Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ được đề cập chính thức vào năm 1989 do W. Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi” (The Economic value of Non - timber Forest products in Southeast asia - W.
Theo Hội đồng Lâm nghiệp (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non - timber forest products - NTFP, hoặc Non wood forest products - NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng” [33]. Theo Trần Ngọc Hải (2000): “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các loại thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, mầu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi …” [12]. Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả lâm sản khác gỗ được khai thác từ rừng (rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người, bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi,.
Hiện nay, người dân sống gần rừng vẫn chủ yếu sống dựa vào những loài cung cấp thực phẩm, cây thuốc quý được lưu truyền qua các thế hệ. Những sản phẩm giá trị đó được lấy từ rừng đó chính là nguồn Lâm sản ngoài gỗ (LSNG). n 5 LSNG được chia theo 6 nhóm giá trị sử dụng như sau [12]. + Nhóm 1: Tre, nứa, song, mây các loại thân lá có sợi được dùng trong việc tạo ra sản phẩm thủ công, mỹ nghệ, làm giấy… và củ (măng) được dùng làm thực phẩm.
+ Nhóm 2: - Những sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật như: Thân, chồi non, rễ, lá, hoa, quả, hạt, các loại gia vị, hạt có dầu, nấm… có thể dùng làm thực phẩm. - Những sản phẩm có nguồn gốc từ động vật như: Mật ong, thịt thú rừng, cá, tổ yến, trứng chim, các loại côn trùng ăn được. + Nhóm 3: Dược liệu, chất thơm và cây có chất độc. + Nhóm 4: Các loại nhựa, tanin, chất màu, dầu béo và tinh dầu… + Nhóm 5: Động vật và những sản phẩm từ động vật không dùng làm thực phẩm như các loại thú rừng, chim, côn trùng sống, da, sừng, ngà voi, xương, cánh kiến đỏ + Nhóm 6: cây cảnh, lá để gói thức ăn, hàng hóa, phong lan… LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội: + LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội.
Chúng có giá trị lớn và có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm. + LSNG có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng. Chúng đóng góp vào sự đa dạng sinh học của rừng. Chúng là nguồn gen hoang dã quý, có thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp.
+ LSNG hiện bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi ảnh hưởng của sự tăng dân số, mở rộng canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai thác gỗ, thu hái chất đốt. Thực trạng và vai trò LSNG Việt Nam 1. Thực trạng nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam Việt Nam là một nước nhiệt đới có rất nhiều loài LSNG có giá trị, có sản lượng lớn và có thể khai thác. Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản n 6 ngoài gỗ Việt Nam trong số 12000 loài cây được thống kê có: 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho dầu, 600 loài cho tanin, 260 loài cho tinh dầu, 93 loài cho chất mầu, 1498 loài cho các dược phẩm.
Theo dự đoán của nhiều nhà thực vật số loài thực vật bậc cao có thể lên tới 20.000 loài, hệ động vật cũng đã thống kê được 225 loài thú, 828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái [2]. Việt Nam hiện có khoảng 30/64 tỉnh có hoạt động gây trồng và thu hái LSNG từ rừng, trong đó diện tích thu hái LSNG từ rừng tự nhiên là gần 1,2 triệu ha và diện tích LSNG được gây trồng là gần 500. Các loài cây chủ yếu được gây trồng hoặc thu hái là Tre trúc, song mây, Thông lấy nhựa, Quế, Hồi, Thảo quả, Bời lời đỏ… Thực trạng khai thác còn mang tính tự phát, phân tán, chưa có quy hoạch, kỹ thuật giống và lâm sinh còn lạc hậu. Các loài cây lâm sản ngoài gỗ chủ yếu là tre, nứa, trúc 769.411 ha (chiếm 47%); song, mây 381.936 ha (22,4%), thông nhựa 255.
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam rừng nhiệt đới ở địa hình thấp không còn nguyên vẹn nữa vì phần lớn các khu rừng thấp này đã bị biến đổi do các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và định cư, làm cho sự giàu có vốn có về tài nguyên sinh học ở đây đã bị suy thoái nghiêm trọng. Cũng vì thế mà các khu rừng nguyên vẹn phần lớn chỉ còn sót lại ở các vùng núi cao, những nơi hiểm trở. Đó là những nơi cư trú cuối cùng của các loài đặc hữu và các loài có nguy cơ bị tiêu diệt. Nguyên nhân gây nên sự suy giảm tài nguyên rừng, nhất là lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước khác trên thế giới: đó là sự mâu thuẫn giữa cung và cầu.
Tài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu cầu của nhân dân thì ngày càng tăng, một mặt là để đáp ứng cuộc sống cho số dân tăng thêm một cách nhanh chóng, mặt khác là mức độ tiêu dùng của người dân cũng tăng thêm không ngừng. Nhiều loại LSNG được sử dụng cho sản xuất và đời sống của người dân, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nước ta. Nó đặc biệt quan trọng n 7 đối với cộng đồng địa phương miền núi và người dân tộc thiểu số có đời sống phụ thuộc chặt chẽ vào tài nguyên rừng. LSNG còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, Bộ NN và PTNT ước tính giá trị xuất khẩu LSNG năm 2008 là khoảng 300- 400 triệu USD, bằng gần 20% tổng giá trị xuất khẩu đồ gỗ.
Khai thác, chế biến, kinh doanh LSNG đã thu hút hàng trăm nghìn lao động, chủ yếu là ở nông thôn, miền núi góp phần đáng kể vào xóa đói giảm nghèo ở các địa phương có rừng và đất rừng. Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa quy hoạch tổng thể được việc bảo tồn, phát triển, khai thác và kinh doanh các loại LSNG ở nước ta. Để có thể nâng cao hiệu quả kinh tế của người dân từ LSNG, nhà nước và nhân dân cần phải có chiến lược phát triển về gây trồng, chế biến và tiêu thụ góp phần nâng cao đời sống của người dân miền núi [14]. Trong thời gian gần đây, cùng với việc mở rộng quy mô hội nhập kinh tế quốc tế đã mở rộng trao đổi buôn bán hàng hoá trên thị trường ngoài nước, làm phong phú chủng loại và tăng nhanh nhu cầu hàng hoá lâm sản ngoài gỗ, tạo nên những cơ hội cho các doanh nghiệp, hộ gia đình, làng nghề truyền thống chế biến và kinh doanh lâm sản ngoài gỗ.
Vào cuối những năm 80, xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ của nước ta chỉ đạt giá trị khoảng 10 triệu USD. Nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ năm 2004 đã đạt gần 200 triệu USD, riêng hàng mây tre đan là 138 triệu USD. Nhóm mặt hàng mây tre đan chiếm tỉ lệ lớn nhất trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu (72,34%), từ năm 2003 giá trị xuất khẩu từ 100-130 triệu USD; sau đó là mật ong: 8,40%, quế hồi: 7,87%. Nhìn chung tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao, bình quân khoảng 15-25%/năm (xấp xỉ tăng trưởng xuất khẩu cả nước).
Một số mặt hàng lâm sản ngoài gỗ xuất khẩu tăng mạnh như: sản phẩm mây tre đan có tốc độ tăng trưởng bình quân 31,25%/năm; mật ong tốc độ tăng trưởng cao [14] [11]. Hiện nay, Lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ; song do phần lớn các cơ sở chế biến LSNG đều có quy mô nhỏ, không gắn với vùng nguyên liệu ổn định, công nghệ và thiết bị lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, mẫu mã bao bì còn hạn chế nên tính cạnh tranh trên thị n 8 trường quốc tế chưa cao. Thị trường Nhật Bản và Đài Loan chiếm thị phần cao và ổn định, thị trường Mỹ mới có từ năm 2001 nhưng có mức tăng trưởng nhanh, có triển vọng là thị trường tiềm năng. Vai trò của lâm sản ngoài gỗ - LSNG là một bộ phận quan trọng của rừng nhiệt đới, quan hệ tới sự duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng.
Phần lớn cây LSNG nằm dưới tán rừng, có tác dụng giảm tác động của nước mưa xuống mặt đất, ngăn chặn dòng chảy mặt, chống xói mòn cho đất rừng. Gây trồng LSNG trong rừng là tăng độ che phủ và nâng cao giá trị phòng hộ của các khu rừng. - Phát triển Lâm sản ngoài gỗ là một phương thức làm tăng giá trị kinh tế của rừng góp phần khôi phục, nâng cao giá trị của các khu rừng nghèo, động viên người dân địa phương tham gia tích cực hơn vào công cuộc bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, chống lại việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích sử dụng khác. Lâm sản ngoài gỗ có vai trò quan trọng đối với các cộng đồng dân cư và các hộ dân (nhất là dân tộc thiểu số) miền núi trong việc đảm bảo an toàn lương thực, chăm sóc sức khoẻ, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống.
- Việc khai thác LSNG thường ít ảnh hưởng đến cấu trúc tầng cây gỗ và vai trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng. Tuy nhiên, muốn có LSNG để khai thác phải bảo vệ hệ sinh thái rừng. Vì vậy, khai thác LSNG đúng kỹ thuật cũng là một biện pháp tích cực bảo vệ rừng. - Trong những năm gần đây, LSNG đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người, do nhận thức rõ hơn về LSNG trong sự đóng góp vào kinh tế hộ và an toàn lương thực vào nền kinh tế quốc dân, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học.