Tiến Bân & cộng sự (1996, 2007), Sách đỏ Việt Nam, công bố hàng trăm loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng ở Việt Nam.
Công trình rất có giá trị nghiên cứu đa dạng thực vật là bộ sách Thực vật chí Việt Nam đã xuất bản được 11 tập. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000) thống kê toàn bộ sự đa dạng của cây rừng Việt Nam với hàng nghìn loài [6]. Một số chuyên khảo về các taxon như A. de Vogel (2000) về họ Lan ở Đông Dương; L.
Averyanov (1994) về họ Lan ở Việt Nam; N. Bên cạnh những công trình là các bài báo, sách chuyên khảo, các hội thảo trong nước và quốc tế như nói trên, nghiên cứu đa dạng thực vật còn thể hiện ở bộ mẫu thực vật được điều tra thu thập bảo quản bền vững lâu dài ở các Phòng tiêu bản. Ở Việt Nam, một số Phòng tiêu bản thực vật lưu trữ bảo quản trưng bày giới thiệu về đa đạng thực vật nước ta như ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN) với khoảng gần 1 triệu mẫu tiêu bản, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (HNU) với khoảng vài trăm nghìn mẫu, Viện Sinh học nhiệt đới (HM, VNM) có khoảng 500 nghìn mẫu và các bảo tàng của các VQG Cúc Phương, Pù Mát. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tổng quan về nghiên cứu thảm thực vật ở Việt Nam Khái niệm về thảm thực vật: Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm rất quen thuộc, có nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các định nghĩa khác nhau.Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó. Thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào. Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn… Thái Văn Trừng (1978) [22] đã căn cứ vào quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thực vật để phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Tư tưởng học thuật của quan điểm này là trong một môi trường sinh thái cụ thể chỉ có thể xuất hiện một kiểu thảm thực vật nguyên sinh nhất định.
Trong môi trường sinh thái đó, có 5 nhóm nhân tố sinh thái phát sinh ảnh hưởng quyết định đến tổ thành loài cây rừng, hình thái, cấu trúc và hình thành nên những kiểu thảm thực vật rừng tương ứng. Căn cứ vào cơ sở lí luận trên, Thái Văn Trừng đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật có trên đất lâm nghiệp như sau: Các kiểu rừng kín vùng thấp: I. Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới II. Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới III.
Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới IV. Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới Các kiểu rừng thưa: V. Kiểu rừng thưa cây lá rộng, hơi khô nhiệt đới VI. Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới VII.