MỞ ĐẦU Chi Tế tân (hay Hoa tiên, gừng dại – Asarum L.) thuộc họ Nam mộc hƣơng ( ristolochiaceae), bao gồm khoảng 128 loài, phát triển đa dạng ở các vùng ôn đới Bắc bán cầu. Chi này có nhiều loài bản địa ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Đài Loan và duy nhất một loài ở châu Âu. Theo các nghiên cứu trong nƣớc, ở Việt Nam ghi nhận 10 loài theo các tài liệu phân loại thực vật trong đó các loài A. balansae Franch: Biến hóa núi cao; A.
Tế hoa blume; A. caudigerum Hance Thổ Tế tân; A. Schmidt Tế hoa pételot và A. reticulatum Merr Tế hoa mạng phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc nƣớc ta; riêng A.
wulingense Liang (Tế tân Vũ Linh) đƣợc phát hiện ở Hƣơng Sơn, Hà Tĩnh; trong đó 3 loài n m trong sách đỏ nƣớc ta. Ở một số khu vực vùng cao, các bộ phận nhƣ rễ, thân của các loài trong chi Tế tân đƣợc đồng bào các dân tộc sử dụng làm thuốc chữa các bệnh nhƣ viêm phế quản, hen suyễn hay phong hàn, tê thấp hay dùng thay thế mật gấu chữa bệnh. Trong các bài thuốc dân gian, các sản phẩm từ chi này còn đƣợc sử dụng kết hợp với các dƣợc liệu khác ngâm làm rƣợu thuốc, thuốc bổ. Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc cho thấy, các loài Tế tân hầu hết có tinh dầu với một số thành phần chính nhƣ myristicin, metyl eugenol, myrcen, asafrol, borneol, safrol hay α-pinen.
bên cạnh đó còn có các chất khác secquiterpen, sterol, naringenin hay các glycosyl flavonoid. Ở Việt Nam, đã có một số nhóm nghiên cứu khoa học về thành phần hóa học của một số loài trong chi này, tuy nhiên còn khá hạn chế về phƣơng pháp cũng nhƣ quy mô nghiên cứu. Bên cạnh đó, chƣa có nghiên cứu nào đƣợc ghi nhận về việc phân loại các loài này thông qua các chỉ thị phân tử ở nƣớc ta. Trong khi đó, nghiên cứu và ứng dụng nguồn tài nguyên cây cỏ vào y học cổ truyền rất có giá trị cho đời sống và y học.
Việc có thêm những thông tin quan tâm vào hệ thống dữ liệu phát sinh gen sẽ giúp khắc phục các khó khăn trong việc nhận diện mẫu, điều gây trở ngại cho các nhà nghiên cứu phân loại, tiến hóa, đặc biệt là khi nghiên cứu nhóm phân bố rộng và các loài có nguy cơ tuyệt chủng với nguyên liệu quý hiếm, các loài cây thuốc có giá trị cao. Với sự phát triển mạnh mẽ của sinh học phân tử hiện nay, việc khai thác thông tin loài thông qua chỉ thị phân tử là 2 rất cần thiết phục vụ trong nghiên cứu cơ bản cũng nhƣ các ứng dụng trong đời sống. Thông thƣờng, việc phân loại sẽ dựa trên các đặc điểm về hình thái bên ngoài, giải phẫu hoặc các đặc tính về sinh hóa, sinh lý bên trong nhờ vào bảng hƣớng dẫn định danh có sẵn nhƣng vẫn có sự sai sót nhất định trong phân loại khi những quan sát hình thái ở các giai đoạn sinh trƣởng, phát triển chƣa đầy đủ để định danh hoặc nhóm loài có quan hệ gần gũi mang những đặc điểm hình thái có độ tƣơng đồng cao, những mẫu vật bị khô héo, hƣ hỏng hay không còn nguyên dạng dẫn tới những khó khăn trong việc nhận diện và không thể nhận diện đƣợc. Trong các phƣơng pháp phân loại b ng phân tử chỉ thị DNA barcoding là kỹ thuật định danh loài b ng cách sử dụng các vùng DNA chuẩn trên hệ gen sinh vật chỉ với một mẫu vật rất nhỏ, dùng một trình tự nucleotide của một chuỗi DNA ngắn ở vùng có tính bảo thủ cao (vùng ít bị thay đổi) nhƣng có thể thay đổi trong quá trình tiến hóa để đánh giá sự sai khác di truyền giữa các sinh vật; phƣơng pháp này sẽ khắc phục các nhƣợc điểm phân loại b ng hình thái nhờ tính chính xác cao và nhanh chóng của nó.
Chỉ thị DN sử dụng vùng gen của ty thể đã đƣợc thiết lập tốt ở động vật, việc lựa chọn các mã vạch cho thực vật thƣờng sử dụng các vùng gen ở lục lạp, cùng với sự kết hợp với một vài vùng trên hệ gen nhân nhƣ các đoạn ITS. Nghiên cứu về chỉ thị DNA của loài cây A. splendens ở nƣớc ta hầu nhƣ chƣa có cũng nhƣ các nghiên cứu quốc tế còn rất hạn chế. Là một trong những cây thuốc đƣợc ứng dụng thay thế mật gấu để chữa bệnh, đặc biệt là tiềm năng ứng dụng trong chữa bệnh gan và thực tế nghiên cứu về loài này còn ít nên chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu định danh và đánh giá đa dạng di truyền của loài tế tân Thanh Thành (Asarum splenders) thu thập tại Việt Nam”, thông qua đó góp phần vào hiểu biết chung về các đặc tính sinh học và về tính đa dạng trong di truyền DN phục vụ phân loại, giám định cho loài cây này.
Đề tài thực hiện mục tiêu thu thập một số mẫu lá, thân của cây từ các vùng núi phía Bắc của Việt Nam. Đánh giá đƣợc tính đa dạng di truyền dựa trên các chỉ thị DN barcode ITS1, ITS2, matK và rpoC của cây Asarum splendens so với các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về loài Asarum splendens và với loài khác trong chi Tế tân. Từ đó, có cái nhìn khái quát 3 chung về đa dạng di truyền loài Tế tân nói chung và Tế tân A. splendens ở Việt Nam nói riêng.
Với những nội dung thực hiện trong nghiên cứu nhƣ sau: - Thu thập mẫu tại các vùng núi khác nhau của miền núi phía Bắc. - Tách chiết DNA và PCR khuếch đại 4 đoạn chỉ thị DNA barcode ở thực vật. - Giải mã và phân tích trình tự nucleotide các đoạn chỉ thị DNA barcode. - Phân tích đánh giá sự đa dạng của mẫu nghiên cứu dựa trên chỉ thị DN b ng công cụ tin sinh.
Ý nghĩa và điểm mới của luận văn: Cung cấp thêm dữ liệu DN đặc trƣng của loài Tế tân Thanh Thành (A. splender) cũng nhƣ ở một vài loài Tế tân khác ở Việt Nam, đóng góp rất có ý nghĩa trong nghiên cứu nh m tìm ra những chỉ thị hữu ích cho việc phân loại và nhận dạng loài Tế tân Thanh Thành cũng nhƣ các loài Tế tân khác của Việt Nam. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đ C ĐIỂM CHUNG VỀ CHI TẾ TÂN (ASARUM L.1 Đặc điểm phân bố inh hái và hình hái chung của chi Tế tân Chi Tế tân (hay Hoa tiên, gừng dại – Asarum L.) thuộc họ Nam mộc hƣơng ( ristolochiaceae), bao gồm khoảng 128 loài [1] phát triển đa dạng ở các vùng ôn đới Bắc bán cầu. Chi này có nhiều loài bản địa ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Đài Loan và duy nhất một loài ở châu Âu.
Theo một số nghiên cứu chi Tế tân đƣợc tìm thấy chủ yếu ở vùng núi có độ cao từ 700 m trở lên so với mặt nƣớc biển. Các loài cây Tế tân ƣa thích các khu vực ẩm ƣớt, có nhiều bóng râm và đất giàu mùn, lá có hình tim, mỗi năm lá mọc ra từ các đầu chồi tăng trƣởng trên thân rễ. Các nghiên cứu trong nƣớc cho thấy tuy cây Tế tân phát triển khá tốt trong các khu rừng đặc dụng, nhờ cách thức sinh trƣởng nhƣng cũng bị đe dọa do các hoạt động khai thác quá mức để làm thuốc dẫn đến suy giảm nghiêm trọng trong tự nhiên. Theo các công trình nghiên cứu của GS Phạm Hoàng Hộ trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam, 1999” [2]; công trình nghiên cứu của GS Đỗ Tất Lợi trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 2004” [3]; Sách đỏ Việt Nam, 2007 [4]; cuối năm 2007 ghi nhận đƣợc 7 loài Tế tân; năm 2012 Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự bổ sung thêm 2 loài mới, đến năm 2017 Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự tiếp tục bổ sung thêm loài mới là Tế tân Yên Tử, nhƣ vậy đến năm 2017 Việt Nam ghi nhận 10 loài Tế tân, phân bố ở các tỉnh nhƣ Lai châu, Cao B ng, Ba Vì - Hà Nội, Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Sapa - Lào Cai, Hà Giang, Đảo Cát Bà - Hải Phòng, Hà Tĩnh, Yên Tử - Quảng Ninh.
Các loài Tế tân ở nƣớc ta gồm có Tế hoa blume – A. blumei Duch, đƣợc Duch mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1864: tên gọi khác là Biến hóa Blume [5 ; Thổ tế tân – A. caudigerum Hance, đƣợc Hance mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1881: tên gọi khác là Tế tân, Biến hóa, Quán chì; Biến hóa núi cao – A. balansae Franch, đƣợc Franch mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1898: tên gọi khác là Tế tân nam, hoa tiên [5]; Tế tân Pételot – A.Schmidt mô tả khoa học đầu tiên năm 1931: tên gọi khác là Tế tân Pételot [5]; Hoa tiên – A.
glabrum Merr, tên đồng nghĩa A. maximum Auct đƣợc Merr mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1942: tên gọi khác là Trầu tiên, Dầu tiên, Đại hoa tế tân [2]; Tế hoa mạng – A. reticulatum Merr, đƣợc Merr 5 mô tả khoa học đầu tiên năm 1942; Vũ Linh Tế tân – A. wulingense Liang đƣợc C.Liang mô tả khoa học đầu tiên năm 1975; A.
Fischer và Tế tân Vân Nam – A. Cheng bổ sung năm 2012 [6], [7] và Tế tân Yên Tử - A. Tuan và cộng sự mô tả khoa học năm 2018 [8]. Trong đó có 3 loài n m trong sách đỏ, đó là A.
balansae Franch là cây thuốc dạng quý hiếm, thuộc phân hạng nguy cấp EN 1c,d, B1+2b,c đang đứng trƣớc một nguy cơ rất lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong một tƣơng lai gần, theo quan sát đã suy giảm ít nhất 50 %; A. caudigerum Hance và A. cũng là cây thuốc dạng quý hiếm, thuộc phân hạng nguy cấp VU 1a,c,d, và VU 1c,d tuy chƣa phải là rất nguy cấp nhƣng trong một tƣơng lai gần sẽ đứng trƣớc nguy cơ lớn tuyệt chủng ngoài thiên nhiên và đã suy giảm ít nhất 20 % [4].1: Thứ hạng loài Asarum L. theo tiêu chuẩn IUCN trong “Sách đỏ Việt Nam”, 2007.
Theo báo cáo “Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm thuộc danh mục Nghị định 32/2006/NĐ-CP theo 6 vùng sinh thái” của Tổng cục Lâm nghiệp cuối năm 2010 thêm 2 loài Tế tân n m trong nhóm IIA: nhóm các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm đó là A. Bảng 1: Danh mục xếp hạng các loài Tế tân (Asarum L.) ở Việt Nam Nghị định Số Tên chi Tế tân Tên khoa học 32/2006 thứ tự ND-CP 1 Biến hóa núi cao A. balansae Franch IIA 2 Thổ tế tân A. caudigerum Hance IIA 3 Đại hoa Tế tân A.
glabrum Merr IIA 4 Tế hoa mạng A. reticulatum Merr IIA 5 Tế tân Pételot A. Schmidt IIA 6 Tế hoa blume A.