ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường như: Cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa khí hậu, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú của động, thực vật và cũng là nơi lưu trữ những nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người. Tuy nhiên, tại Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung, diện tích rừng đang bị thu hẹp dần do khai thác không hợp lý, do cháy rừng và nạn phá rừng bừa bãi. Rừng ở Việt Nam đang giảm sút nghiêm trọng trong những năm gần đây về cả chất lượng và diện tích.
Hiện nay, kết quả xác thực cho thấy tính đến hết năm 2016, cả nước có 14. Trong đó rừng tự nhiên là 10.141 ha và rừng trồng là 4. Nếu tính so với tổng diện tích tự nhiên toàn quốc là 33.250ha thì hiện nay tỷ lệ độ che phủ là 41,19%.Trong hơn 10 triệu ha rừng tự nhiên thì có 8.154ha rừng gỗ, 241.610 ha rừng tre nứa thuần và 1.589 ha rừng hỗn hợp gỗ và tre nứa, 4.787 ha rừng cau dừa. Tuy nhiên, trong số 8.154 ha rừng tự nhiên thì chỉ có 8,7% là rừng giàu, rừng gỗ tự nhiên còn lại rất ít, đặc biệt là những loài cây gỗ có giá trị, chúng tập chung chủ yếu ở các Vườn Quốc Gia, Khu BTTN, và các khu rừng Ma linh thiêng của các đồng bào dân tộc.
Rừng giàu, rừng gỗ tự nhiên có nhiều loài cây giá trị tập trung nhiều ở khu vực miền trung. Trong đó có Khu BTTN Pù Hoạt, Tỉnh Nghệ An: Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt được chuyển đổi từ Ban Quản lý Rừng phòng hộ Quế Phong theo Quyết định số 1109/QĐ-UBND, ngày 02/04/2013 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, với mục tiêu nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động thực vật đặc trưng cho khu vực, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 180km. Sau khi thành lập đơn vị đã phối hợp với Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung Bộ tiến hành quy hoạch bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng và được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 19/02/2014. Tại Quyết định 590/QĐ-UBND thì diện tích quản lý của Khu BTTN Pù Hoạt là 85.761,43ha, trong đó rừng đặc dụng 1 34.589,89 ha, rừng phòng hộ 51.171,54, là một trong 3 khu rừng đặc dụng nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An” đã được UNESCO công nhận ngày 20-9-2007, có giá trị đa dạng sinh học cao chứa đựng nhiều hệ sinh thái, cảnh quan, đa dạng loài và đa dạng nguồn gen cao.
Hệ thực vật của Pù Hoạt vừa mang tính chất nhiệt đới vừa mang tính chất ôn đới, với các kiểu rừng đặc trưng theo từng đai cao: Ở đai thấp: Rừng rậm nhiệt đới thường xanh, Rừng rậm nhiệt đới rụng lá, Rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá ưu thế họ Bằng lăng.000m: Rừng rậm nhiệt đới thường xanh trên núi thấp, Rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá trên núi thấp, Rừng rậm nhiệt đới rụng lá trên núi thấp.000m: Rừng rậm thường xanh trên núi trung bình, Rừng rậm nhiệt đới nửa rụng lá trên núi trung bình, Rừng rậm nhiệt đới rụng lá trên núi trung bình. Trong những năm gần đây, một số hoạt động điều tra, nghiên cứu tính đa dạng sinh học ở Khu BTTN Pù Hoạt đã được triển khai, kết quả một số loài động vật được phát hiện mới ở đây như: Ếch cây quang (Gracixalus quangi); Loài trà hoa vàng quế phong (Camellia quephongensis) và bổ sung 1 loài Cá cóc sần lào (Tylototrion notialis) cho khu hệ động vật Việt Nam. Tuy nhiên trải qua thời gian dài trước và sau khi thành lập Khu BTTN Pù Hoạt, công tác điều tra nghiên cứu khoa học vẫn chưa được sự quan tâm thích đáng, chưa có chương trình nghiên cứu chi tiết cụ thể cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng nói riêng, và xây dựng cơ sở dữ liệu về động, thực vật nói chung tại đơn vị. Các chương trình nghiên cứu khoa học tại Khu BTTN Pù Hoạt từ khi thành lập tới nay mới chỉ thực hiện ở mức độ chuyên đề nhỏ, chưa có sự đầu tư chuyên sâu, cụ thể: Nghiên cứu đa dạng động, thực vật tại Khu BTTN Pù Hoạt tiến hành năm 2013 với mức độ chuyên sâu chưa cao mới mang tính bước đầu thống kê; năm 2014 tiến hành chuyên đề nghiên cứu phân bố và đặc tính sinh thái của loài Sa mu dầu tại Khu BTTTN Pù Hoạt; năm 2015 tiến hành chuyên đề nghiên cứu phân bố loài Lùng trong rừng đặc dụng BQL KBTTN Pù Hoạt.
Nhưng chưa có công trình, đề tài nào nghiên cứu nào về đa dạng,đặc điểm, phân bố của họ Máu chó (Myristicaceae) từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn, 2 quản lý và phát triển chúng. Từ thực tiễn trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài thuộc họ Máu chó (Myristicaceae) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, Nghệ An” nhằm góp phần thống kê được các loài trong họ Máu chó tại Khu BTTN Pù Hoạt, từ đó có thể đưa ra được các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững tại Khu BTTN Pù Hoạt, Nghệ An.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về họ Máu chó trên Thế giới Hệ thống phân loại APGIV là hệ thống tiến hóa của nhóm thực vật có hoa, được xây dựng dựa trên các minh chứng khách quan về phân tử, giải phẫu và hình thái. Hệ thống APG IV hiện nay được đa số các nhà khoa học, tạp chí chuyên ngành về phân loại thực vật sử dụng chính thức.
Từ các ưu điểm và mức độ phổ biến hiện nay trên Thế giới của hệ thống, nên chúng tôi đã lựa chọn APG IV sử dụng làm hệ thống phân loại thực vật trong nghiên cứu này. Trong hệ thống APG IV, họ Máu chó nằm trong bộ Ngọc lan (Magnoliales) và bộ này có 6 họ đại diện là: Annonaceae, Eupomatiaceae, Magnoliaceae, Degeneriaceae, Himantandraceae và Myristicaceae (Hình 1.1), Việt Nam có 3 họ là Annonaceae, Magnoliaceae và Myristicaceae. Sơ đồ một số bộ thực vật nguyên thủy trong hệ thống APG IV Họ Máu chó (Myristicaceae) nằm trong Bộ Ngọc lan (Magnoliales) là nhóm thực vật nguyên thủy trong Ngành Hạt kín (Angiospermae), nên đặc điểm của bộ cũng chính là đặc điểm của họ. Bộ có đặc điểm: Thường là cây gỗ hay cây bụi, bản ngăn mạch thủng lỗ hình thang hay thủng lỗ đơn.
Lá đơn nguyên, mọc 4 cách, gân lông chim, khí khổng dạng sọng bào. Hoa to đơn lẻ đều, lưỡng tính hoặc đơn tính, thụ phấn nhờ côn trùng. Các bộ phận trong hoa nhiều, rời (hoặc ít khi hợp) thường chưa phân hóa rõ, xếp trên đế hoa lồi. Chỉ nhị dẹp, 3 gân.
Hạt phấn 2 tế bào, 1 rãnh ở lưng. Lá noãn gấp đôi, thường chứa 2-6 noãn, đầu nhụy ven theo mép. Noãn đảo, 2 lớp vỏ, phôi tâm dày, đính noãn mép. Quả kép hoặc quả đơn, dạng quả thịt, đại hoặc nang mềm đôi khi dạng quả kín có cánh.
Hạt có nội nhũ to, nhiều dầu, phôi nhỏ. Bộ Ngọc lan mang nhiều đặc điểm nguyên thủy đứng gần nhất với tổ tiên của ngành Hạt kín. Đặc điểm họ Máu chó Họ Máu chó có đặc điểm thường là cây nhỡ hay nhỏ, thân thường có tế bào chứa dầu thơm và nhiều nhựa màu đỏ vàng. Khi lớn cây thường có múi tròn dọc thân.
Lá đơn mép nguyên, mọc cách, không có lá kèm. Hoa đơn tính khác gốc, hoa tự xim hoặc mọc cụm ở nách lá. Hoa đực có 3 cánh đài, ít khi 2-5; không có tràng; nhị nhiều hợp thành ống hình trụ hay đĩa, bao phấn đính trên ống hoặc đĩa. Hoa cái cũng không có tràng, bầu trên, 1 ô, 1 noãn.
Quả đại đơn, nứt theo 1 đường. Hạt có vỏ giả nguyên hoặc xẻ sợi bao bọc. Họ Máu chó bao gồm khoảng 20 chi, với gần 500 loài cây và bụi phát hiện ở các vùng nhiệt đới trên khắp thế giới. Hầu hết các loài là những cây lớn được đánh giá trong ngành gỗ.
Chúng thường là các loại cây có màu sáp (thường là màu đỏ) và các loại dầu thiết yếu là những cơ chế bảo vệ chống lại các chất độc hoặc độc hại có thể đẩy lùi hoặc làm hỏng nhiều sinh vật ăn cỏ. Gỗ có màu hồng đến đỏ do màu sắc của nhựa. Khi cắt, thân cây phát ra một nhựa màu đỏ. Cây lá thường có mùi thơm và lá có màu bóng, xanh đậm, đơn giản, thường xanh và vỏ bọc.
Hoa thường nhỏ và chỉ có ba cánh hoa hoặc không có cánh hoa. Các cụm hoa và phát ra một mùi hăng. Các hoa thường là một màu xanh lá cây, trắng, hoặc màu vàng. Hoa cái không có staminodes.
Những bông hoa đực không có gynoecium. Quả thường khá lớn và ở hầu hết các loài, trái cây tự nhiên vỡ khi trưởng thành (hoa quả thoáng). Họ Máu chó Myristicaceae ở Việt Nam có khoảng 22 loài gồm toàn các cây gỗ rừng (chia ra 3 chi Horsfieldia, Knema và Myristica) chủ yếu ở miền Trung. Ở vùng đồng bằng miền Nam nhất là quanh Sài Gòn thì có thể gặp 5 1 loài mọc nhiều ven sông rạch là cây Xăng máu rạch có tán lá gồm nhiều tầng nhánh mọc ngang thẳng góc với thân cây.
Họ Máu chó (Myristicaceae) là họ thực vật có hoa của châu Phi, châu Á, hòn đảo Thái Bình Dương và châu Mỹ và đã được hầu hết các nhà phân loại học công nhận. Nó đôi khi được gọi là "Họ Nhục đậu khấu", sau thành viên nổi tiếng nhất của nó, Myristica fragrans, nguồn của hạt và vỏ nhục đậu khấu dung làm hương liệu. Các chi được biết đến nhiều nhất là Myristica và Virola. Nghiên cứu về họ Máu chó trên thế giới Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về họ Máu chó, nghiên cứu về các chi, đặc điểm hình thái giải phẫu, mối quan hệ giữa họ Máu chó và các họ khác trong cùng bộ Ngọc lan.
Vào năm 1976 loài Myristica yunnanensis Y. Li lần đầu tiên được mô tả bởi Li Yan Hui dựa trên tiêu bản Tao Gou-Da 7146(Type), Li Yan Hui 8506 tại phòng tiêu bản Viện Thực vật Côn Minh (KUN) và đăng trên tạp chí Acta Phytotaxonomica Sinica năm 1976. Loài này được ghi nhận có phân bố ở phía nam Trung Quốc và bắc Thái Lan ở độ cao từ 400 đến 700 m hay Sự đa dạng và tiến hóa của Androecium ở Myristicaceae (Magnoliales), với mô tả về một chi Malagasy mới.