Đa Dạng Thành Phần Loài Rết Thuộc Giống Otostigmus Tại Việt Nam

Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và mối quan hệ di truyền giữa các loài rết giống Otostigmus tại Việt Nam, góp phần bảo tồn sinh học.

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TỔNG QUAN VỀ RẾT

1.2. ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ RẾT VIỆT NAM

1.3. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LOÀI THUỘC GIỐNG OTOSTIGMUS Ở VIỆT NAM

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.2.2. Phương pháp thu mẫu

2.2.3. Phương pháp phòng thí nghiệm

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CỦA GIỐNG OTOSTIGMUS Ở VIỆT NAM

3.2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC LOÀI TRONG GIỐNG OTOSTIGMUS Ở VIỆT NAM

3.2.1. Otostigmus aculeatus Haasen, 1887

3.2.2. Otostigmus amballae Chamberlin, 1913

3.2.3. Otostigmus multidens Haase, 1887

3.2.4. Otostigmus politus politus Karsch, 1881

3.2.5. Otostigmus resevatus Schileyko, 1995

3.2.6. Otostigmus scaber Porat, 1876

3.2.7. Otostigmus spinosus Porat, 1876

3.2.8. Otostigmus voprosus Schileyko, 1992

3.3. KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC LOÀI TRONG GIỐNG OTOSTIGMUS Ở VIỆT NAM

3.4. MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN VÀ SỰ PHÁT SINH CHỦNG LOẠI GIỮA CÁC LOÀI TRONG GIỐNG OTOSTIGMUS Ở VIỆT NAM

3.4.1. Khoảng cách di truyền

3.4.2. Quan hệ phát sinh theo phân tích Maximum Likelihood

3.4.3. Quan hệ phát sinh theo phân tích Bayesian Inference

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Đa Dạng Loài Rết Otostigmus

Rết là nhóm động vật đất quen thuộc, thường sống ở môi trường ẩm tối như dưới lớp mùn, lá khô, thân cây chết, hoặc dưới đất. Đa số rết là động vật ăn thịt, đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, giúp phân giải chất hữu cơ và duy trì cân bằng sinh thái. Chúng cũng là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn. Một số loài rết còn có tập tính hoại sinh, tiêu diệt côn trùng gây hại trong nhà như ruồi, gián. Ngoài ra, rết còn được sử dụng trong đông y để chữa một số bệnh.

Việt Nam ghi nhận 71 loài rết, thuộc 26 giống, 13 họ, 4 bộ vào năm 2013. Trong đó, giống OtostigmusLithobius có số lượng loài nhiều nhất. Bộ Scolopendromorpha chiếm gần 50% số loài rết đã được ghi nhận. Các nghiên cứu về khu hệ rết ở Việt Nam trước đây chủ yếu do các tác giả nước ngoài thực hiện. Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam còn tản mạn và chưa tập trung. Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn về đa dạng sinh học rết, đặc biệt là giống Otostigmus, là rất cần thiết.

1.1. Vai Trò Của Rết Trong Hệ Sinh Thái Tự Nhiên

Rết đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái. Chúng tham gia vào quá trình phân giải các chất hữu cơ, giúp đất đai màu mỡ hơn. Đồng thời, rết cũng là nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật khác, góp phần vào sự đa dạng sinh học. Rết còn có vai trò kiểm soát số lượng côn trùng gây hại, giúp bảo vệ mùa màng và sức khỏe con người. Theo Lê Xuân Huệ (1999), rết còn được sử dụng trong các bài thuốc dân gian.

1.2. Giới Thiệu Về Giống Rết Otostigmus

Giống Otostigmus thuộc bộ Scolopendromorpha, họ Scolopendridae. Đây là một trong những giống rết lớn, phân bố rộng rãi ở nhiều khu vực trên thế giới. Các loài Otostigmus có đặc điểm hình thái đa dạng, kích thước khác nhau. Việc nghiên cứu về phân loại học rếtđặc điểm sinh học rết của giống Otostigmus ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ hơn về sự đa dạng sinh học của giống rết này.

II. Thách Thức Trong Nghiên Cứu Đa Dạng Rết Otostigmus ở VN

Mặc dù Việt Nam có đa dạng sinh học phong phú, nhưng các nghiên cứu về rết, đặc biệt là giống Otostigmus, còn rất hạn chế. Số liệu nghiên cứu còn ít, các loài Otostigmus phân bố rải rác ở một số khu vực. Mối quan hệ di truyền giữa các loài Otostigmus ở Việt Nam chưa được làm rõ. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu do các tác giả nước ngoài thực hiện, công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam còn tản mạn, chưa tập trung. Điều này gây khó khăn cho việc bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học rết ở Việt Nam. Cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn để đánh giá đúng mức sự đa dạng sinh học và vai trò của rết trong hệ sinh thái.

2.1. Thiếu Dữ Liệu Về Phân Bố Địa Lý Rết Otostigmus

Thông tin về phân bố địa lý rết của các loài Otostigmus ở Việt Nam còn rất hạn chế. Các ghi nhận về sự xuất hiện của chúng thường rải rác và không đầy đủ. Điều này gây khó khăn cho việc đánh giá chính xác phạm vi phân bố và số lượng cá thể của từng loài. Việc thiếu thông tin về môi trường sống của rết cũng là một thách thức lớn. Cần có các cuộc khảo sát và thu thập mẫu vật ở nhiều khu vực khác nhau để có được bức tranh đầy đủ hơn về phân bố địa lý của giống Otostigmus.

2.2. Khó Khăn Trong Phân Loại Học Rết Otostigmus

Việc phân loại học rết giống Otostigmus gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng về hình thái và sự biến đổi giữa các cá thể. Nhiều loài có hình thái tương đồng, gây nhầm lẫn trong quá trình định loại. Việc thiếu các bộ mẫu chuẩn và tài liệu tham khảo đầy đủ cũng là một trở ngại lớn. Cần kết hợp các phương pháp nghiên cứu hình thái và phân tử để xác định chính xác các loài Otostigmus ở Việt Nam. Các nghiên cứu của Attems (1953) và Schileyko (1992, 1995, 2007) đã ghi nhận sự có mặt của các loài thuộc giống Otostigmus.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đa Dạng Sinh Học Rết Otostigmus

Để nghiên cứu đa dạng sinh học rết Otostigmus hiệu quả, cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Đầu tiên, cần thu thập mẫu vật ở nhiều khu vực khác nhau trên cả nước. Sau đó, tiến hành mô tả chi tiết đặc điểm hình thái rết của từng loài. Đồng thời, sử dụng các phương pháp phân tích di truyền để xác định mối quan hệ phát sinh giữa các loài. Cần kế thừa các tài liệu nghiên cứu trước đây và áp dụng các kỹ thuật hiện đại để có được kết quả chính xác và tin cậy. Việc hợp tác với các chuyên gia trong và ngoài nước cũng rất quan trọng để nâng cao chất lượng nghiên cứu.

3.1. Thu Thập Mẫu Vật Rết Otostigmus

Quá trình thu thập mẫu vật cần được thực hiện một cách cẩn thận và có hệ thống. Cần chọn các khu vực đại diện cho các kiểu môi trường sống của rết khác nhau. Sử dụng các phương pháp thu thập phù hợp, như đào đất, lật đá, tìm kiếm dưới lá khô và thân cây mục. Mẫu vật cần được bảo quản đúng cách để đảm bảo chất lượng cho các phân tích sau này. Ghi chép đầy đủ thông tin về địa điểm, thời gian thu thập và các đặc điểm sinh thái học rết của mẫu vật.

3.2. Phân Tích Hình Thái Và Di Truyền Rết Otostigmus

Phân tích hình thái là bước quan trọng để xác định sơ bộ các loài Otostigmus. Cần mô tả chi tiết các đặc điểm hình thái, như số lượng đốt, màu sắc, kích thước và hình dạng của các bộ phận cơ thể. Phân tích di truyền giúp xác định chính xác hơn mối quan hệ phát sinh giữa các loài. Sử dụng các đoạn gen COI để so sánh và phân tích sự khác biệt di truyền giữa các loài. Kết hợp kết quả phân tích hình thái và di truyền để đưa ra kết luận cuối cùng về phân loại học rết.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Đa Dạng Rết Otostigmus Trong Bảo Tồn

Nghiên cứu về đa dạng sinh học rết Otostigmus có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Kết quả nghiên cứu giúp xác định các loài rết quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng. Từ đó, đề xuất các biện pháp bảo tồn phù hợp, như bảo vệ môi trường sống của rết, hạn chế khai thác và sử dụng quá mức. Nghiên cứu cũng cung cấp thông tin khoa học cho việc xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên và các chương trình giáo dục về đa dạng sinh học.

4.1. Xác Định Các Loài Rết Otostigmus Cần Ưu Tiên Bảo Tồn

Việc xác định các loài rết Otostigmus cần ưu tiên bảo tồn là rất quan trọng. Cần đánh giá mức độ nguy cấp của từng loài dựa trên các tiêu chí như số lượng cá thể, phạm vi phân bố và mức độ đe dọa từ các hoạt động của con người. Các loài có số lượng ít, phân bố hẹp và bị đe dọa nhiều cần được ưu tiên bảo tồn hơn. Xây dựng kế hoạch hành động cụ thể cho từng loài, bao gồm các biện pháp bảo vệ môi trường sống và phục hồi quần thể.

4.2. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng Về Bảo Tồn Rết

Nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn rết là một yếu tố then chốt. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục để người dân hiểu rõ hơn về vai trò của rết trong hệ sinh thái và những lợi ích mà chúng mang lại. Khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn, như bảo vệ môi trường sống và báo cáo các trường hợp săn bắt, buôn bán rết trái phép. Sự tham gia tích cực của cộng đồng sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo tồn đa dạng sinh học rết.

V. Kết Luận Và Hướng Nghiên Cứu Về Rết Otostigmus Tương Lai

Nghiên cứu về đa dạng sinh học rết Otostigmus ở Việt Nam còn nhiều tiềm năng phát triển. Cần tiếp tục điều tra, khảo sát ở các khu vực khác nhau để có được bức tranh đầy đủ hơn về sự phân bố và đa dạng của giống rết này. Nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học rết, sinh thái học rết và vai trò của chúng trong hệ sinh thái. Ứng dụng các công nghệ hiện đại, như phân tích di truyền và mô hình hóa không gian, để nâng cao chất lượng nghiên cứu. Hợp tác quốc tế để trao đổi kinh nghiệm và kiến thức về bảo tồn đa dạng sinh học.

5.1. Mở Rộng Phạm Vi Nghiên Cứu Địa Sinh Học Rết

Cần mở rộng phạm vi nghiên cứu địa sinh học để khám phá các khu vực tiềm năng có sự đa dạng sinh học rết cao. Tập trung vào các khu vực núi đá vôi, rừng nguyên sinh và các khu bảo tồn thiên nhiên. Sử dụng các phương pháp khảo sát hiện đại, như bẫy ảnh và thu thập mẫu vật tự động, để tăng hiệu quả thu thập dữ liệu. Phân tích mối liên hệ giữa phân bố địa lý rết và các yếu tố môi trường, như khí hậu, địa hình và loại đất.

5.2. Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Môi Trường Đến Rết Otostigmus

Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đến rết là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về khả năng thích nghi và tồn tại của chúng. Điều tra tác động của các hoạt động của con người, như phá rừng, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, đến quần thể rết. Đánh giá khả năng phục hồi của rết sau các tác động tiêu cực. Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng của môi trường và bảo vệ môi trường sống của rết.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ đa dạng thành phần loài và mối quan hệ di truyền giữa các loài rết thuộc giống otostigmus porat 1876 chilopoda scolopendromorpha scolopendridae ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Rết là nhóm động vật đất quen thuộc với con ngƣời. Chúng thƣờng đƣợc tìm thấy ở môi trƣờng ẩm và tối nhƣ dƣới lớp mùn, dƣới lá khô, thân cây chết, dƣới đá và ngay cả dƣới đất [1]. Rết còn có thể đƣợc tìm thấy trong tầng hầm, nhà kho, nhà tắm hoặc bất cứ nơi nào có côn trùng.

Đa số rết là động vật ăn thịt đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, một số ít ăn thực vật [2]. Rết có vai trò quan trọng trong việc phân giải các chất hữu cơ, đảm bảo cho việc cân bằng hệ sinh thái. Chúng là một mắt xích quan trọng trong chuỗi và lƣới thức ăn của tự nhiên, và đóng góp vào sự đa dạng sinh học của tự nhiên. Rết có tập tính hoại sinh ăn những loài côn trùng, vì vậy, chúng có vai trò tiêu diệt những côn trùng trong nhà nhƣ ruồi, gián.

Ngoài vai trò tự nhiên, rết còn đƣợc sử dụng làm dƣợc liệu trong đông y. Trƣớc đây, các thầy thuốc đông y đã biết dùng rết để chữa một số bệnh cho trẻ em nhƣ ho, co giật, tiêu chảy [3]. Tuy nhiên, công dụng làm thuốc của rết vẫn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Năm 2013, Việt Nam ghi nhận đƣợc 71 loài rết, 26 giống, 13 họ, 4 bộ.

Trong số 26 giống ghi nhận đƣợc, có 17 giống chỉ có một loài; ba giống Ethmostigmus, Scolopocryptops, Tygarrup gặp 2 loài ở mỗi giống; giống Lithobius và Otostigmus ghi nhận đƣợc số loài nhiều nhất với 12 và 11 loài tƣơng ứng [4]. Trong 4 bộ rết gặp ở Việt Nam, bộ Scolopendromorpha gặp 34 loài, chiếm gần 50% số loài đã gặp [4]. Năm 2004, Lewis đã xem lại mẫu vật mô tả Otostigmus armatus trong bài báo của Attem năm 1953 ở Indo-China và nhận thấy rằng 2/3 mẫu vật là Otostigmus multidens, 1/3 mẫu vật là Otostigmus scaber[5]. Năm 2014, Lewis xem lại mẫu vật Otostigmus loriae loriae và ghi nhận đây là con non của Otostigmus multidens [6].

Nhƣ vậy, tính đến 2014, Việt nam ghi nhận đƣợc 69 loài rết, thuộc 26 giống,13 họ, 4 bộ. Năm 2018, Lê Xuân Sơn, Vũ Thị Hà đã ghi nhận thêm 1 loài mới cho Việt Nam là Otostigmus striloatus [7]. Năm 2019 Trần Thị Thanh Bình và cs. 2 ghi nhận cho khoa học 1 loài mới thuộc giống mới đó là Vinaphilus unicus [8].

Tổng kết lại, tính đến 2019, Việt Nam ghi nhận 71 loài rết, thuộc 27 giống, 13 họ, 4 bộ. Các nghiên cứu khu hệ rết ở Việt Nam trƣớc đây chủ yếu từ các tác giả nƣớc ngoài [9, 10, 11, 12, 13, 14]. Các công trình nghiên cứu về rết của các tác giả Việt Nam tuy có nhƣng còn tản mạn, chƣa tập trung. Lê Xuân Huệ (1999) có bài báo về rết rừng ở Việt Nam, và chủ yếu nói về công dụng của loài rết trong các bài thuốc dân gian [3].

Việt Nam có tổng diện tích đất liền là 329.241 km2, trong đó 75% diện tích là đồi núi. Về khí hậu, Việt Nam có cả khí hậu nhiệt đới gió mùa và khí hậu á nhiệt đới và ôn đới núi cao. Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu đã tạo nên tính đa dạng sinh học vô cùng phong phú và đặc sắc của Việt Nam, thể hiện ở đa dạng các hệ sinh thái, loài và nguồn gen. Đa dạng loài bao gồm: thực vật với 13.766 loài, động vật trên cạn với 10.300 loài, vi sinh vật với 7.500 loài, sinh vật nƣớc ngọt với 1.438 loài vi tảo; 800 loài động vật không xƣơng sống; 1.028 loài cá nƣớc ngọt, sinh vật biển với 11.

Đa dạng nguồn gen cây trồng, vật nuôi với 14.000 nguồn gen đƣợc bảo tồn và lƣu giữ [15]. Với nhóm rết, các số liệu nghiên cứu còn rất hạn chế, đặc biệt giống Otostigmus còn chƣa đƣợc quan tâm điều tra nhiều. Các loài Otostigmus hầu nhƣ ghi nhận phân bố rải rác tại một số khu vực ở Việt Nam. Thêm vào đó, mối quan hệ di truyền giữa các loài thuộc giống Otostigmus ở Việt Nam cũng chƣa đƣợc làm rõ.

Trong giới hạn luận văn thạc sĩ, đề tài “Đa dạng thành phần loài và mối quan hệ di truyền giữa các loài thuộc giống Otostigmus Porat, 1876 (Chilopoda: Scolopendromorpha: Scolopendridae) ở Việt Nam” đề xuất đƣợc thực hiện. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung của đề tài là tìm hiểu sự đa dạng và mối quan hệ di truyền của các loài rết thuộc giống Otostigmus Porat, 1876 ở Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể: 3 - Xác định đƣợc sự đa dạng thành phần loài rết thuộc giống Otostigmus ở Việt Nam. - Xác định đƣợc mối quan hệ phát sinh giữa các loài rết thuộc giống Otostigmus ở Việt Nam bằng dẫn liệu phân tử.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Xây dựng danh sách thành phần loài của các loài Otostigmus ở Việt Nam. - Mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và ghi nhận phân bố của từng loài Otostigmus ở Việt Nam. - Tìm hiểu mối quan hệ di truyền giữa các loài Otostigmus ở Việt Nam. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI - Cung cấp danh sách thành phần loài rết thuộc giống Otostigmus Việt Nam.

- Cung cấp đặc điểm mô tả chi tiết và phân bố của các loài thuộc giống Otostigmus Việt Nam. - Làm rõ đƣợc mối quan hệ di truyền giữa các loài thuộc giống Otostigmus ở Việt Nam. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI - Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ là cơ sở khoa học và dẫn liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về các loài rết ở Việt Nam. - Kết quả nghiên cứu đóng góp vào việc làm rõ tính đa dạng sinh học của rết ở Việt Nam.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ RẾT Rết là động vật không xƣơng sống thuộc lớp chân môi (Chilopoda), phân ngành nhiều chân (Myriapoda), ngành chân khớp (Athropoda). Rết đƣợc chia ra 6 bộ, bao gồm: - Geophilomorpha (Rết Đất) - Scolopendromorpha (Rết Lớn) - Lithobiomorpha (Rết Đá) - Scutigeromorpha(Rết Nhà) - Craterostigmomorpha - Devonobiomorpha Trong đó, chỉ có 5 bộ đầu tiên còn sống trên Trái đất (Hình 1.1), bộ Devonobiomorpha đã tuyệt chủng, bộ Craterostigmomorpha chƣa phát hiện thấy ở Việt Nam [16]. Hệ thống ph n o i học c ết (Nguồn: http://www.org/2014/06/cyanlar-ev-cyanlar-ve-mucadele.

Việc phân chia của ông dựa vào quá trình phát triển của từng nhóm, có hoặc không có sự biến đổi về đốt thân từ lúc bé đến lúc trƣởng thành (nhóm Anamorpha là không có đủ số lƣợng đốt thân từ lúc sinh ra, phải qua quá trình phát triển đến khi trƣởng thành mới đầy đủ; ngƣợc lại, nhóm Epimorpha từ lúc sinh ra đến lúc trƣởng thành số lƣợng đốt thân không thay đổi). Nhiều tác giả đồng ý với việc phân chia của Haase, nhƣ Attems [17]. Pocock (1895) lại đề xuất một hệ thống khác. Nhóm Scutigeridae đƣợc đặt riêng và 3 bộ còn lại đƣợc đặt vào một nhóm khác.

Ông đặt tên cho từng nhóm lần lƣợt là Anartiostigma và Artiostugma. Sau đó, ông đổi thành Notostigma và Pleurostigma theo các đặc điểm nổi bật, thƣờng là vị trí của các lỗ thở. Scutigeromorpha thực sự rất khác biệt với bộ khác. Một vài tác giả khác không đồng ý với cách chia của Pocock, chỉ có Verhoeff chấp nhận cách phân chia của Pocock.

Attems (1928) đồng ý với cách phân chia của Haase, bởi vì ông tin rằng việc phân chia thành Anamorpha và Epimorpha theo sự phát triển của các đốt thân là sự phát sinh loài cổ hơn là việc phân chia Notostigma và Pleurostigma theo các đặc điểm giải phẫu. Một hệ thống phân chia hoàn hảo khi nó phản ánh đƣợc mối quan hệ gần gũi giữa các loài đƣợc chia vào cùng một nhóm. Nhƣ vậy, hệ thống Chilopoda cho đến năm 1928 đƣợc chia thành 2 lớp phụ theo quan điểm của Haasen là Anamorpha và Epiomorpha.000 loài rết thuộc 5 bộ, 38 họ đã đƣợc ghi nhận và mô tả trong tự nhiên [18].  Một số đặc điểm hình thái của rết Đặc điểm chung Rết có cấu tạo cơ thể gồm nhiều đốt, bao gồm hai phần chính là phần đầu và phần thân.

Phần đầu mang râu và các bộ phận miệng, phần thân gồm nhiều đốt, mỗi đốt mang 1 đôi chân. * Phần đầu: 6 - Râu: Râu gồm một hàng các đốt, số lƣợng đốt râu của Geophilomorpha cố định (14), còn các nhóm và một số loài khác không cố định. Số lƣợng đốt nhỏ nhất (13) có thể ở một số loài thuộc bộ Lithobiomorpha, số lƣợng trung bình từ 18-100, một số Scutigeromorpha có thể lớn hơn 400. Râu là vật chuyển của bộ phận cảm giác giúp Chilopoda nhận biết những thay đổi của môi trƣờng cũng nhƣ giúp chúng phát hiện bạn tình, con mồi.

Râu gồm lông cảm giác hay những mảnh nhỏ. Lông cảm giác có ở tất cả các phần của râu. Nhóm Lithobiomorpha có mảnh nhỏ ở tất cả, nhóm Geophilomorpha ở đốt cuối hay 2 đốt cuối, nhóm Scolopendromorpha ở đốt đầu. - Các bộ phận miệng: bao gồm một đôi hàm trên và hai đôi hàm dƣới.

Hàm trên: gồm 3 phần: đốt gốc hàm, mảnh gốc hàm và bản mỏng. Hàm trên gắn chặt với đốt gốc hàm, có thể là 1 cấu tạo đơn giản hay có rãnh dài chạy ngang chia thành 4 đoạn rõ nhiều hoặc ít. Phần trong có một hoặc nhiều lá lƣợc. Thƣờng bản mỏng khía răng kết hợp với lá lƣợc.

Hàm trên thƣờng nằm ẩn sau hàm dƣới 1. Hàm dƣới 1: là điểm nhô ra nhỏ nhất và đƣợc dấu kín của đầu, có một mảnh gốc nhỏ. Thƣờng có hai phần: coxit, syncoxit mà mỗi bên có gắn một đốt cũng thƣờng 2 phần: đốt chân chính. Tất cả các phần của hàm dƣới 1 có thể có điểm nhô ra phía trên.

Hàm dƣới 2: Che phủ một phần hàm dƣới 1. Hàm dƣới hai có hình dạng nhƣ một chân chạy hoàn chỉnh. Thƣờng chúng chia làm 3 phần. Mắt: Tất cả các loài thuộc bộ Geophilomorpha và họ Cryptopidae trong bộ Scolopendromorpha không có mắt.

Họ Scolopendridae trong bộ Scolopendromorpha có 4 mắt ở mỗi bên đầu. Số lƣợng mắt của bộ Lithobiomorpha dao động từ 1 đến 40 [19]. Một số của bộ Scutigeromorpha cấu tạo đặc biệt, mắt đơn giả có tới 200 với ống kính 6 cạnh và hoàn toàn có thể phát hiện con mồi hay kẻ thù [20]. * Phần thân: Rết có cấu tạo cơ thể bao gồm nhiều đốt với số lƣợng dao động từ 15 7 đến hơn 177 đốt.

Trên tất cả các đốt cơ thể, mỗi đốt đều mang một đôi chân chạy ngoại trừ 2 đốt cuối cùng là đốt sinh dục và đốt hậu môn. Đôi chân đầu tiên bị biến đổi thành vuốt độc-còn gọi là chân hàm. Chân hàm mang nọc độc. Các chân tiếp theo gọi là chân chạy gồm 6 đốt chân: Đốt háng, đốt chuyển, đốt trƣớc đùi, đốt đùi, đốt ống và đốt bàn chân.

Phần cuối của đốt bàn chân là gai đốt bàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đa Dạng Loài Rết Otostigmus Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng của loài rết Otostigmus tại Việt Nam, một nhóm động vật có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các loài rết khác nhau mà còn phân tích môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về sự đa dạng sinh học, từ đó nâng cao nhận thức về bảo tồn và phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các loài động vật khác trong hệ sinh thái, bạn có thể tham khảo tài liệu "Nghiên cứu tính đa dạng các loài dơi mammalia chiroptera ở khu dự trữ sinh quyển cù lao chàm hội an", nơi khám phá sự đa dạng của loài dơi trong một khu vực bảo tồn. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học loài bò sát tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông tỉnh thanh hóa" sẽ cung cấp thêm thông tin về sự đa dạng của loài bò sát, một phần quan trọng trong hệ sinh thái. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Luận văn nghiên cứu đa dạng thành phần loài ve sầu họ cicadidae hemiptera auchenorrhyncha ở vườn quốc gia tam đảo tỉnh vĩnh phúc", tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phong phú của loài ve sầu trong môi trường tự nhiên. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về sự đa dạng sinh học tại Việt Nam.