ĐẶT VẤN ĐỀ Theo kết quả các nghiên cứu khoa học cơ sở trên lãnh thổ Việt Nam, các nhà khoa học trong và ngoài nước đều có nhận định rằng Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố. Việt Nam còn được coi là một trung tâm đa dạng sinh học của khu vực Đông Nam Á nói riêng và Châu Á nói chúng. Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia mà thiên nhiên ban tặng. Chúng bao gồm nhiều loài, nhiều tầng thứ và trong mỗi loài khác nhau mang lại cho chúng ta những lợi ích khác nhau.
Những chức năng như cung cấp lâm sản, bảo vệ môi trường sinh thái, nơi lưu trữ nguồn gen chúng còn cung cấp thực phẩm, nước, thuốc men, và giảm thiểu các nguy cơ gây biến đổi khí hậu. Những ngày nay với các hoạt động của con người đang dần làm cho nguồn tài nguyên quý giá bị suy giảm. Do đó các nước trên thế giới đã và đang cùng nhau chung sức để bảo vệ các nguồn gen đang có. Theo thống kê của các tổ chức quốc tế hiện nay trên thế giới có khoảng 380.000 loài thực vật trong đó 1/5 số loài đó đáng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.
Việt Nam là một quốc gia nằm ở cùng nhiệt đới, có nhiều điều kiện cho các loài thực vật phát triển. Theo thống kê hiện nay Việt Nam có khoảng 13.000 loài thực vật. Nhưng ở nước ta do phải chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, hậu quả do chiến tranh, sự da tăng dân số, nạn khai thác trái phép nguồn tài nguyên đang ngày càng làm cho diện tích các khu rừng bị thu hẹp làm cho tích đa dạng sinh học bị suy giảm. Hiện này các nhà khoa học nước ta đã và đang nghiên cứu về từng họ thực vật để từ đó đưa ra được các biện pháp cụ thể để bảo tồn loài.
Chi Sung - Ficus Họ Dâu tằm (Moraceae) cũng là một trong những đối tượng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học. Đây là nhóm thực vật cung cấp rất nhiều lợi ích cho con người như: cây ăn quả, cây cảnh và đặc biệt là cây thuốc chữa một số bệnh như: quả phức của cây Sung cong (F.) dùng làm thuốc phong thấp; rễ cây Vú bò (F. hirta Vahl) chữa bế kinh, bạch đới, ít sữa; tua rễ của một số loài như Đa búp đỏ (F.) được dùng làm thuốc lợi tiểu trong trường hợp xơ gan cổ trướng. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về các loài trong chi Sung - Ficus họ Dâu tằm (Moraceae), tuy nhiên vẫn còn nhiều vùng, nhiều địa phương nghiên cứu về họ này còn ít.
Từ những lời ích mà các loài trong chi Sung “Ficus” họ Dâu tằm (Moraceae) mang lại, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đa dạng các loài trong chi Sung (Ficus) họ Dâu tằm (Moraceae) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội” để góp phần đánh giá tính đa dạng, bảo tồn và phát triển các loài trong chi Sung - Ficus họ Dâu tằm (Moraceae) ở VQG Ba Vì. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu thực vật Việt Nam Ở Việt Nam lịch sử phát triển môn phân loại thực vật phát triển chậm hơn so với các nước trên thế giới. Thời gian bắt đầu chỉ có các nhà nho, thầy lang sưu tập các cây có giá trị làm thuốc chữa bệnh như Tuệ Tĩnh (1623-1713) trong 11 quyển “Nam dược thần hiệu” đã mô tả được 759 loài cây thuốc, Lê Quý Đôn (thế kỉ XVI) trong “Vân Đài loại ngữ” 100 cuốn đã phân ra cây cho hoa, quả, ngũ cốc.
Lê Hữu Trác (1721-1792) dựa và bộ “Nam dược thần hiệu” đã bổ sung thêm 329 vị thuốc mới trong sách “Hải thượng Y tôn tâm linh” gôm 66 quyển. Ngoài ra trong tập “Lĩnh nam bản thảo” ông đã tổng hợp được 2.850 bài thuốc chữa bệnh. Nguyễn Trữ (đời nhà Lê) trong tác phẩm “Việt Nam thực vật học” cũng mô tả được nhiều loài cây trồng. Lý Thời Chân (1959) xuất bản “Bản thảo cương mục” đề cập đến trên 100 vị thuốc thảo mộc.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực vật rừng nước ta được M. Lecomte – Nhà thực vật học người Pháp – đã nghiên cứu và công trình ông để lại cho đến nay vẫn hết sức giá trị, đó là bộ sách “Thực vật chí Đông Dương” (Flore général de L’indo-chine), ông cùng một số nhà thực vật người Pháp biên soạn (1907- 1951) gồm 7 tập. Trong công trình này các nhà thực vật người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Năm 1965, Pocs Tấm đã thống kê ở miền Bắc có 5190 loài và năm 1969, Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5609 loài với 1660 chi và 140 họ xếp theo hệ thống của Engler.
Song với sự thống kê đó ở miền Bắc từ 1969-1976, Lê Khả Kế (chủ biên) đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập đã mô tả rất nhiều loài thực vật có mặt ở Việt Nam và ở Miền Nam, Phạm Hoàng Hộ trong tập 2 “Cây cỏ ở Miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5326 loài. Thái Văn Trừng (1963-1978) trên cơ sở “Thực vật chí Đông Dương” đã thống kê được hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực 3 vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 298 họ. Thái Văn Trừng có riêng cho mình tập sách “Thảm thực vật rừng Việt Nam”. Năm 1997, Phan Kế Lộc, Lê Trọng Cúc đã công bố 3858 loài thuộc 1394 chi, 254 họ trong cuốn “Thực vật Sông Đà”; “Đa dạng thực vật có mạch vùng cao Sa Pa Phansipan” của Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2024 loài thực vật bậc cao thuộc 771 chi và 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa – Phansipan.
Năm 2000, Nguyễn Nghĩa Thìn đã đánh giá tính đa dạng tính đa dạng khô hạn núi đá vôi của một số vùng ở Việt Nam. Năm 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô đã công bố cuốn “Đa dạng khô hạn thực vật VQG Bạch Mã”. Khi công bố cuốn “Đa dạng thực vật ở VQG Pù Mát”, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn dã công bố với 1251 loài thuộc 604 chi và 159 họ. Dựa trên những công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã công bố, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê toàn bộ hệ thực vật Việt Nam bao gồm 11373 loài thực vật bậc cao trong đó có 10580 thực vật bặc cao có mạch.
Lê Trần Chấn (1999) với công trình “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam” đã công bố 10440 loài thực vật. Đối với mỗi miền có những tác phẩm lớn khác nhau như ở miền Nam Việt Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974), trong đó tác khí hậu, chế độ thoát nước khác nhau. Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật đã xuất bản giả đã chỉ rõ những tiêu chuẩn để phân biệt các quần xã khác nhau là sự phân hóa bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên và ở miền Nam Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) cũng cho ra đời công trình đồ sộ 2 tập về “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, trong đó giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu, còn lại là 5246 loài thực vật có mạch, và sau này là “Cây cỏ Việt Nam”. Ngoài ra, còn rất nhiều các bộ sách chuyên khảo khác, tuy không tách riêng cho vùng Tây Nam Bộ nhưng cũng đã góp phần vào việc nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra qui hoạch, 1971-1988), Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 4 1990), Cây tài nguyên (Trần Đình lý và cs, 1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà, 1997), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn chi và Trần Hợp, 1999), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002),.
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu để phục vụ cho công tác bảo tồn các nguồn gen, các nhà thực vật học Việt Nam đã cho xuất bản cuốn “Sách đỏ Việt Nam” năm 1996 với 356 loài quý hiếm ở Việt Nam và chúng được sửa đổi và bổ sung 2007 với số lượng 464 loài, tăng 108 loài đang bị đe dọa ngoài thiên nhiên. Cùng năm đó Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam còn hoàn thành việc soạn thảo Danh lục đỏ Việt Năm 2007. Gần đây Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng đã xây dựng và biên soạn được 11 tập chuyên khảo đến họ riêng biệt. Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu về thực vật của Việt Nam.
Hiện nay, các nhà khoa học các nhà khoa học đang đi theo hướng là nghiên cứu các họ thực vật dưới dạng thực vật chí. Đây đều là những tài liệu quan trọng nhất để làm cơ sở đánh giá thành phần loài của hệ thực vật Việt Nam một cách đầy đủ. Tình hình nghiên cứu về chi Sung - Ficus họ Dâu tằm (Moraceae) 1. Trên thế giới Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về họ Dâu tằm trên thế giới.
Các công trình đã xuất hiện từ rất sớm: - Các họ thực vật có hoa của L. Watson và MJ Dallwitz,ông đã mô tả khá chi tiết về các chi trong họ Dâu tằm trong đó có chi Sung - Ficus. 507-515, và Stegnospermaceae, tr. (chủ biên), Các gia đình và các loại thực vật mạch máu.
Cây có hoa: Dicotyledons, Magnoliid, Hamamelid và Caryophyllid gia đình. Hình thái học của một số loài Moraceae và Cecropiaceae (Urticales). 5 - Judd Walter S ; Campbell Christopher S; Kellogg Elizabeth A. và Donoghue Michael J.
(2008): Hệ thống học thực vật: Cách tiếp cận phát sinh loài.; Morawetz Jeffery; Pires J. Chris; Nepokroeff Molly; Conti Elena; Zjhra Michelle; Hall Jocelyn C. và Chase Mark W. (2002): Các loài Urticalean rosids: Circumscription, dòng họ rosid, và phát sinh loài dựa trên chuỗi rbcL, trnL-F và ndhF.
Tạp chí Thực vật Hoa Kỳ 89: 1531-1536. - Phân tử và Sự tiến hóa 37: 402-416 Datwyler Shannon L. (2004): Về nguồn gốc của vả: mối quan hệ phát sinh loài của Moraceae. Bảy mươi bảy cách để là một cây sung: Tổng quan của một tập hợp các nhà máy đa dạng.
(chủ biên), sinh thái gây ô nhiễm và rừng mưa. Sinh thái học tiến hoá của cây sung và các cộng sự của chúng. Sự khác biệt về sắc thái giữa các chi của họ Moraceae và ý nghĩa đối với khoa học cổ tử ở Amazon.